talawas chủ nhật

 
Văn xuôi :: 15.01.2006
Đỗ Phước Tiến Ác mộng
Hoang Hung
Nhà thơ Hoàng Hưng
ảnh: Dương Minh Long

Thơ của Hưng làm tôi nhớ đến những tiểu thuyết hư cấu mang tính hiện sinh. Chúng xảy ra trong một thời gian rất rõ nhưng cũng có một tính cách phi thời gian. Nhiều năm tháng được nén lại trong một bài thơ trữ tình ngắn nói về mất mát và đau khổ. Con người đau khổ có thân xác và kinh nghiệm cụ thể, nhưng theo một nghĩa khác, cũng là một gương mặt tiêu biểu. Tôi nghĩ đến cuốn tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát của tác giả Nhật Bản Kobo Abe. Một ngày nọ có một người đàn ông trượt chân thụt xuống một vực cát trong khi đang bước đi giữa sương mù ở một nơi xa xôi. Thế rồi ông ta trở thành chồng của một trong số nhiều người đàn bà của cồn cát mà nghề nghiệp là xúc cát suốt đời. Thực vậy, ông ta đã tìm ra số phận của chính mình, không lay chuyển được, không thể nào thoát khỏi (và cuối cùng thì có lẽ ông không muốn thoát khỏi)…

Tôi không biết có bài thơ nào khác để so sánh với thơ Hưng. Bên dưới cái bề mặt bình thản, kể chuyện, thơ Hưng rất phức tạp và xúc động. Có lẽ trong đời thực, Hưng đã cảm thấy bị lưu đày giữa ngay xứ sở của mình và bị dời khỏi những hoàn cảnh sống và làm việc của chính mình.

(Trích thư của Paul Hoover, nhà thơ Mỹ, Chủ biên Tạp chí New American Writing, gửi Tom Nawrocki, GS Khoa Ngữ văn Trường Columbia College Chicago, tháng 1.2003)

Hoàng Hưng

Ác mộng

(Nhật ký – Thơ, 30 bài thơ 1982-1992)

Ta nung nấu nghìn đêm ác mộng
Đánh chìa vàng mở lối về em

VÀO

Vào

Cánh cửa sắt đen kịt

Đóng sầm sau lưng tôi

Bỗng ào ào náo loạn

Như một bể dầu sôi.

Những cái đầu trọc lốc

Vươn theo từng bước đi

Những bộ xương đen đúa

Bốc lên mùi tử thi.

A! Địa ngục là đây

Ta bắt đầu kiếp quỉ

Sao dễ dàng quá nhỉ

Chỉ một bước một giây

Bước qua cánh cửa này

Kiếp người đã xa lắc.

Giật mình nghe tiếng quát:

– Cởi hết áo quần ra!

17/8/1982

YẾU LÒNG

Bữa cơm đầu tiên

Nhai miếng cơm khô giữa nắng

Trệu trạo trong mồm nuốt khó trôi

Bạn giục ăn nhanh không người mắng

Bỗng nghẹn lưng chừng nước mắt rơi

Thôi thế từ nay đoạ kiếp rồi

Tin dữ bây giờ chắc tới nơi

Nhà ta đau đớn chừng nào nhỉ

Tối sầm trước mặt bát cơm rơi

Chiều

Một dãy tường cao bóng đổ dài

Chú chim ngơ ngác gọi tìm ai

Chiều tù như muốn dài vô tận

Vòi nước ngoài kia cứ chảy hoài

Mơ lạc mất con

Nửa đêm mơ lạc mất con

Tiếng kêu thảng thốt lệ tuôn áo tù

Bàng hoàng biết thực hay mơ

Bừng con mắt dậy nát nhừ ruột gan.

Nửa đời sự nghiệp tan hoang

Con là còn lại với ngàn năm sau.

Trời ơi xin chớ hại nhau

Cha xin gánh hết thương đau kiếp này

Xin trời đừng cướp trên tay

Cho tôi sống nốt những ngày chờ trông

Bao giờ

Thạch thùng tặc lưỡi trên cao

Phòng giam lạnh lẽo chìm vào cõi đêm

Nhà ta giờ đã lên đèn

Bữa cơm giờ chắc đã quen thiếu người

Ta nghe tiếng mắng tiếng cười

Thằng cu nghịch xới cả nồi cơm tung.

Trời ơi sao nhớ quá chừng

Bao giờ tới bữa ngồi trông con đùa

Ngồi đây biết đến bao giờ

Trùm chăn ta đợi cơn mơ đưa về

Sáng mồng Một Tết

Đang vui tíu tít hàn huyên

Tỉnh ra trơ trọi giữa nền xi măng

Trời mồng Một đã vào song

Đã ho hắng cả mấy phòng gần xa.

