talawas chủ nhật

 
Văn xuôi :: 21.10.2007
Đỗ Phước Tiến Minh khúc
Nguyen Tat Nhien
Nguyễn Tất Nhiên – ảnh chụp năm 1982

Vào lúc nửa đêm ở ngoài sân chỉ còn một bóng vẩn vơ đi qua đi lại vòng quanh mấy cái cây èo uột trong sân Trung tâm III Tuyển mộ nhập ngũ. Anh thanh niên này mặt cúi trầm ngâm nhịp 6 và nhịp 8 bước chân. Chắc là anh đang làm thơ. Tôi đi ra bắt chuyện và quả ra là vậy. Trên tay anh cầm một cuốn vở học trò.

Đó là vào năm 1974 ở miền Nam. Hai ngày nữa tôi sẽ chuyển sang trại tân binh tình nguyện đợi về đơn vị. Anh sẽ chuyển sang trại tân binh quân dịch và tôi sẽ không bao giờ gặp lại, nhưng cuộc chiến dù sao cũng sẽ chấm dứt trong vài tháng nữa. Bài thơ của anh trên giấy chép tay mà anh đưa cho tôi đọc, tôi chỉ nhớ có câu u uất, “Đêm nghe trái bã đậu nổ”. Cây bã đậu là những cây này, dễ nuôi và chóng lớn để cho các quân trường có một chút bóng mát, về khuya trái lốp bốp nở nhưng không hẳn là để tập làm quen với tiếng súng sa trường. Nhưng điều mà tôi ấn tượng về người bạn chốc lát này là lúc anh ngẩng mặt và vung tay về phía cái sân vắng lặng: “Năm ngoái, Nguyễn Tất Nhiên đứng ở nơi đây”.

Vào thời điểm nói trên, thơ của Nguyễn Tất Nhiên qua những bài phổ nhạc là hiện tượng không thể tránh khỏi ở Miền Nam. Ca từ này đi vào đời thường, liếc đâu cũng thấy những cô Bắc kỳ nho nhỏ hiền như ma-sơ và cắt tóc demi-garçon trong khi các thanh niên thì nói năng chi cũng thừa nên chỉ chực leo lên nóc nhà thờ mà ôm thánh giá. Trẻ con thì rêu rao đầu ngõ “Thà như bồ câu/ Chết được nhồi yến” thay vì “Thà như giọt mưa/ Chết trên tượng đá” và bao nhiêu lá trúc đào nắn nót bằng mực tím trên những vở học trò. Nói không ngoa, Biên Hòa trở thành văn hóa.

Nguyễn Tất Nhiên sau 1975 đầu tiên sang Pháp, có một tập thơ do Nam Á xuất bản, vào thuở in ấn ở nước ngoài còn phải chụp lại những chữ đánh máy lọc cọc rất thủ công. Tôi không được biết anh vào giai đoạn này mà là ở Bolsa, sau khi anh sang Mỹ định cư. 1987 hay 1988 là thời điểm cựa quậy của cộng đồng, như một đứa bé bắt đầu lớn. Báo chí đã có nhiều, và Nguyễn Tất Nhiên xuất hiện đều đặn, có lúc anh vào lãnh vực làm băng nhạc nhưng như một số nhà thơ, cuộc sống đối với anh là một chiếc áo mặc không vừa. Cuộc sống riêng tư, cũng như cuộc sống bên ngoài, xã hội, anh tay chân lóng ngóng. Bạn bè, gia đình, thân hữu đều nỗ lực giúp anh vá víu đến đâu hay đến đó, và chỉ có thể là tạm bợ.

Những bài “Minh khúc” là ở giai đoạn cuối này. Tôi gặp Nhiên bất thường, có bận anh cho tôi xem bản nháp của một trường thi về lịch sử Việt Nam, chắc vì hai con anh còn bé và cũng như những đứa trẻ lớn lên ở nước ngoài không thích đọc Đại Nam thực lục chính biên hay Hoàng Lê nhất thống chí. Lúc đó Nhiên cười rất đỗi ngây thơ và cuộc đời thì chẳng ngây thơ chút nào cả. Lần khác, chẳng bao lâu sau, anh giúi cho tôi một bản hắt hiu đánh máy, có vài chữ anh chữa lại bằng tay. Kỷ vật của tôi không phải là những tờ giấy tôi đã đánh rơi đâu mất này, mà là vài câu thơ tôi còn giữ trong một xó óc:

Buồn ơi tôi thấy tôi bàn ghế

Nguyện hiến cho đời một tấm lưng

Nguyễn Tất Nhiên đã ra đi, ngồi trong xe một mình ở một sân chùa vắng. Tôi không rõ là chùa nào và sân chùa này có trồng cây bã đậu hay không. Đám tang anh, tôi lái xe lạc đường và đến trễ sau khi mọi người đã ra về. Nhưng thôi, người chết thì chẳng đi đâu được và vẫn nằm đó.

