talawas chủ nhật

 
Văn xuôi :: 16.03.2007
Đỗ Phước Tiến tiễn một người vào dĩ vãng đậm màu
Nguyễn Đăng Thường
Nguyễn Đăng Thường


Nguyễn Đăng Thường

tiễn một người vào dĩ vãng đậm màu

 

tôi nhớ những đứa trẻ bước trên bờ biển

trong những hành lang đường xe điện hầm

chuyến đi thăm một hòn đảo nhỏ của gã chào hàng

mơ bạo dâm bé gái và có cái tật hay nhìn trộm

tôi nhớ căn phòng bí ẩn, sân khấu, đường về

những tấm ảnh ngôn ngữ bấm nhanh

đóng khung vĩnh viễn những khoảnh khắc

ba hình tượng phản chiếu

những cục tẩy

và năm ngoái ở marienbad

tòa lâu đài tiệp có công viên lớn rộng

mênh mông ánh nắng chiều

không gian kỷ hà và viễn cảnh thẳng tắp đến chân trời

với những cây kiểng lùn cân đối cắt tỉa theo mô hình kim tự

tháp

những pho tượng đá trắng

những pho tượng người đứng thẳng

trên những chiếc bóng rọi song song dưới chân

ngả về hướng phải

tôi nhớ cuộc tình tay ba X-A-M

giorgio albertazzi-delphine seyriq-sacha pitoeff

trong cuốn phim đen trắng hình ảnh tuyệt vời

sắc nét như tranh Picasso

giorgio là người đàn ông xa lạ tên X

delphine là người thiếu phụ tên A có một quá khứ

bí mật trong chiếc áo trắng có đính lông chim quanh cổ

và nơi cườm tay rũ cánh thiên nga

ngón trỏ kề môi tựa mỏ

sacha là người chồng tên M lạnh lùng

cứng nhắc di động trong phòng khách như một quân

cờ

giữa đám khách khứa sang trọng của tòa lâu đài cổ

X: ở chỗ này, chẳng hạn?

A: ở đây, tại sao vậy anh?

X: một chỗ lạ kỳ.

A: anh muốn nói: một chỗ để có tự do?

X: để có tự do, đúng, một trường hợp đặc biệt.

A: anh vẫn thế…

năm ngoái ở marienbad là một giấc chiêm bao tỉnh táo

A, người đàn bà trẻ:

tôi không nghĩ là chính tôi, chắc ông nhầm người rồi đó.

X, người đàn ông lạ:

tôi thích – tôi đã thích – thích nghe tiếng em cười.

marienbad

là hôm xưa trong hôm nay là ngày nay trong ngày xưa

marienbad

là hồi ức của hiện tại và hiện tại của hồi ức

marienbad

là giấc mơ tiểu thuyết mới trở thành giấc mơ điện ảnh mới

marienbad

là một bài thơ điện ảnh về sự cô đơn hiện tượng

tiếng của X nơi hậu trường: và một lần nữa chúng ta lại phải xa nhau.