Cách tường có cậu cười qua:

Được một bữa thịt đêm ra đầy quần!

Tiếng cười cả xóm rân rân

Như quên hết cả một năm đoạ đầy

Gần đất xa trời

Đêm em về trắng toát thời thơ ấu

Đêm mẹ về chẳng nói lại đi

Ở đây gần đất xa trời

Ngủ là sum họp với người cõi âm

Tỉnh ra là chết âm thầm

Xi măng lạnh, mấy chứng nhân thạch thùng

Giã biệt

Tôi lại quay trở lại

Thế giới bốn thước vuông

Có ăn ngủ ỉa đái

Có giận hờn ghen tuông.

Xa lạ quá mất rồi

Phố xá như trong mộng

Người trên đường như nộm

Cứ trân trân nhìn tôi.

Cả em nữa em ơi

Như thuộc về cõi khác

Hụt hẫng phút hàn huyên

Anh ôm em ngơ ngác.

Và xin em chớ giận

Khi nhìn thấy gói quà

Anh muốn ngay lập tức

Quay lại chỗ vừa ra

Để run run mở gói

Hau háu mắt bạn tù

Đêm nay là đêm hội

Cơm muối trắng như mơ.

Thôi em về đi nhé

May em không khóc oà

Quay lưng con bỗng thét

Giờ mới nhận ra cha.

Anh cúi đầu bước vội

Thầm nói em đừng chờ

Tôi lại quay trở lại

Thế giới của tôi đây

Em chỉ là giấc mộng

Bên trên khối mộ dầy

PHẢN THẾ GIỚI

Đêm trắng

Đứa giết người mắt trắng dã

Ca một khúc vọng cổ não nề

Lão làm thuốc tây giả

Run run nhặt từng hạt cơm thiu

Thằng nhóc “cắt bom” ga Hàng Cỏ

Sằng sặc bóp cổ tên hiếp trẻ con

Ba thằng buôn cơm đen

Ngồi nhìn ông cựu bí thư nhảy múa

Vào mà xem

Trong nhà “mét”[1]

Đám cưới thằng khoèo lấy thằng thọt.

Lại mà xem

Hai thằng ăn cướp

Bắt chấy cho nhau

Đêm hãi hùng

Ta ở đâu đây

Đêm không chợp mắt chờ sáng

Sàn xi măng vảy ghẻ rụng đầy

Gọi

Tôi gọi giữa đêm. Gọi tiếng xe ngoài đường gọi gió gọi mùi hương gọi ba la bông lông sải cánh con chim dài hai thước gió đánh nhằng nhịt tái tê bầu trời lụn bại. Tôi gọi giữa đêm. Xác xơ chân tóc căng ấn đường tôi gọi. A ha! Nhảy nhót, nghiến răng, xóc lọ. Thổi tắt phụt ngọn đèn trăm nến. Nhắm mắt và mơ đi. Mảnh sân hẹp, tiếng đàn bà xối nước, một củ hành tươi. Có thế thôi. Không không không tôi chán lắm rồi. Chán “điểm”[2], chán bắt rận, chán đọc rõ số giam. Nửa đêm tôi gọi mộ huyệt âm vang. Tự do! Mi ở đâu?

Những mảnh mộng

Chạy cuồng chân đồng đất đỏ ngầu, lửa sắt toé tung, mưa máu. Thằng bé xoè tay xin chó đá. Mài đầu rên xiết. Hồn kinh.

Chim đen bậu kín mặt nhà thờ. Pháp sư rán bánh. Róc rách suối hoa vàng nở. Mắt cá trừng trừng trong lưới mông mênh.

Em ơi mộng mị trần truồng góc tối. Vút đài cao ngăn ngắt trăng xa. Bãi biển oằn oài vũ nữ quay tít. Em không nói khoá trái nhà hoang dắt tay nhau về vô tận. Ngày nhật thực bảy mặt trời vần vụ. Gió dậy đồng không nơi ẩn náu.

Không đề

1.

Thần trí vùng lên đáy huyệt rùng rùng. Tắt lịm, u mơ, nhoà toả. Lấp loá vàng son vỗ nhịp. Đìu hiu.

2.

Thân thể nát như tương. Kiệt quệ lời ca khật khùng râu tóc. Co quắp nằm chịu trận. Sắt xầm, ngực nghẹn, u âm.

3.

Xóm xà lim mìn mịt mặt người, ú ớ gọi kêu cào vách đêm thăm thẳm. Thông thống vào lòng nhân loại tối đen. Quì khóc mắt ráo hoảnh.

