talawas chủ nhật

 
Văn xuôi :: 27.08.2006
Đỗ Phước Tiến Thơ chọn lọc
Khe Iem

Đối với những độc giả văn học trẻ hiện nay, hai chữ “Khế Iêm” khiến họ lập tức nghĩ ngay đến Tân Hình Thức, như thể Khế Iêm chưa bao giờ từng làm những thể thơ khác vậy. Dĩ nhiên điều đó không đúng. Bởi trước khi tìm đến, được thuyết phục và kiên định bảo vệ và truyền bá kiểu thơ này, vị “chủ soái” của Tân Hình Thức đã từng thể nghiệm nhiều hình thức thơ khác: thơ vần điệu, thơ tự do, thơ hình thể…

talawas chủ nhật kì này xin giới thiệu một chùm thơ chọn lọc của Khế Iêm, gồm những bài thơ lẻ qua các giai đoạn tìm tòi của tác giả.

talawas chủ nhật

Khế Iêm

Thơ chọn lọc

THƠ VẦN ĐIỆU

(trích từ tập Thanh xuân)

Tự ca

Mở mắt

Nhấp nháy nghi, hồn nhiên

Rơi trên thềm, ruộng đồng chảy mật

Chưa bao giờ nước và đất thành bùn

Chưa bao giờ điêu linh là mộng

Ta khởi từ đời thật có

Chạy đi rồi về gió tất tưởi

Chiều xa chôn hờ thây ngoài non

Đợi nhau từng giờ bướm thổn thức

Dừng lại con quay quẻ may rủi

Dắt tay bước qua cầu nước mắt

Thở dài

Cười

Tiếng hùng hổ

Nhè nhẹ rừng lời buông bông lơn

Nhát cuốc

Cỏ, hẳn nhiên chết

Cho nhanh ngày mầm héo xơ xác

Vay trả ngàn kiếp muôn biến đổi

Ta ca thiêm thiếp quê mùa thơm.

Xuân tù

Gửi TPK

Lửa mắt, hôn tóc sao

Chảy và khóc

Lời kinh mưa

Như trái tim kịch, lòng co quắp

Như bất ưng chiều run phiêu linh

Như chim bay qua rừng hát huyên náo

Ta, sâm thương nguồn gió đau đớn

Bên quán xưa men rượu còn chờ

Thây man di có tiếng hờn oán

Sông cuối sông về, hoa tinh mơ

Ngăn ngắt quanh ngực núi càn rỡ

Khuya liếp tranh hồn quê siêu sinh

Ta cắn răng cùng đá gầm rú

Trong nước trôi ngoài trăng lân tinh

Soi, bỗng nhiên dòng nỗi lam lũ

Đang cuốn đi từng cơn phiếm du

Thiêm thiếp hơi gặm miếng tình cũ

Bao phế hưng ta mùa xuân tù.

THƠ TỰ DO

(trích từ tập Dấu quê)

Cà phê

gác mái

con đò không

giả dụ vậy

ẩn dụ lời

đừng đùa bỡn với ký ức

nóng nảy

đã đến lúc phải chôn sống

cả hơi thở

tí tách

giọt cà phê rơi

Chợ trời

bụi bậm

ngổn ngang nắng gió

thở chút hơi ngày hát cuồng

nghe ngóng

phế thải cả

xao xác, xao xác

chim muông bay

coi chừng hoàng hôn

đóng cửa lại

Dấu quê

phà vào lũ mục

tử bằng đất nung

với tay nhón cái phôi

pha với khói

tí tách

con mắt góc xếch

mé trong thế giới hai mặt một lời

(ai ở ngoài lời)

vẽ lại hình dạng đã thành quen

thói

phẩy con đường làm đôi

không biết lối nào có dấu quê

cũ

Kịch một ngày

bình minh

(lại bình minh)

nhắc tới là sôi ruột

mồi điếu thuốc

không cháy

chắc lưỡi

đằng nào cũng đã bị mắc bẫy

hiên mưa

hiu quạnh quá

khán giả đâu

ở ngoài kia kìa

màn

THƠ GRAPHIC

(trích từ Tạp chí Thơ)

Đọc “Chinh Phụ Ngâm”

THƠ TÂN HÌNH THỨC

(trích từ Tạp chí Thơ)

Tân hình thức và câu chuyện kể

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề

đường và kể lại câu chuyện đã được

kể lại, từ nhiều đời mà đời nào

cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và

đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được

gọi là chỗ chết, nơi góc phố được

gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen; gãy góc, xấu xí như

cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ

nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như

thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng

nhưng người đàn bà và đàn con nheo

nhóc, vẫn kể lại câu chuyện đã được

kể lại, như người khác đã từng kể

lại, dù chẳng để lại gì ngoài câu

chuyện đã kể, bởi câu chuyện đang tự

kể lại, và không ai, ngay cả người

đàn bà và đàn con nheo nhóc, bước

ra ngoài câu chuyện đã được kể lại.