marienbad

không là gì cả nếu bạn không đặt chân vào tòa lâu đài cổ

tôi nhớ cái nhìn của người chồng chậm rãi lướt trên một vườn

chuối ở châu phi

qua kẽ hở bức mành mành

người chồng có tính ghen tuông thường hay rình rập người vợ

ngồi uống rượu trên sân thượng với một gã đàn ông tên franck

franck có thể là người tình của nàng, nàng cũng tên A

chiếc xe tải của franck vết bẩn trên tường giống một con rít độc

trong cuốn tiểu thuyết thứ ba

đã gây được nhiều hứng thú ngạc nhiên

cùng với chỉ trích và phản ứng kịch liệt

từ năm 1957 cho mãi tới bây giờ

tôi nhớ ngôi nhà của những cuộc gặp gỡ

ở hồng kông

và dự thảo cho một cuộc cách mạng ở new york

tôi nhớ tập tiểu luận không dày chỉ

vì một tiểu thuyết mới

những con chữ màu xanh dương trên cái bìa trắng nõn

của nhà minuit

tôi đọc suốt một buổi trưa hè

tại trung tâm văn hóa pháp gần bệnh viện đồn đất

tôi nhớ cái truyện ngắn đầu tay của tôi

đăng trên số báo xuân tân hợi

trình bày 1971

tôi viết trên cái máy chữ olivetti màu lam

có bàn phím tiếng việt tôi viết để bắt chước tiểu thuyết mới

cái truyện mang tựa đề tiểu thuyết nay đã đi vào quên lãng

cái ngõ cụt trên đường võ tánh chí choé tiếng trẻ thơ đá lon

đánh lộn

lãnh tụ du kích chiến bấm chuông phá làng phá xóm

là một cậu bé bự biết múa võ kung fu như bruce lee

tên nó là gì nhỉ

mấy năm sau nó và em gái 9 tuổi theo mẹ sang pháp

trước khi đi bà nó có nhờ tôi dạy kèm sinh ngữ

nhưng buổi trưa tôi ham đi xinê rồi bát phố catinat tới chiều

nên không nhận

tôi nhớ

tiếng cười rú to nghe rợn người của cô sinh viên cạnh nhà tên nga

cô nga này không buồn như con chó đói ở paris của thi sĩ nguyên sa

cô theo học về ngành báo chí truyền thông ở viện đại học

vạn hạnh

mẹ cô là bà ba bã bán bánh kẹo

đậu phộng mì ăn liền nước đá cục birely’s coca-cola kiếm thêm

chút tiền trả tiền điện nước ga trong nhà mỗi tháng

tôi nhớ

tiếng rao quà mỗi mười lăm ba mươi phút mỗi ngày

ai ăn bánh cuốn thanh trì bánh mì nóng ròn đây

tiếng của ông thầy bói mù âm vang mỗi buổi sáng

không hỏi trong nhà có mấy người mà biết có mấy người

tiếng của người đàn bà có cái nghề kỳ lạ mỗi buổi trưa

ai có em gái nhỏ xỏ lỗ tai đeo bông huyền đeo liền

tôi nhớ

chiếc xe ba gác của anh ba mua ve chai sách báo cũ

con hẻm có dãy phố trệt và ngôi biệt thự cho mỹ thuê

ở sau lưng

sứ quán tây đức

sau tết mậu thân có gắn thêm cổng sắt chắn lối cộng quân

ở hai đầu hẻm ăn thông ra đường

tôi đã ăn thông

khá bộn bánh mì nóng ròn nhưng chưa được biết vị

thanh trì bánh cuốn

tôi nhớ rạp quốc thanh cũng ở trên đường võ tánh cũng gần nhà

và gần trường nữ trung học đức trí

do ông dượng sáu của tôi và kế phụ tôi trong hội

đức trí thể dục samipic và một số hội viên

chung tiền sáng lập

vì thiếu nhân viên nên những lúc đầu mẹ tôi bị trưng dụng

làm “bà thủ quỷ”

kế đến là cô em họ lớn tuổi đời hơn tôi

bị làm “bà hiệu trưởng” thay thế cho bà

phạm thị ngà bà hiệu trưởng đầu tiên đã đi tây

trí thức trăn trở nhìn mệnh nước nổi trôi

tôi đã xúi bà mẹ già thụt két

tôi đã dụ cô em gái trẻ dẹp trường

chung sức với tôi mở cái quán bia ôm

nhưng chung cuộc tôi chỉ được quản lý một cái chợ chồm hổm

gồm tướng tá đảo chính hụt

đã bay sang thủ đô ánh sáng mở quán phở bò

tuyên bố om sòm rằng từ nay em xin thề độc

bán phở em chỉ bán bánh em không bán nước

đức trí là trường nữ trung học tư thục đầu tiên ở saigon

trên căn gác nội trú vì chủ nhựt không có thân nhân tới lãnh ra

nhã ca ở huế mới vô có thể đã viết

bài nhã ca thứ nhất

tôi nhớ cuốn thơ nhã ca có chữ ký tên quý báu

nhã ca trần thy

đồng nghiệp đỗ quý toàn mang vào chu văn an

giới thiệu giúp cô bạn thi sĩ

tôi nhớ con tàu tốc hành xuyên châu âu

người đàn ông đang hấp hối

kẻ giết vua

djinn và đóa hoa bất tử

cuốn tiểu thuyết ủy mị

nhưng gây chấn động và phản kháng

cơn mộng ác

trước lúc chia tay

của một nhà văn avant-garde

chịu ít nhiều ảnh hưởng borges

những hình tượng phản ánh trong mặt gương trong đời sống

những con đường thẳng góc im lìm

những cột đèn tuyết phủ lẻ loi

trong mê đạo của mê cung không lối thoát của cuộc đời

đứa bé không tên và người lính trẻ vô danh

về phép với cái sứ mệnh

trao một cái gói nhỏ cho một kẻ lạ

tìm mãi mà chẳng ra địa chỉ

cuối cùng anh lính trẻ đã ngã quỵ trên lớp tuyết nhung dày

tôi nhớ bông hồng vàng của borges diễm châu

chuyển ngữ in bìa đỏ

tặng tôi hai đóa

một độc giả nhẹ dạ có thể tin lời cợt nhả

alain à a alain

ha cái anh chàng kỹ sư canh nông kỳ cục

kiến tạo tiểu thuyết bằng huyễn tượng

với thước đo góc và compa rất kỳ chướng

xin thưa không có alain thì sẽ không có

calvino-nếu trong một đêm đông một người lữ khách

pavic-từ điển khazaz

abish-mẫu tự châu phi

fowles-người đàn bà của gã trung úy pháp

nouveau roman đề nghị một cái nhìn mới lạ

về mối tương quan giữa con người và thế giới

kẻ chống thì bảo rằng tiểu thuyết vẫn khỏe mạnh

không cần chữa trị

người bênh thì nói thiên tài là những kẻ

hàn gắn những rạn nứt không ai nhìn thấy

tôi nghe lóm và ghi lại đây để quí vị đọc chơi

khỏi mất công tìm báo cũ mua tốn xu

chuyến đi sau chót trở về quá khứ không hồi hương

tôi nhớ

2.000 loại xương rồng lùn nhà văn tưng tiu như trứng phượng

gai nhọn xanh rờn không gian thời gian nhà kín

tôi nhớ catherine hiền thê của alain chỉ viết truyện sex

bạo dâm

ký tên jean de berg và jeanne de berg

những ngày cuối cùng của corinthe

Alain Robbe-Grillet (1922 – 2008)