Buổi trưa

Sau một cơn động đất xa

Chói chang ngực rộng mây bay về khát khát

Cây đá đổ vách trần xiêu lao đao bốn mặt

Ai gọi rất xa

Chờ ta!

Chờ ta bùng nổ!

Chiếc lá bàng

Những đôi mắt âm thầm

Rõi qua khe cửa

Bao giờ rụng chiếc lá bàng cuối cùng?

Sẽ rụng đêm nay

Khi gió bấc nổi

Không. Nó sẽ còn đeo đẳng mãi trên cây

Dai như kiếp sống đoạ đầy

Trong giấc ngủ màu máu

Chiếc lá bàng mênh mông

Thức dậy không còn lá

Bầu trời tím thâm

Bỗng rùng mình kiệt quệ

Như vừa ra đi giọt máu cuối cùng

Cái chết

Nghe tác phẩm

Những con rận đã bỏ anh đi hết

Anh chết

Trong đêm

Miệng trắng thuốc đánh răng

Đã bảo mãi anh rằng

Đói đến mấy cũng đừng ăn thuốc đánh răng

Tấm thân thước bảy

Còn tấm giẻ hôi

Cũng là xong nhỉ

Ân oán một đời

Những con ruồi bay đến

Chán nản

Nghe tác phẩm

Như chỉ còn một ấm ức

Phân tích mùi hành lang mốc meo thăm thẳm

Như chỉ còn một mạo hiểm

Nhìn vói qua mái nhà chằng chịt thép gai

Như chỉ còn một thú vui

Ôn lại những giấc mơ dị kỳ chắp vá

Như chỉ còn một ao ước

Thấy mặt người cách tường trò chuyện

Như chỉ còn một lời nguyện

Kiếp sau đừng biết cuộc đời tự do

Chiều cuối năm

Chạng vạng hồn ta u âm mộ huyệt răng thép răng đá ngả ngả xiêu xiêu. A! Trần nặng tường dày. Còn gì nữa? Con rệp đốt con muỗi bay con tắc kè thè lưỡi, lưới thép gai chim trời không xuống đậu để mình ta vòi vọi dõi tầng không. Đập đầu cửa sắt chân lún xi măng ăn đái ỉa nằm ngồi hàng thế kỷ, ằng ặc chiều đông cắt tiết bầu trời. A! Nát nhừ số mệnh bàn tay!

Thạch thùng

Nghe tác phẩm

Đôi thạch thùng trên trần xà lim, trắng hồng, trong trong, bên ngọn đèn ấm áp. Chúng làm sao biết chốn này tù ngục. Chúng đâu thèm quan tâm một người suốt ngày đêm nằm ngửa nhìn chúng khoả thân yêu nhau. Chúng đâu biết đêm nay đêm đông cắt da cắt thịt. Trắng hồng, trong trong, chúng lặng lẽ yêu nhau bên ngọn đèn toả hơi xuân. Ngọn đèn tù ngục. Nếu con người khoả thân không hổ thẹn. Nếu con người yêu nhau hồn nhiên dưới mặt trời. Như thạch thùng. Thì có lẽ không có tù ngục. Phải không nhỉ thạch thùng

– Thạch. Thùng.

Cách bảy lần tường

Cách bảy lần tường

Có con mương nhỏ

Mùi bùn chiều mưa

Có con đường làng

Ngây ngây xoan tím

Cách bảy lần tường

Tiếng cười vụt qua

Một trưa rất ròn

Sau bảy lần tường

Có người đêm đêm

Mắt mở trừng

Nghe sấm chạy

Một hôm

Có cánh hoa xoan

Vào thăm người ấy

Bàng hoàng người ấy

Nhặt cánh hoa xoan

Chuyện chỉ có vậy

Sau bảy lần tường

Nửa đêm

Cứ nửa đêm choàng dậy

Vì giọng hát ồ ồ

Bao giờ cũng một câu thôi:

Trời hãy cứu giúp tôi!

Lòng đất vọt ra?

Lưng trời rót xuống?

Xuyên bảy lần tường

Cõi nào vọng lại?

Tất cả choàng dậy nghe

Rồi lục tục nằm lại

Người ngáy tiếp

Người trằn trọc

Người rấm rứt

Ta cứ ngồi bó gối

Câu hát dội từ ngực xuống chân

Từ chân lên đầu

Âm âm trong tóc.

Chỉ một câu thôi:

Trời hãy cứu giúp tôi!

Chỉ một câu thôi

Vào lúc nửa đêm

Trái đất trở mình giữa bầu trời tối đen

Một ngày

Nghe tác phẩm

Nhớ đôi bạn tù trẻ tuổi ở T. L.