Cái hộp

Những rác rưởi ở ngoài lề đường, những

giẻ rách ở ngoài lề đường, những cái

hộp phế thải ở ngoài lề đường, đó

là điều không thể chối cãi, và không

thể hồ nghi; nhưng tôi sắp nói những

điều tôi sẽ nói, như tôi cứ nói

những điều tôi đã nói, rằng tôi chật

chội, chật chội trong cái hộp phế thải,

như tôi chật chội, chật chội ở ngoài

lề đường; nhưng tôi không thể nào bước

ra ngoài cái hộp, và cái hộp cũng

không thể nào bước ra ngoài tôi; những

cái hộp đựng giày dép cũ, những cái

hộp đựng quần áo cũ, những cái hộp

toàn đồ lạc xon, những cái hộp vất

vưởng, những cái tôi vất vưởng; những cái

hộp kể chuyện đời cũ, những cái tôi

lập lại, kể chuyện đời cũ, những hình

ảnh cứ thế, hiện ra rồi biến mất,

những thực tại cứ thế, hiện ra rồi

biến mất, những tai ương cứ thế, những

hạnh phúc cứ thế, những thuở nào cứ

thế, và cứ thế, cứ thế, cứ thế;

những cái hộp bằng cát tông, giấy dầu,

nhựa dẻo, những cái tôi bằng cát tông,

giấy dầu, nhựa dẻo, như rác rưởi, giẻ

rách ở ngoài lề đường, tan tác như

thế, lôi thôi như thế; nhưng tôi sắp

nói những điều tôi sẽ nói, như tôi

cứ nói những điều tôi đã nói, mặc

dù, thà có hơn không, đó chẳng phải

là những điều tôi muốn nói.

Người đàn bà

Người đàn bà ngủ với người đàn ông

không phải chồng của mình, trong căn phòng

không phải căn phòng của mình, với cái

tôi không phải cái tôi của mình, vào

buổi tối không giống buổi tối nào (vào

buổi tối không khác buổi tối nào), giữa

nhà ga đầy muỗi mòng và nước đái

ngựa, nhai lại bất cứ thứ gì có

thể nhai lại, bôi xóa bất cứ thứ

gì có thể bôi xóa, ném vào đống

đồ đạc cũ, mảnh báo cũ, kể về

nỗi nhọc nhằn đồi trụy; xỏ chân vào

đôi guốc mộc, và bước qua ngưỡng cửa,

để đi tìm người chồng nơi những người

đàn ông không phải chồng của mình. Biết

thế thì. Thôi thế thì. Người đàn bà

đánh mất quá khứ, hay quá khứ đã

tàn phai, thất thiệt, từ hàng trăm năm

trước, rằng đã có một thời, đã có,

“một thời áo trắng xa xôi”. Người đàn

bà quay gót, trở về căn phòng không

phải căn phòng của mình, với cái tôi

không phải cái tôi của mình, dửng dưng,

như sự thật chẳng bao giờ có thật.

———————

* “Một thời áo trắng…”: Lời nhạc của Trầm Tử Thiêng

Chiếc ghế

Những chiếc ghế không cùng một màu,

những chiếc ghế không dùng để ngồi,

những chữ ghế, không phải là ghế;

những chiếc ghế có thể sờ được,

những chiếc ghế có thể gọi tên,

những chiếc ghế đúng ghế, không phải

là ghế; những chiếc ghế không bao

giờ vẽ được, những chiếc ghế không

bao giờ nói được, những chiếc ghế

không bao giờ có được, bởi những

chiếc ghế không bao giờ biến dạng,

những chiếc ghế không bao giờ mất

đi, những chiếc ghế không hiện diện;

những chiếc ghế, ôi chao, chỉ là

nó đó; những chiếc ghế, ôi chao,

không cùng một màu, những chiếc ghế,

ôi chao, không dùng để ngồi; những

chiếc ghế không ở đâu xa, những

chiếc ghế ở ngoài mọi điều; những

chiếc ghế chỉ là chiếc ghế.

© 2006 talawas

Khế Iêm sinh năm 1946 (khai sinh 1947) tại Lê Xá, Vụ Bản, Nam Định. Học Luật tại Sài Gòn. Hiện sống tại Mỹ. Sáng lập và chủ biên Tạp chí Thơ tại California từ năm 1994-2004.

Tác phẩm: Hột huyết (kịch, Sàigòn 1972), Thanh xuân (Thơ, California 1992), Lời của quá khứ (Truyện, California 1996), Dấu quê (Thơ, California 1996), Tân hình thức, Tứ khúc và những tiểu luận khác (Tiểu luận, California 2003).