talawas chủ nhật

 
Văn xuôi :: 24.02.2007
Đỗ Phước Tiến Việt Nam 1968 và bốn bài thơ khác
Cung Trầm Tưởng
Cung Trầm Tưởng

Tháng 11 vừa qua, tôi có dịp gặp nhà thơ Cung Trầm Tuởng tại nhà riêng của ông ở Saint Paul, Minnesota. Ở tuổi 75, ông còn rất tráng kiện, hoạt bát, nói chuyện say mê hàng giờ về thơ ca, chính trị. Ông vẫn đang làm thơ, viết hồi ký, và dành thời gian chép sửa lại những sáng tác chưa xuất bản.

Cung Trầm Tưởng là nhà thơ rất nổi tiếng trước 1975. Đọc giả, tuy vậy, phần lớn biết đến ông chỉ qua thơ tình, nhất là những bài được Phạm Duy phổ nhạc. Bằng những hình ảnh mới lạ Tây phương và một thứ ngôn ngữ trau chuốt nhưng tân kỳ, Cung Trầm Tưởng đã viết những bài thơ tình đẹp nhất của văn chuơng miền Nam: “Chưa bao giờ buồn thế”, “Mùa thu Paris”. Ông cũng là một trong những người làm mới thơ lục bát. Nhà thơ Viên Linh cho rằng: “Nói lục bát Cung Trầm Tuởng tức là nói đến một đỉnh cao nhất của thể thơ truyền thống Việt Nam, vào những năm năm mươi đó, từ bài ‘Sinh nhật’”.

Nhưng Cung Trầm Tuởng không phải chỉ là nhà thơ tình. Ra hải ngoại sau mười năm “cải tạo”, ông in ba tập thơ ghi lại những kinh nghiệm tù đày cay đắng, những suy tư trĩu nặng về quê hương đang ở trong giai đoạn mà ông cho là “đen tối nhất của lịch sử đất nước”. Thật ra ngay từ cuối thập niên sáu mươi, Cung Trầm Tuởng đã có những sáng tác mang tính thời cuộc xã hội; những bài thơ, tuy vậy, hầu như không được biết đến vì chưa bao giờ in vào sách hay tạp chí. Trong cuộc gặp ở Saint Paul, Cung Trầm Tuởng có cho tôi xem bản thảo những bài thơ này. Được ông cho phép, tôi nhờ nhà văn Phan Thế Yên đánh máy lại và giới thiệu vài bài dưới đây.
Phan Nhiên Hạo

Cung Trầm Tưởng

Việt Nam 1968 và bốn bài thơ khác

Việt Nam 1968

Trong cuộc sống gài dối gian

Mỗi bước đi là dò dẫm

Trên một bãi mìn ngầm

Mỗi ý thoạt tiên là mở lộ

Vào đục xám như sương mai

Của những cái nhìn ám muội

Mỗi tiếng nói ra một dấu vấn

Sự điên rồ là không biết làm thinh

Khi sa giữa một rừng tai mai phục

Mới đêm nao con vòi khóc với mẹ cha

Sớm hôm sau pháo rớt chết cả nhà

Núi đứng câm, sông cũng không ngùi nước mắt

Trên triền sống chuồi bấp bênh

Khó tìm ra quân bình thế

Sao mắt tôi còn ấm lệ

Hay tôi khóc vì đứng nghe

Rồi thấy mình không ngoại cuộc

Đời reo lên như một giác đấu trường

Mũ áo xênh xang chờ xem một thiên đường nhuộm phẩm

Người sống say mềm bằng những sấm ngữ viết hoa

Đến cái chết cũng là dịp để bày phô sặc sỡ

Những màu cờ ảo hoạn

Những áo mị hương hoa

Một liên minh đàn đúm

Sum suê lái xác với buôn hòm

Trong dòng sống ngầu rối ren

Chúa treo trên móc sắt

Những bàn tay xưng tội

Người sang người bằng những cái nhìn nứa nhọn

Rào đời cao như một chiến ấp

Với mỗi nửa đêm linh hồn kẹt đạn

Dõi mắt chờ mà không thấy hoả châu

Tiếng gọi đầu năm

Gọi sang đất thù

Bạt phủ trăm linh năm [1]

Cho rừng yên giấc ngủ

Gọi sang núi địch

Tháo kíp nổ năm trăm pound [2]