Buổi sáng lanh canh

Em ca cốc rộn ràng

Lại bắt đầu một ngày bên nhau

Chào em cô hàng xóm vô hình

Rồi mở cửa

Thay bô

Đóng cửa

Rồi mở cửa

Đi cung

Giữa hỏi đáp

Ú tim

Mèo chuột

Vẫn lởn vởn một bóng dáng vô hình.

Rồi về phòng

Mở cửa

Đóng cửa.

Rồi mở cửa

Cơm

Đóng cửa

Mời nhau bằng lanh canh bát đũa

Ta cùng ăn qua vách bữa cơm tù

Sau tiếng nước rửa bát phút im lặng thiêng liêng trước giờ em tắm.

Rồi róc rách dè dặt em kỳ cọ cố nhẹ nhàng như xấu hổ anh hết nóng bừng lại lạnh toát trong ngừng thở

Em phơi áo vù con chim bay lên

Rồi mở cửa

Tự khai

Sa mạc giấy

Lạc đà chữ

Chỉ vẩn vơ một bóng dáng vô hình.

Rồi về phòng

Mở cửa

Đóng cửa

Rồi mở cửa

Cơm

Đóng cửa

Mời nhau bằng lanh canh bát đũa

Ta lại cùng ăn qua vách bữa cơm tù

Rồi nôn nao chờ bóng tối

Giờ của thông linh giờ của chúng mình.

Anh gõ trước nhé cạch cạch cạch em cạch cạch cạch anh cạch cạch/ cạch cạch cạch em cạch cạch/ cạch cạch cạch rồi anh xoa xạt xạt em xạt xạt anh xạt xạt xạt em xạt xạt xạt những tín hiệu không lời ríu rít dồn dập xoắn xuýt cuống quít.

Bức tường bốc cháy

Đêm bốc cháy

Những mảnh đêm rơi

Lả tả

Rã rời

Tiếng khóc nửa đêm

Là nhận dạng của em

Cô em mới đến

Em ở đâu vào?

Em từ dãy nào qua?

Em tội gì?

Em ở đây đã bao lâu?

Không có tiếng trả lời

Lát sau em hát

Bài hát tiếng Tàu

Tiếng Tàu ta đã quên từ lâu

Có cô quản giáo

Chuyện trò với em

Bảo hạt đậu của em đã mọc thành giá

Dặn em chải chấy

Mỗi ngày

Lát sau em bắt đầu

Hỏi gióng lên trời những câu vớ vẩn

Rồi tự trả lời

Rồi em lại nghêu ngao

Bài hát tiếng Tàu

Nhà ta xa xôi lắm

Nhà em còn xa hơn

Đường về hai đứa cùng mù mịt

Thôi thì cùng hát lên

Tiếng Tàu ta quên

Nhưng bài hát Tàu ta nhớ

Hát đến mệt nhoài thì đi ngủ

Nửa đêm chợt tỉnh

Nghe tiếng khóc tỉ tê

Ta ngồi như chết

Tường cao bốn bề

Chạy

Chạy một mình

Trong bóng tối

Chạy co đầu gối

Chạy vã cô đơn

Chạy quên sợ hãi

Mồ hôi mặn

Rít qua kẽ răng.

Chạy một mình

Ảo tưởng sống

Nghe tiếng chân mình

Âm âm xi măng.

Chạy một mình

Run đầu gối

Chạy từ đói

Đến hết muối.

Chạy một mình

Lê không nổi

Chạy đỉnh núi

Toạc bàn chân

Chạy trong bùn

Chân bị trói

Chạy một mình

Trong bóng tối

Bỏ quên tôi

Cả thế giới.

Trái đất ngủ

Một mình tôi

Chạy tại chỗ

Thình thình thình

Tim tôi gõ

Ai nghe ai nghe

Ai vào cắn cổ

Ai đá lăn chiêng

Mắt nhắm nghiền

Tôi cứ co

Đầu gối

GIẢI MỘNG

Cầu vồng

1.

Sững sờ lặng ngắt

Anh nắm chặt tay em.

Không anh không chui qua đâu

Sợ bước chân đi

Cấm kỳ trở lại

2.

Cầu vồng chắn cơn mưa

Cầu vồng chắn cơn mơ

Cầu vồng mở

Vùng trời mù mờ

3.

Cầu vồng mống cụt

Anh trèo chơi vơi

Đến lưng chừng trời

Thì ngã

4.

“Muốn giữ đầu lên cầu mà đứng

Đi đến gần thì bưng lấy đầu”
[3]

E đến khi mình chết

Chưa giải được lời mơ

Hỏi toà nhà đá

Nuốt bao nhiêu tiếng khóc tiếng rên la

Sao mày lặng câm thế?

Hút bao nhiêu hơi thở hổn hển

Sao mày lạnh lẽo thế?

