talawas chủ nhật

 
Văn xuôi :: 27.07.2007
Đỗ Phước Tiến Lịch sử thời đại tường thuật bởi một người lưu vong
Phan Nhien Hao
Phan Nhiên Hạo

Bạn có thể thở đều trước khi đọc “Lịch sử thời đại tường thuật bởi một người lưu vong”. Nhưng qua dòng thứ nhất, qua dòng thứ hai, dòng thứ ba…, bạn sẽ nín thở, rồi ở dòng cuối bạn sẽ nghe được hơi thở của mình đang trở lại. Văn chương có thể chạm đến tâm hồn, điều đó đã rõ, nhưng phải ở một tầm vóc nhất định nó mới có khả năng tác động cả vào hoạt động của thân xác ta như vậy. Chúng tôi hân hạnh mời bạn đọc tác phẩm mới nhất của Phan Nhiên Hạo.

talawas chủ nhật

Phan Nhiên Hạo

Lịch sử thời đại tường thuật bởi một người lưu vong

tặng Loan

1. Thời đại cục súc 1975

Bọn họ từng nói gì

làm sao chúng ta nhớ hết

toàn dối trá, lật ngang, thùng rác ngập khẩu hiệu

mặt trăng thủng đạn, hồn ma mất dép

mưa suốt đêm trên mộ, mưa không rửa sạch hận thù

những tờ báo ngợi ca dùng làm giấy đi cầu

thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy,

chủ nhật số đặc biệt đít dính màu

chúng ta lớn lên bơ vơ buồn khổ

cha chết mất thây, thân thủng mấy lỗ đạn?

câu hỏi chảy máu suốt đời, không đọng lại thành tiết canh

buổi chiều trên động cát

ông nội chúng ta bỏ xứ ra đi chết vùi thây chốn này

cát trắng loá, gió không khoan nhượng

trời không mây, mắt trẻ đầy mây

con giông chui xuống đất trốn vào địa ngục

người ăn cá nhưng đây là thời cá ăn người

trên biển cả cùng lúc chúng ta hiến mình cho tự do và thần chết

chúng ta đã mất hết

cả tinh trùng trong bìu dái xạm khô

chúng ta bị triệt sản tinh thần và giết dân bằng nền y học

Niệu Liệu Pháp

chúng ta nói cùng thứ tiếng với họ

nhưng họ trả lời bằng ngôn ngữ âm binh

những âm binh đốt sách, vơ vét, phùng mang,

đeo AK, khạc nhổ, chồm hổm, sốt rét

âm nhạc trở nên nhọn như tên

mỗi ngày bắn ra từ loa sắt

xuống những mái nhà, đường phố, cỏ cây, đồng ruộng, đình chùa, bữa ăn, giấc ngủ,

khoảnh khắc yêu nhau vợ chồng ọp ẹp,

giây phút linh thiêng kẻ sắp lìa đời

đây là thời để tưởng nhớ những chiếc radio,

và thi ca. A, một cục sắt, chỉ dùng làm lựu đạn

miệng vừa ngâm, hồn đã nổ tan tành

đây là thời để tưởng nhớ những bô nhựa tuổi thơ

khi chúng ta được ăn no và bài tiết

với giấy vệ sinh mềm

khi ở trường chúng ta đổ mực lên áo nhau

nhưng không phải suy tôn những kẻ làm đổ máu

ai đã cướp chiếc radio

ai đã cướp chiếc bô

ai đã cướp đồng hồ

nhai những chiếc kim, phun ra mười hai con số

ngày tháng nào cũng nhểu nhảo nước bọt

cả dân tộc đói ăn

“thưa cô, anh Ba, người đầu bếp thiên tài

đã bôn ba mang về cho đất nước cái nồi thủng

giờ đây nhiệm vụ của chúng em là làm trò ảo thuật

biến sỏi đá thành cơm”