Tập “Minh khúc” 10 bài này, Nguyễn Hoàng Nam vừa mới tìm lại thấy một bản. Đây không phải là những bài cuối mà là những bài Nguyễn Tất Nhiên có gom lại thành tập và photo thành vài bản. Một số bài trong tập đã được in trên báo dạo đó nhưng vào thời điểm internet chưa thông dụng nên không được lưu trữ trên mạng.

10.2007

Đỗ Kh.

Nguyễn Tất Nhiên

Minh khúc

Bản thảo vừa hoàn tất, thân quí tặng

anh chị Hồ Thành Đức – Bé Ký và các cháu Cao – Cung – Hải Dương

Cali, 22.6.90


Minh khúc, 89

ví dù lá đỏ đường xưa

ngoài hiên những nụ tình chưa muốn tàn

ví dù tóc gọi thời gian

ngàn mây phiêu lãng cũng cần suối sông

ví dù gối đã lìa chăn

thì chăn gối cũng bao lần với nhau

ví dù trước đã lìa sau

thì sau trước trước sau sao vẫn là

ai gieo tiếng dữ rồi ra

lược gương nhau nhé tình ta với mình!

Westminster, CA, 14.7.89

Minh khúc 2

khi mà, dòng đã xa sông

thì trăng vẫn chiếu buồn trong tháng ngày

khi mà, chim đã xa bay

thì cây vẫn trái tình hoài trông mong

khi mà, mồ cỏ thu đông

thì xuân xanh vẫn phượng hồng hè xưa

khi mà, lạnh bếp tàn tro

me long lanh lá rừng chưa hết ngàn

đường duy tân – chợ bến thành

chân ai thả bộ còn in khóe cười

đời quên sao có ngậm ngùi

đời nhớ sao lại có người cố quên?

Westminster, CA, 19.7.89

Minh khúc 3

khi em cùng nắng tan trường

áo đơm hương gió lòng thơm hương chiều

có người không biết rằng yêu

phần ai quả tráp khăn điều phúc ai?

khi em mỏng mảnh hình hài

nơ nhung cho tóc đừng bay mất hồn

có người ngơ ngẩn hoàng hôn

hay hàng trụ điện suốt đường tương tư?

khi em bước nhẹ dường như

không gian mà một tờ thư tỏ tình

có người vừa tức giận mình

vừa không biết phải theo nhìn… để chi?

khi em là nắng xuân thì

là mưa trung học ước gì song đôi

có người – không phải là tôi

vì thơ tôi đẹp hơn tôi thất tình!

Westminster, CA, 22.7.89

Minh khúc 4

chút lòng, đáp lễ cho nhau

vết đau hạnh ngộ kiếp sau bù đền

chút tình, đáp nghĩa nhân duyên

dấu sinh ly mãi còn riêng vợ chồng

chút son thô, chắc đủ hồng

cho môi ai dễ thương còn thương thêm

em cười, không sót chút duyên

cho anh chê xấu mà quên chữ tình

em tươi, không sót chút hiền

cho anh chê nết không thèm dây dưa

thôi thì tan hợp nghìn xưa

thì thôi gió đập đò đưa mặc đò…

Santa Ana, CA, 25.7.89

Minh khúc 5

tay đèn ngoắc bóng phố khuya

phố khuya khuya phố chia lìa ước mơ

và, cô đơn giết mòn chờ

và, hun hút có ai ngờ vẫy theo?

cô liêu tôi đứng nghe chiều

bảo đêm khua thức bao điều tàn phai

và, mang cũ kỹ thêm vài

và, tôi đứng đợi ngày mai chút già…

Westminster, CA, 26.7.89

Minh khúc, 90

đường không gian – đã phân ly

đường thời gian – đã một đi không về…

những con đường mịt sương che

tôi vô định lái chuyến xe mù đời

cu tí ngủ gục đâu rồi?

băng sau, ngoái lại, bời bời nhớ con!