Giam hãm biết bao nhiêu cuộc đời

Sao mày cứng rắn thế?

Ủ bao nhiêu hy vọng

Sao mày u tối thế?

Con nhân sư thế kỷ hai mươi

Không bao giờ trả lời

Chớp mắt

Nghe tác phẩm

Một vuông tường một thế giới

Một giấc ngủ một đời người

Đêm vượt đèo

Nhắm mắt cho đầy bóng tối

Tiếng xe gằn giọng vượt đèo

Tiếng mõ kinh mùi nhang khói

Chiếc quan tài đi cheo leo.

Trời ơi sương mù mất lối

Chẳng biết hồn lạc về đâu

Chỉ còn ánh đèn vòi vọi

Đêm đêm em thắp nguyện cầu

Những ác mộng của em

Con đường này em đã đi

Bên vực thẳm bên tường cao chất ngất

Mỏm núi này em đã đứng

Bó tay nhìn ngựa trắng cùng đường

Em đã bay kiệt sức

Không kịp lấy bùa cứu anh

Sợ quá những giấc mơ cứ thành sự thật

Đêm không dám ngủ mắt như đèn

Bất hạnh cần gì biết trước

Hay Trời cho đau khổ dần quen?

Bao giờ thì em hết ác mộng?

Bao giờ ác mộng sẽ tan theo bóng đêm?

Bao giờ ác mộng chỉ là ác mộng

Của anh và của em?

Người về

Người về từ cõi ấy

Vợ khóc một đêm con lạ một ngày

Người về từ cõi ấy

Bước vào cửa người quen tái mặt

Người về từ cõi ấy

Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy

Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui

Hai năm còn mộng toát mồ hôi

Ba năm còn nhớ một con thạch thùng

Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối

Một hôm có kẻ nhìn trân trối

Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi

Giật mình
một cái vỗ vai

Mùi mưa hay bài thơ của M.

Tất cả nước mắt loài người bao vây nhà ta

Nằm bên anh em kể câu chuyện buồn

Chôn sâu trong lòng giờ mới nói ra

Gợi ý của trận mưa chưa từng thấy

Đã một nghìn đêm mưa trắng đêm

Điên cuồng nhớ mùi anh như con bò cái nhớ mùi phân rác

Anh đánh mất mùi anh trên những sàn đá lạ

Chỉ còn mưa mùi nước mắt đêm

Em còn yêu anh không yêu đến đâu giận ghét đến đâu

Mười lăm năm lòng mình chưa hiểu hết

Mưa mưa ngập tầng trệt

Đưa nhau lên gác xép nằm nghe mưa sập mái tôn

Ước nằm nghe mưa rồi chết

Đêm 25/6/1992

Lời ngỏ

Thấm thoắt đã hai mươi năm kể từ cái ngày [4] tôi ngơ ngác xách gói “nội vụ” [5] khấp khởi bước ra khỏi cổng trại Thanh Cẩm [6] mà lòng còn chưa tin hẳn đó là sự thật. Cho đến khi, theo lời dặn của người quản giáo tốt bụng, rẽ vào nhà anh để ăn bữa cơm tự do đầu tiên sau hơn 39 tháng cơm tù [7] . Và được anh chỉ lối ra bến xe khách về ga Thanh Hoá. (Tôi xin ghi ơn anh cũng như một vài quản giáo ở Thanh Cẩm, biết tôi bị tù vô lý, đã đối xử một cách có tình người, xin lỗi là tôi không nhớ chính xác tên của những người ấy để nêu lên ở đây).

Đêm đợi tàu ở ga Thanh Hoá để về đoàn tụ với đại gia đình ở Hà Nội, giữa đám trẻ bụi đời mà tôi tự nhiên sáp vào theo một lựa chọn bản năng cho sự an toàn của mình, sự lựa chọn không thể giải thích bằng lý trí, có lẽ là đêm đầu tiên tôi không ác mộng. Có thể nói hơn một nghìn đêm sống trong các chỗ giam cầm khác nhau, từ trại tạm giam Hoả Lò, đến Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia ở ngoại thành Hà Nội, sau cùng là trại cải tạo Thanh Cẩm ở miền núi Thanh Hoá, hầu như không đêm nào tôi không gặp ít hay nhiều ác mộng, những ác mộng ngắn hoặc dài, là những mảnh vụn hay cả một câu chuyện. Phần lớn những ác mộng ấy, nếu không là lạc vào những cảnh giới hãi hùng thì cũng bao gồm cảnh mình bị rượt đuổi, bị bắt, hay bị giam cầm, hoặc vượt ngục mà không thoát… Có điều tôi có thể khẳng định là tôi chưa bao giờ mơ thấy mình bị đánh đập hay bị tra tấn!