đây là thời chủ nhân ăn mày ăn nhặt

trong khi đầy tớ nhân dân ăn ngập mặt, ngập mũi

ăn hớt, ăn bẩn, ăn tục, ăn lận, ăn chặn, ăn cướp, ăn gian, ăn tham, ăn lường, ăn bịp, ăn suông, ăn ké, ăn chia, ăn sống, ăn lạnh, ăn nóng, ăn theo, ăn chực, ăn vạ, ăn lẻ, ăn sỉ,

ăn tất tần tật

chỉ trừ ăn năn

ăn không sợ ngày trả miếng

đây là thời của xe than

đây là thời của tàng tàng

đây là thời người sống ở nghĩa trang

và người chết ngồi ở nhà hàng

đây là thời của tan hoang ô nhục

một thời đại cục súc

chúng ta sống còn nhờ vào những củ khoai

và ước mơ một ngày kia sẽ có súng để giết người

phải, chúng ta đã nói về giết người tuổi lên mười,

về bom nguyên tử, thuật độn thổ, phép tàng hình

làm thế nào để thiến bọn lợn và thoát

nhưng thường chúng ta mơ một buổi sáng

thức dậy thấy cha đã trở về

cái chết người chiến binh đẹp như ngọn đồi trong sa mạc,

bông hoa khô, tiếng mõ chiều,

nhưng cái chết để lại những đứa trẻ bơ vơ

kêu tên cha trên đồng vắng

kêu tên mẹ trên bờ đê

khóc tuổi thơ bầm dập sân ga

lỡ chuyến tàu Thống Nhất

ôi thống nhất, lần đầu tiên biết dép lốp

những con bọ râu mềm mềm bẩn thỉu

sinh sôi nảy nở khắp xóm làng

cô chú ta đi đào mương

được thưởng con cá ươn

ngồi gặm xương trong cuộc họp phường

cuộc đời bị bể gương

dở thầy, dở thợ, dở cu li, mãi rồi cũng thường

người ta sống lần hồi với những vết thương

mỗi ngày giở ra băng lại bằng giẻ rách

không lành, không lành, không lành

penicillin bột mì và thuốc đỏ dối trá

làm thế nào diệt được vi trùng thật

chúng ta sống qua những thời khắc bị đầu độc

đến nỗi tình thương cũng gây dị ứng buồn nôn

và phẩm hạnh là trò bí nhiệm

chỉ diễn ra len lén ở nhà thờ

con người mất sức đề kháng, hoài nghi, tra vấn,

con người không đốt lửa, chỉ phều phào

“con người, một sinh vật

hai chân

không lông”

đầy sợ hãi

Nguyễn Tuân nói: “tôi còn sống đến hôm nay

nhờ biết sợ”. Con chuột nói: “tôi ăn no vì

biết tôn kính mèo”. Đặng Tiểu Bình nói:

“mèo đen mèo trắng, no problem, miễn bắt được chuột”

thôi đi các người, những vĩ nhân đậu luộc

sự thông thái của các người khiến não tôi bị bệnh trĩ

chúng ta ngủ trong mùng nhưng mùng đầy muỗi

chúng ta ở trong nhà nhưng nhà đầy bọ

chúng ta ở trong hoà hoãn của ao tù

chúng ta yêu nước nhưng yêu nước đã bị độc quyền

thương hiệu ăn khách này chỉ dành cho Đảng

những tên chuyên chia thịt ở đình làng

và một bọn lao nô tư tưởng

đất nước bụng trương

văn hoá sán lãi

con người nhai đồng loại rau ráu

Cửu Long Giang không rửa hết tưởi tanh

một thời đại bùn lầy

muốn làm người chúng ta

phải

ra

đi.