tôi nhớ gérard genette và bruce morrissette

hai nhà phê bình đã giúp tôi hiểu thêm

truyện của alain và tiểu thuyết mới của

mọi người

tôi nhớ hai bài viết không dài trong cuốn

essais critiques

của barthes

bài thứ nhứt khẳng định

không có một trường phái robbe-grillet

bài thứ hai tựa đề tôi không nhớ

chỉ nhớ cái kết luận rất mơ hồ

ngón tay pho tượng vua charkes III

làm biểu trưng

chỉ trỏ rõ rệt về hướng

một món đồ mơ hồ

trong huyền thoại trong khu vườn trong căn phòng

hay ở một nơi nào đó

kèm theo lời nói

ceci

nhưng ceci là cái gì

và barthes khẳng định rằng văn chương

có thể nằm gọn

trong phong cách chỉ trỏ và im lặng đó

đồ vật có nghĩa gì

thế giới có nghĩa gì

tôi nhớ hai ông hoàng ta

đã tiên phong chuyển ngữ truyện của ông

hoàng tân tiểu thuyết

nhớ thì rất nhiều mà viết thì chỉ được

bấy nhiêu

khi tôi nghe cái tin

bất ngờ dù vẫn mong chờ

alain robbe-grillet

đã rời ga để tới nơi ngàn thu bất tử

vào một sáng mùa đông

không ảm đạm

của ngày 18 tháng 2 năm 2008 [1]

19.02.2008

© 2008 talawas

[1]Nhiều câu thơ trong bài thơ này sử dụng nhan đề các truyện ngắn, tựa phim, tiểu thuyết, tiểu luận của Alain Robbe-Grillet. Hai ông hoàng ta là Hoàng Ngọc-Tuấn và Hoàng Ngọc Biên. – Chú thích của Nguyễn Đăng Thường

Nguyễn Ðăng Thường sinh tại Battambang, Cambodge (Campuchia) vì thân phụ chống Pháp tranh cãi với Phạm Quỳnh ở Hà Nội nên bị thuyên chuyển. Tốt nghiệp Ðại học Sư phạm Sài Gòn khóa thứ nhất (1961) ban Pháp văn. Chọn nghề giáo vì khóa học ngắn (3 năm) và chỉ phải dạy 16 giờ mỗi tuần. Ra trường được bổ về Chu Văn An (hậu thân của Trường Bưởi) và chỉ dạy ở đây cho tới khi ra hải ngoại. Không dạy trường tư. Như vậy có thể coi như đã làm nghề “gõ đầu trẻ” nhiều hơn là “bán cháo phổi”.

Thích viết nhưng viết khó và lười và nên không có ươc vọng trở thành nhà văn nhà thơ. Nhưng sau khi mãn lính chín tuần (1969) đã được anh Hoàng Ngọc Biên, bạn học ở trung học và anh Diễm Châu, bạn của anh Hoàng Ngọc Biên “rủ rê” nên viết thử chơi. Có một bài thơ hay một bài “Nhật ký tập thể” đăng trên số thứ ba của tờ Trình Bày ra ngày 1 tháng Chín 1970. Tiếp tục đóng góp cho Trình Bày cho tới khi rời Việt Nam sang Campuchia (1973) rồi sang Pháp (1974). Ra hải ngoại có văn thơ đăng trên Nhịp Cầu, Vietnam Culture, Thế Kỷ 21, Văn, Ngày Mới… và gần đây trên các trang báo mạng. Lao động trí thức khá nhiều nhưng may thay tới nay vẫn chưa thành nhà văn nhà thơ.

Tác phẩm Nguyễn Ðăng Thường, Thơ (Thơ & Thơ dịch, Trình Bày 1971). Dịch phẩm: Pablo Neruda, Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng (Trình Bày, 1989); Blaise Cendrars, Văn xuôi của chuyến xe lửa xuyên Tây-bá-lợi-á và của cô bé Jehanne de France (sau đổi thành Văn xuôi đường tàu xuyên Tây-bá-lợi-á và cô bé Jehanne de France, Trình Bày, 1989); Jacques Prévert, Thơ (dịch tập thơ Paroles chung với Diễm Châu, Trình Bày, 1993); Samuel Beckett, Tưởng tượng đã chết hãy tưởng tượng (Trình Bày 1996), Linda Lê, Tiếng nói (nxb Văn, 2003). Và nhiều bản dịch Samuel Beckett, Marguerite Duras, Marcelin Pleynet, Francois Auriégas, Jean Genet… và thơ truyện Nguyễn Ðăng Thường do nhà Giọt Sương Hoa in vi tính theo dạng thủ công nghệ.