Đêm tự do đầu tiên hình như tôi ngủ rất sâu, và tỉnh dậy không nhớ là mình có mơ thấy gì trong lúc ngủ hay không. Nhưng rồi về sau, cứ lâu lâu, tôi lại có những ác mộng, mà phần lớn cũng lại vẫn là những cảnh như thế. Tình trạng cứ kéo dài cho đến tận bây giờ. Tôi hằng mong chúng đừng trở lại, đừng làm tôi thảng thốt tỉnh dậy giữa đêm, đừng ám ảnh những ngày tôi đang mong muốn tĩnh tâm để hoà nhập lại với xã hội và tự tu chỉnh con người mình. Nhưng vô ích. Chúng cứ trở lại, lúc thưa lúc mau, không bao giờ báo trước. Trong lúc tôi ở tù, vợ tôi có lần đi xem bói, một cô bói rất trẻ và xinh ở gầm cầu Trương Minh Giảng (Sài Gòn). Không cần khai cô ấy cũng biết là “chồng của chị đang bị tù. Rồi sẽ được ra, nhưng nếu ông ấy không biết tu thì rất có thể sẽ vào tù lần nữa”. Khi tôi về thì cô ấy đã đi đâu không tìm lại được nữa, nhiều khả năng cô đã vượt biên, và đã hoặc bỏ xác trên biển cả hoặc thành một Việt kiều ở đâu đó.

Vợ tôi rất lo cho tôi, luôn khuyên tôi phải tu. Tu có nghĩa là phải kiềm chế dục vọng, phải kiềm chế “cái Tôi”, và phải nhẫn nhịn, đừng chấp trước, đừng oán hờn. Than ôi thằng làm văn nghệ thường rất khó tu, nhất là tu hai cái đầu tiên, nhưng cái sau cùng thì tôi tự xét mình phần nào tu được. Chứng cớ là tôi chẳng bao giờ oán hận những người đã tham gia việc bắt bớ giam cầm mình, làm cho vợ con mình khổ cực suốt mấy năm trời mà những di chứng đến bây giờ chưa hết. Vì thực tâm tôi hiểu họ cũng chỉ là công cụ của một bộ máy, một bộ máy nhiều khi tàn bạo nhân danh cái tốt đẹp.

Cố gắng “tu” theo lời vợ khuyên, liệu tôi có thoát khỏi tù đầy lần nữa hay không chưa biết, nhưng những cơn ác mộng thì vẫn không buông tha cho tôi.

Đọc sách phân tâm học, tôi được thuyết phục rằng muốn chữa bệnh tâm lý thì phải tự gợi lại những chấn thương từ thuở xa xưa mình đã gặp phải. Nhớ lại được rõ ràng thì sẽ có cơ may khỏi bệnh. Kinh nghiệm thông thường cũng cho rằng những nỗi thương đau một khi kể ra được thì sẽ vơi đi. Vậy thì, muốn tự giải thoát khỏi những cơn ác mộng, một lần cho xong, tôi thấy mình phải kêu lên một tiếng, kêu thật to, cho tỉnh hẳn.

Đó là lý do năm 2002, vào dịp kỷ niệm 60 năm chào đời, 40 năm chào thi đàn, cũng là dịp 20 năm đời mình có một bước ngoặt lớn là sa chân vào ngục tù, tôi quyết định đưa 30 bài thơ họp thành phần Ác mộng vào trong Tuyển Thơ 40 năm của mình.

Đây là những bài thơ tôi làm trong và sau khi ra tù. Có những bài “vụt hiện” trong óc, tôi cố nhớ và sau khi ra tù thì ghi lại, chỉ sửa đôi từ hoặc không sửa; có những bài hình thành một phần trong tù, hoặc một đoạn, hoặc cái tứ, hoặc một câu chủ, sau này tôi dựa vào đấy mà hoàn thành; có những bài, trong những lúc bị ám ảnh kéo dài của ác mộng, tôi lại như sống trở lại cảnh sống trong tù trước đây, và bài thơ hiện ra.

Mặc dù thân tình, cả hai vị giám đốc xuất bản mà tôi đưa bản thảo tập thơ (NXB Hội Nhà văn và NXB Hải Phòng) đều bảo: “Hay nhưng không in được”. Lý do chính là vì 30 “ác mộng” kia. Ngay sau khi về hưu, nhà thơ Ngô Văn Phú, nguyên giám đốc NXB Hội Nhà văn, đã vì đọc bản thảo thơ tù của tôi mà cảm hứng viết cả một chân dung tôi, trong đó ông công khai trích dẫn và bình luận những bài thơ ông đã không dám cho in.