2. Thời đại ngoại vi

Hoang mang và phấn khích

chúng ta đặt chân lên đất lạ

không khí lạ, nhà cửa lạ, tiếng nói lạ,

cầu tiêu lạ, người ta lạ,

mình là người lạ

làm thế nào để tái tạo

một thế giới đã mòn

ở trục khô dầu rên rỉ

chúng ta ăn mặc chải chuốt nhưng đứng ngồi lố nhố

thói quen những con còng châu thổ

hút bụi suốt đêm trong toà nhà chọc trời

biển Seattle ngoài kia đen, lạnh cóng

ở California đứng máy suốt ngày tay chân rời rã

dây chuyền chạy quá nhanh, chúng ta đến từ xứ sở chậm

trái tim người di cư lỗi nhịp

trong sương mù San Francisco đợi xe bus

chúng ta lo sợ một lần nữa bị bỏ quên

ở Arkansa mùa đông hai mươi lăm độ dưới không

chúng ta cắt thịt bò trong những nhà máy lạnh

đôi khi cắt luôn ngón tay đeo nhẫn cưới

trên những tàu đánh cá Alaska

chúng ta ngủ vật vờ như sứa sau mười sáu giờ làm việc

trở về đất liền tiêu một phần ba tiền kiếm được

vào nhà thổ Đại Hàn

một phần ba gởi về gia đình ở Việt Nam

một phần ba trả tiền thuê phòng và mua thuốc lá

chúng ta, những người hút thuốc lá

vô địch Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ

chúng ta học ngôn ngữ mới

và nói về nó bằng ngôn ngữ cũ

phát âm thật khó khăn

như người nửa lưỡi

thường bị tảng lờ

tuy vậy, không ai bịt miệng mình

bằng băng keo, băng rôn, băng đạn, băng đảng, băng vệ sinh

chúng ta học lắng nghe

trong lặng im nước mắt

chiều kẹt xe freeway, CD lậu, ai hát:

“Bonjour, Vietnam”

đây là nơi chúng ta thấy thế giới lần đầu

những đất nước khác nhau, những sa mạc khác nhau, những cánh rừng khác nhau, những thành phố khác nhau, những nông trại khác nhau, những mái nhà khác nhau, những áo quần khác nhau, những thức ăn khác nhau, những ngôi mộ khác nhau, những con đường dẫn đến các mục đích khác nhau, thờ phượng linh thiêng hay giễu cợt,