Để con về thăm má

Đường quê xuôi thong thả

Gọi sang lũng mù

Không ánh sáng hoả châu [3]

Để tình nhân đau đáu

Thắp đuốc đi tìm nhau

Gọi sang chốt uất

Chẳng M trăm mười ba [4]

Để đồng xanh yên ả

Cưu mang những mầm mạ

Gọi sang hố hận

Gác giá M bảy hai [5]

Để lành lặn chân tay

Mai về trùng tu xứ sở

Gọi sang luỹ hào lì

Tháo gỡ rào kẽm gai

Mai xây lên trường học

Nơi chiến trường thảm khốc

Gọi sang não cân căng

Tiếng chuông chùa dìu dặt

Nhạc thánh đường réo rắt

Nguôi bỏng rát hờn căm

Gọi sang tâm đa mang

Bằng tiếng gọi bắc ngang

Qua con sông u ám

Một chiếc cầu thông cảm

Gọi sang tâm kiêm thương

Bằng nhịp điệu thuần lương

Của tim rung để nhớ

Khóe mắt nhìn để mong

Hàng mi buông để khóc

Khi thấy mỗi chúng ta đang đánh mướn

Trận chiến phá quê hương, giết tình người

Gọi sang phía người

Nửa đêm chuông hưu chiến

Pháo nổ đón xuân sang

Mười phương kinh cầu nguyện

Hoà bình này vĩnh viễn

Mẹ Tổ quốc an khang

Sinh trăm con kháng kiện

Trên quê cha vinh hiển

Chúc thư của một người lính vô danh

Nếu ngày mai cam phận tôi lên đường

Về một miền trời nồng mùi thuốc súng

Xin các người đừng tụ tập lăng xăng

Đừng đọc diễn văn, trương cờ xí

Đừng uý lạo tặng quà

Quàng vòng hoa chiến sĩ

Đừng chu choa tiếng kèn đồng

Bởi cái chết là một món hàng vô giá

Không lễ tiễn đưa nào chuộc được

Nếu ngày mai tâm lí chiên đàn

Lùa toán quân lao vào chiến địa

Mìn mù loà xé xác chiên ngoan

Xin các người đừng đến lầm rầm trước linh vị

Vinh danh tôi anh hùng liệt sĩ

Bởi cái chết giờ là

Một quan tài gỗ tạp – nếu có –

Đóng bằng ván lạnh lùng

Và đinh sắt lãng quên – vô ơn

Màu thời đại

Nếu ngày mai say mùi thuốc súng

Tôi miên du trong mưa đạn

Phiến ngực gầy làm tấm khiên che

Thân bung tung như xác pháo

Theo nhịp cười rồ dại cỗ liên thanh

Của một xạ thủ nằm rình

Bên chiến hào đối mặt

Hắn cũng như tôi

Đang say mùi thuốc súng

Mùi mê yên mị dược

Đánh thuốc lú hồn ta

Đang vô thức miên du

Trước khổ đau đồng loại

Vậy

Nếu vì cuồng vọng một người

Một triệu người phải ngã xuống

Vải tang sô không đủ để quấn đầu

Muộn sầu triệu nàng goá phụ

Vật vờ triệu mụn con côi

Tôi xin các người đừng đến cúi đầu mặc niệm

Tỏ tiếc vong linh người chồng / cha vắn số

Rồi ra về ngồi kí lệnh trưng quân

Lấy thịt đồng bào làm mồi cho súng ngoại

Bởi giết chóc này vô luân và phi lí

Chân lí không hồng, cứu cánh không xanh

Tôi muốn ngã xuống máu trắng

Trên một lằn ranh màu trắng

Nếu ngày mai giữa khói lửa đỏ rực trời

Tôi bị hút vào từ trường phía trước

Viên đạn nào vô giác xoáy đầu tôi

Xin các người đừng làm trò thiểu não

Đặt vòng hoa phúng điếu, phân ưu

Biểu dương công trạng trước quân kì

Bởi mạng Việt Nam các người coi rẻ rúng

Tấm bạt thô phủ vội xác gầy gùa

Khách bộ hành hấp tấp bước băng qua

Không ngoảnh lại

Di ảnh tôi