Nhân đây, tôi xin có lời ca ngợi và cảm ơn nhà thơ Quang Huy, nguyên giám đốc NXB Văn hoá Thông tin, là người đầu tiên dũng cảm cho in vài bài thơ tù của tôi trong tập Người đi tìm mặt vào năm 1994. Việc này khiến ông gặp khá nhiều rắc rối, nhưng ông đã khéo léo vượt qua, cũng như đã vượt qua những rắc rối khác vì sự táo bạo của mình trong lúc duyệt in sách. Cũng việc này lại dẫn tới cái may là tôi có lý do chính đáng để xin từ bỏ chức trách quyền rơm vạ đá là Trưởng ban Văn hoá Văn nghệ báo Lao Động.

Bài rắc rối nhất trong mấy bài thơ tù ấy, bài “Người về” (cùng với bài “Mùi mưa hay bài thơ của M.”) sau này đã được tuyển vào những tuyển thơ quan trọng như Thơ Việt Nam 1975–2000 của NXB Hội Nhà văn (2000, 2001), Thơ Việt Nam thế kỷ XX của NXB Giáo dục (2004), và cùng với nhiều bài khác trong Ác mộng đã được dịch và in ở không ít tạp chí văn chương Pháp, Mỹ (Europe, Seatle Review, Poetry International, Gravity, New American Writing, Parthenon West, Hayden’s Ferry Review).

Về việc tuyển chọn hai bài thơ nói trên vào các tuyển tập Thơ Việt Nam, tôi phải cảm ơn trước hết nhà thơ Vân Long, biên tập viên NXB Hội Nhà văn và nhà thơ Quang Huy là những người nhiệt tình ủng hộ nó nhất, cùng những nhà thơ khác là thành viên các ban tuyển chọn [8]

Tháng 9. 2005, tôi lại gửi Ác mộng như một tập thơ độc lập cho NXB Hội Nhà văn và đề nghị trả lời trong một tháng. Câu trả lời cuối cùng vẫn là: “Chưa in được, phải đợi”.

Đợi đến lúc nào nữa đây? Không thể chờ đợi lâu hơn, hôm nay tôi quyết định công bố ba mươi bài thơ ghi lại những ác mộng ấy. Để tống tiễn chúng như tống tiễn các vong hồn, để quên chúng đi mãi mãi, cho chúng đừng đè nặng hai vai mình trên con đường tương lai.

Hà Nội, Thu 2005

Hoàng Hưng

© 2006 talawas

[1]Tiếng lóng thông dụng trong các nhà tù miền Bắc Việt Nam, chỉ nhà vệ sinh
[2]Điểm danh mỗi buổi sáng, một thủ tục của nhà tù

[3]Đây là nguyên văn hai câu mà tôi được nghe một người mặc áo lam bạc màu của sư nữ đọc như khuyên bảo trong một giấc mơ ở xà lim Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia; sau khi ra tù tôi sửng sốt khi được biết nơi mình bị giam nguyên là ngôi chùa của làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Liệu đây có phải chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không? (Tôi từng có dăm bảy giấc mơ trong đó thấy mình ở trong chùa hoặc đi chơi với các nhà sư nam, nữ; có khi mơ thấy được một sư ông dạy nhảy nhót vọt lên rất cao, lên được cả sà thiền đường, nhưng vẫn không ra được khỏi chùa; lại có khi mơ thấy mình được Phật Bà cho một chiếc chiếu, tôi cưỡi chiếu bay qua bức tường nhà tù ra ngoài, bay đi khá xa, rồi lại… quay vào.)

[4]Nếu tôi nhớ không lầm thì đó là ngày 29 tháng 10 năm 1985
[5]Danh từ của nhà tù miền Bắc Việt Nam, chỉ toàn bộ quần áo và đồ dùng tùy thân của người tù
[6]Thuộc huyện Cẩm Thủy, Thanh Hoá. Vào trại này ít lâu tôi được biết nhà báo – nhà thơ Tuân Nguyễn cũng từng bị cải tạo ở đây vào những năm 1960 sau vụ án “Xét lại”.
[7]Tôi bị bắt đưa về Hoả Lò vào chiều ngày 17 tháng 8 năm 1982 vì tội “tuyên truyền văn hoá phẩm phản động” (tức bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm), và sau đó bị thêm tội tàng trữ “những bài thơ phản động gấp trăm lần” (tức những ghi chép bằng thơ trong nhật ký của chính tôi)
[8]Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, chủ biên tuyển Thơ Việt Nam Thế kỷ XX khi trả lời phỏng vấn của đài BBC đã tự hào dẫn chứng bài này để chứng minh cho tinh thần rộng mở của tuyển thơ. Bài này cũng được nhà thơ Nguyễn Cảnh Tuấn tuyển vào sách 100 bài thơ hay thế kỷ XX (NXB Hội Nhà Văn 2005)