những âm mao khác màu

chúng ta những thuyền nhân, cựu sĩ quan, vợ goá, con mồ côi

bị săn đuổi trên quê hương, đẩy vào bụi rậm

hãm hiếp nhân quyền và chửa hoang ký ức

nơi đất cũ chúng ta không có lợi tức nào ngoài bán máu

nơi đất mới tài sản duy nhất của chúng ta là hy vọng

chúng ta trải qua nhiều giờ khắc suy nghĩ về số phận

vặn đồng hồ báo thức, nhìn ngắm bức ảnh cũ, rồi đi ngủ

bao giờ cũng nhét cuốn từ điển dưới gối

phòng trường hợp gặp người lạ trong giấc mơ

lao lực lao lực lao lực

nhưng chúng ta cũng có những giờ phút ngơi nghỉ dịu dàng

dưới vòm lá tháng Tư khu vườn đầy tiếng chim không bị săn đuổi

đồng cỏ tận chân trời

xa lộ tự do

chúng ta lái xe qua đại lục mênh mông

bay đến những thành phố Á, Âu dần trở nên quen thuộc

hơn Bạc Liêu, Châu Đốc,

hơn Thanh Hoá, Ninh Bình,

hơn Hà Nội một nghìn năm xa cách

nhìn con cái mình lớn lên

chúng ta bồi hồi tương lai giống Tiên Rồng khỏe mạnh

nở trứng ở xứ người

và ngậm ngùi một quê hương đã mất

những con đường đã mất, xe đạp xanh đã mất

mùa hè hoa phượng đỏ Kontum đã mất

sông đã mất rồi biển sẽ mất

xứ sở này không phải thiên đường

đây chỉ là nơi con người không

hối

tiếc

đã

sinh

ra

ngoài trời tuyết rơi

chúng ta ngồi những đêm cô độc

rì rầm ngoài kia xe cứ cỡi lên đường

ngày mai đến qua nhanh

công lý bắt đầu bạc tóc

lịch sử không chạy, lịch sử không đi, lịch sử lết lê què quặt

chúng ta muốn lịch sử tiến lên, động tình, sinh sản

nhưng lòng người bại liệt, ý chí khô nước nhờn

Viagra nè cố lên cố lên

Việt Nam ơi

chúng ta ở đây bình nhật, bình thường

nhưng không phải lúc nào cũng bình yên

áo lính sờn cũ (mua chợ trời Mỹ)

người đàn ông làm vài ngụm rượu từ chiếc bình toong thời chiến

ngồi hàng giờ nhìn những đám mây

không kịp về phương Đông trước khi ngày tắt nắng

ông từng bị giam trong lòng đất

khẩu phần mỗi ngày một trăm hai mươi bảy hạt ngô

bao giờ cũng dành một hạt

dùng đếm thời gian

thời gian bóng tối

có mùi trứng ung

con người là sinh vật duy nhất biết cách giữ ký ức không vữa nát

sinh ra để sống dưới mặt trời

đôi khi chúng ta bị lùa vào ô nhục

bởi lũ đồng cô bóng cậu mang vũ khí

cơn điên tập thể này phải mấy mươi năm nữa mới thăng

áo choàng dài, mùa đông Illinois đằng đẵng

đây là nơi chúng ta sẽ yên nghỉ sau cùng

trong nghĩa trang tuyết trắng

cạnh bạn bè khác tộc

(chúng ta học từ họ lòng yêu đời, sự trầm tĩnh trước cái chết)

nơi đây không cần kẻ khóc mướn

bọn ăn thịt thây ma đã bị nha sĩ bẻ răng

chúng ta đến xứ sở này xa lạ

ra đi chưa hết lạ

nhưng không bao giờ thôi yêu mến

mặt hồ đại lượng

căn nhà chở che hạnh phúc

lối mòn nhỏ ven rừng con ta bước tiên khởi tự do

đây là nói chúng ta hàn gắn mình

như thợ giày khâu vết thương há miệng

sau đường dài ngập máu

sau đường dài ngập phân

sau chợ chiều cân xác chết chiến tranh

một triệu tiếng chuông không mua hết oan hồn

đây là nơi chúng ta sống đàng hoàng

và chết vào buổi chiều có cánh

bay về một xứ sở đã xa

địa lý của chúng ta ở giữa những kinh tuyến của u hoài và triển vọng

lịch sử của chúng ta như mặt trống

đau đớn và âm vang

không bao giờ im lặng

không bao giờ sơn phết

không bao giờ lãng quên.

March-July 2007

Phan Nhiên Hạo sinh 1967 tại Kontum, Việt Nam, sống ở Hoa Kỳ từ 1991. Học xong khoa Văn Đại học Sư phạm, TP HCM, 1989. Cử nhân văn chương Anh-Mỹ (1998) và cao học thư viện-thông tin (2000) tại University of California, Los Angeles (UCLA). Hiện làm việc trong một thư viện đại học ở Illinois và theo học cao học nhân chủng học văn hoá.

Tác phẩm Night, Fish, and Charlie Parker. Tuyển tập thơ song ngữ, Đinh Linh dịch. Dorset: Tupelo Press, 2006; Chế tạo thơ ca 99-04. Thơ. San Jose: NXB Văn, 2004; Thiên đường chuông giấy. Thơ. Garden Grove: NXB Tân Thư, 1998.

Một số thơ dịch ra tiếng Anh in trên các tạp chí Xconnet, Cutbank, MANOA, Filling Station, The Literary Review…, các tuyển tập: Of Vietnam Indentities in Dialogue, Three Vietnamese Poets.

Website http://www.haophan.net