đường trăm năm – nát tan lòng

đường ngàn năm – hận, xin đừng trả nhau!

những con đường cuối năm nào

cho tôi tìm lại cành đào ba sinh

khi em lễ mễ với tình

thắp nhang tạ tội sinh thành con đi…

đường chung đôi – đã chia đời

đường chia đôi – vẫn hơi người quẩn quanh

chim đêm hót tiếng đau tình

đau tim tôi chở lòng thành kiếm em…

Westminster, CA, 2.1.90

Minh khúc 7

ơn đời tha thứ cho nhau

ơn người buông thả nhau vào nhớ quên

ơn sông kỷ niệm dòng hiền

mang mưa hiện tại kêu thềm nhà

xưa:

nhà xưa

có lửa hương vừa

có đau đớn đủ

có chưa trọn đời

có dòng nhẫn nhục rơi

rơi… xuống môi run rẩy khóc muồi trăm năm

có chung mang một chỗ nằm

có riêng quang gánh nên

đường đôi

nơi!

ơn chim hót tiếng thương người

sáng nay thức dậy

vườn đời

thiếu

nhau!

Westminster, CA, 9.1.90

Minh khúc 8

tình cần chăng?

một làn hương ngát đau thương

trái tim mòn mỏi trông!

tình cần chăng?

một dòng sông thủy chung

cùng bóng trăng nghìn trùng xa!

tình cần nhau chén khổ qua

chồng chan vợ húp thiệt thà khen ngon!

tình cần nhau cọng hành thơm

chút tiêu cho ngọt râu tôm ruột bầu!

tình đày nhau đến bao lâu

một duyên hai nợ thì âu cũng là…

tình đày nhau đến chia xa

lẽ đâu là… lẽ đâu là…

quạ kêu?

Santa Ana, CA, 1.2.90

Minh khúc 9

đong tình đong nghĩ cho nhau

trái tim nhân loại dù sao cũng còn

đâu đây, đâu đó, bên đường…

có thêm một tấm lòng thương tấm lòng!

nợ đời, trả kiếp chưa xong

ai đem đổ biển đổ sông nợ tình…

cho nhau nhiều ít chân thành

cũng như hương lửa ba sinh hãy còn

sẻ chia khúc ruột đoạn trường

kẻo vua lê trách chàng trương phũ phàng!

nợ đời, trả chút văn chương

nợ tình, ừ, trả con đường em đi…

sông không trách nước không về

qua sao trách bậu lỗi nghì trúc mai

chỉ xin sợi vắn sợi dài

tóc mai nhắn gió thương hoài ngàn năm…

bữa qua qua bỗng đau lòng

nhớ hôm bậu hát bài đừng xa nhau…

Westminster, CA, 27.4.90

Minh khúc 10

đẩy nhau đến tận tàn đời

đủ chưa? đau khổ bật lời yêu thương

hiu hiu gió nhẹ nhàng, thường

bóng cây thư thả động lòng tháng năm…

xô nhau cuối tận đường hầm

gặp chưa? tia sáng từ tâm nhiệm mầu

hay là hóc hiểm thâm sâu

vẫn nuôi ích kỷ cho màu tàn phai…

dìu nhau trên những đường dài

đâu đâu cũng tiếng người thay đổi lòng

rồi sao? có thấy chi không?

con ơi, bố mẹ diễn tuồng sinh ly…

Santa Ana, CA, 21.6.90

© 2007 talawas

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30.5.1952 tại Biên Hòa. Ông làm thơ rất sớm. Đầu thập niên 70 ở miền Nam, phong trào thơ phổ nhạc lên cao, thơ Nguyễn Tất Nhiên được công chúng rộng rãi biết đến và được ưa chuộng ở vị trí đầu bảng. Ca từ của ông (do Phạm Duy, Anh Bằng, Nguyễn Đức Quang phổ nhạc) đi vào thành ngữ dân gian. Thơ ông thành hiện tượng quần chúng, với vô số bàn tán bên lề. Hơn ba mươi năm sau, những cụm từ, câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên vẫn vương vấn những trang chat sinh viên, học trò ngày nay.

Nguyễn Tất Nhiên vượt biên năm 1978, định cư ở Pháp, sau sang Mỹ. Ông tiếp tục sáng tác với một giọng trầm ngâm, buồn, cho tới khi tự sát ngày 3.8.1992 tại California.

Tác phẩm Nàng thơ trong mắt (Thơ, Sài Gòn 1966, cùng với Đinh Thiên Phương); Dấu mưa qua đất (Thơ, Sài Gòn 1968, cùng với Bút đoàn Tiếng Tâm Tình); Thiên tai (Thơ, Sài Gòn 1970), Thơ Nguyễn Tất Nhiên (Tuyển thơ 1969-1980, Nxb. Nam Á, Paris); Những năm tình lận đận (Tập nhạc 1977-1984, Nxb. Tiếng Hoài Nam); Chuông mơ (Tuyển thơ 1972-1987, Nxb. Văn Nghệ, California). Nguyễn Tất Nhiên còn một số bản thảo thơ và truyện ngắn chưa xuất bản.