Xin các người đừng phóng lớn, phô bày

Trong công viên, ngoài phố xá

Bởi sinh thời thường tránh chốn lao xao

Chỗ chợ người bon chen bát nháo

Tôi muốn được chết âm thầm, tan loãng giữa vô danh

Một vết xước nhợt nhoà

Trên vô tình lịch sử

Nay

Để hồn nhẹ nhõm lúc ra đi

Xin trả đủ lại các người

Những huy chương láng coóng

Những chiến tích mạ kền

Những hoa hòe hoa sói

Những loá mắt lập lòe

Một thiên đàng mộng hoạn

Một chiến sử không vui

Một nghĩa địa hoang vùi

Triệu anh hùng mê muội

Phận mỏng con thiêu thân

Lao vào lòng hoả ngục

Từ triền tiệm cận cất bay lên đời

Lời lền quện nhựa ê a

Lưỡi chua loét cặn trời sa tù mù

Ngà ngà mặn muối thiên thu

Rêu nhơm nhớp máu, mốc u ẩm hồn

Nhang xiêm ngải, khói buồn nôn

Sắt đinh tanh tười, búa dồn dập phang

Rơi son, rã nhũ, bung vàng

Chão thừng bực bội, ván sàng động dao

Buông xuôi tay, rỗng sọ đầu

Mung lung một giấc hồ nào chửa quen

Bên kia lẫn tiếng trùng rên

Áng chừng rười rượi còn chen lời người

Tung chăn, bật nắp quan tài

Ngỡ ngàng nghe tiếng đời ngoài rộn vang

Khuyên kêu đến, sáo nói sang

Một hôn phối mới dệt đan nếp đời

Một hồng sợi nối muôn nơi

Nắng trao nhẫn cẩn ngọc trời lung linh

Hồn từ thức giấc u minh

Chứa chan niềm nỗi hoan sinh chưa từng

Dẫu dù đời có đêm bưng

Vẫn kiên ủ một sáng bừng bình minh

Diệt sinh mầm chốt trong mình

Sống là từng phút phục sinh diệu kì

Sau mai đi sẽ trở về

Lướt qua trần thế một vì sao băng

Linh hồn

Cứu rỗi hồn làm chi

Từ khi hồn hôn ám

Thâm nám màu hồ nghi

Chiều mưa quây cửa ngục

Thắp nến niệm tâm kinh

Vẫn thấy mình lạc lối

Thôi con biết con biết

Sau lú lẫn tin dâng

Hư vô lùa bóng tối

Vào xoá lối thiên đường

Hồn giờ đi chân đất

Lật đật lối cô đơn

Ngã ba phố chập chờn

Ánh đèn vàng lửa ngục

Súng xa vang liên vận

Quỷ hận rống ven đô

Bàn tay mưa xô xoá

Chiếc bóng goá mơ hồ

Loãng tan đêm thuỷ hoạn

Đừng tự làm khách sạn

Cho ở tạm đời mình

Phải tự mình làm ngói

Lợp kín mái hồn mình

Cũng đừng làm xe khách

Chở hành khách là mình

Phải giữ mình thường trụ

Chỗ trú mình là mình

Đi là để trở về

Nồng nàn một điểm hẹn

Nhất phiến chiếc linh hồn

Giữa bão bùng dâu biển

© 2008 talawas

[1]Đại bác 105 li
[2]Bom 500 cân Anh
[3]Đèn dù từ máy bay thả xuống soi sáng chiến trường
[4]Thiết vận xa M113
[5]Đạn M72 chống tăng

Cung Trầm Tưởng Tên thật là Cung Thức Cần. Sinh năm 1932 tại Hà Nội. Vào Sài Gòn năm 1949. Du học tại Pháp và Hoa Kỳ. Cựu trung tá không quân Việt Nam Cộng hoà. Tù cộng sản 10 năm. Hiện sống tại Saint Paul, Minnesota.

Tác phẩm đã xuất bản Tình ca (Cùng Phạm Duy, Ngy Cao Uyên), Lục bát Cung Trầm Tưởng (Con Ðuông), Thám hiểm không gian (dịch, Dziên Hồng), Lời viết hai tay (thơ 1999), Bài ca níu quan Ttài (thơ 2001); Những dấu chân trên một triền phiếm định (thơ 2002), Toàn tập thơ Cung Trầm Tưởng 1948 – 2008 (sắp in)