Hoàng Hưng sinh ngày 24.11.1942 tại thị xã Hưng Yên. 1960-1961 tình nguyện lên Tây Bắc phục vụ quân đội (dạy học cho sĩ quan trình độ cấp 1). Tốt nghiệp Khoa văn, Đại học Sư phạm Hà Nội 1965. Dạy văn cấp 3 tại Hải Phòng 1965-1973. Tình nguyện vào Nam phục vụ trong “mặt trận văn nghệ”, nhưng ngành giáo dục giữ lại vì là giáo viên giỏi lớp cuối cấp. Phóng viên, biên tập viên báo Người Giáo viên Nhân dân (Bộ Giáo dục) 1973-1982. Bị bắt giam và tập trung cải tạo từ 17.8.1982 – 29.10.1985 vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động” (bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm và sáng tác, tàng trữ những trang nhật ký bằng văn vần để trong nhà). Sau khi ra tù sống bằng việc dịch sách báo. Từ năm 1987 tiếp tục làm ở nhiều báo khác nhau, cuối cùng là báo Lao động 1990-2003, sau đó về hưu. Hiện sống tại Hà Nội và TPHCM. Có con gái là Hoàng Ly làm mỹ thuật và thơ.

Tác phẩm: Đất nắng (in chung với Trang Nghị, Văn học, Hà Nội 1970), Ngựa biển (Trẻ, TPHCM 1988), Người đi tìm mặt (Văn hoá Thông tin, Hà Nội 1994), Hành trình (Hội Nhà văn, Hà Nội 2005) và nhiều bài viết, bài nói chuyện, tiểu luận, nghiên cứu, trên báo, tạp chí, đài phát thanh trong và ngoài nước. Một số bài thơ đã được dịch và in tại Pháp, Mĩ, Canada, Đức, Hungary, Hà Lan.

Dịch thuật 100 bài thơ tình thế giới (cùng dịch và chủ biên), Vũng Tàu-Côn Đảo, 1988,Thơ Federico Garcia Lorca, Lâm Đồng 1988, Thơ Pasternak (cùng dịch với Nguyễn Đức Dương), TPHCM, 1988, Thơ Apollinaire, Hội Nhà văn, Hà Nội 1997, Các nhà thơ Pháp cuối TK XX, Hội Nhà văn, Hà Nội 2002, 15 nhà thơ Mỹ TK XX (cùng dịch, tổ chức bản thảo), Hội Nhà văn, Hà Nội, 2004), Mowgli Người-sói (The Jungle Book, Rudyard Kipling), Trẻ, TPHCM 1988, 1989, 1999. Người đàn bà lạ lùng (De guerre lasse, Francoise Sagan, cùng dịch với Nguyễn Lâm), Văn học, Hà Nội 1990. Đồ vật (Les choses, Georges Perec) Hội Nhà văn, Hà Nội 1999, Từ điển Bách khoa Oxford cho thiếu niên (chủ biên), Kim Đồng, Hà Nội, sắp ra mắt, v.v.

Hoạt động văn học quốc tế 1999 đọc thơ (tác giả vắng mặt vì không được phép xuất ngoại) tại Nhà Văn hoá Thế giới Berlin; 2000 lưu trú dịch thuật tại Paris 3 tháng do Bộ Văn hoá Pháp tài trợ, trao đổi về dịch thơ Apollinaire tại lớp Việt Nam học, Đại học Paris 7; 2002 tổ chức dịch 4 nhà thơ Việt Nam cho tạp chí Europe (Paris), và 12 nhà thơ Việt Nam cho tạp chí Action Poetique (Paris); 2002 đề cử các nhà thơ Việt Nam tham dự Liên hoan Thơ Quốc tế Val-de-Marne, Pháp, lần VII; 2003 nói chuyện về “Hiện đại hoá thơ Việt Nam” tại Trung tâm Đông Nam Á, Đại học Washington, Seatle, Hoa Kỳ. Đọc thơ tại Chicago (chương trình “Đọc thơ mùa Xuân” của Columbia College Chicago); 2005: Đọc thơ tại Khoa Viết văn và Trung tâm Thơ, Đại học Quốc gia San Francisco. Trao đổi về tập thơ Ác mộng tại Lớp Nghiên cứu Văn học Việt Nam, Đại học Berkeley. Đọc thơ tại „Vietnam Kongress 2005“, nhà hát Volksbühne, Berlin; 13.01.2006: Đọc thơ tại Viện Goethe Hà Nội.