Trịnh Hữu Tuệ – Cao hơn một mét
09/08/2009 | 11:29 sáng | 100 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Vai trò của trí thức
Trong bài mới đây của mình, Dương Danh Huy nói anh “không tin rằng tất cả các trí thức Việt Nam đều không cần nói về tự do.” Diễn đạt ngắn gọn hơn, ý của anh là một số trí thức Việt Nam cần nói về tự do. Tôi đồng ý với anh ở điểm này. “Tự do” là một khái niệm quen thuộc, nhưng không phải vì thế mà nó dễ hiểu. Bằng chứng là nhiều trí thức vẫn sống như nô lệ, mặc dù về mặt pháp lý, họ là những công dân tự do. Một nô lệ không bao giờ dám phê bình chủ mình một cách công khai, mặc dù hắn có thể chửi ông ta như hát hay khi ngồi cùng bạn bè. Hắn luôn để ý đến tâm trạng của chủ để biết lúc nào nên nói, lúc nào nên im. Hắn khoái chí khi “chọc khéo” được chủ bằng câu này, câu kia. Có những trí thức coi cách sống này là khôn ngoan, thức thời. Họ hùng hồn phê phán chính quyền trên bàn rượu nhưng câm như hến khi ra trước công luận. Họ luôn tính toán xem lúc nào nên nói gì, và phải nói thế nào để “có người nghe,” để “không bị tường lửa.” Họ thỏa mãn với những comments tủn mủn kiểu hàng nước, đặt bên cạnh những mẩu tin lấy từ CAND. Những trí thức này nhìn Martin Luther King bằng con mắt ái ngại và nhìn Condoleezza Rice bằng con mắt thèm thuồng. Họ mải mê cân nhắc các “điều kiện thực tế” mà quên đi nhiệm vụ căn bản nhất của mình: nói sự thật.
Có người nói tôi quá đề cao giới trí thức khi tôi bảo họ có nhiệm vụ nói sự thật. Tôi không nghĩ vậy. Tôi không nghĩ nhiệm vụ này làm ai cao quý hơn ai. Nó là nhiệm vụ của tất cả mọi người. Tôi nhấn mạnh tầng lớp trí thức chỉ vì tôi nghĩ quá trình đào tạo, môi trường làm việc và quan hệ xã hội của họ mang lại những thuận lợi rõ ràng khi họ muốn nói sự thật. Đối với những người lao động chân tay, có internet để đọc đã là cả một vấn đề, nói gì đến chuyện viết một bài báo. Nhân đây cũng xin lưu ý rằng khi những người lao động chân tay bị kết tội im lặng, chẳng trí thức nào đứng ra bảo vệ họ. Tôi vẫn nhớ vụ cô bé Nguyễn Thị Bình. Cô bé này phải làm không công cho một quán phở trong suốt 10 năm. Không những thế, Bình còn bị hai vợ chồng chủ quán thường xuyên đánh đập dã man. Những người sống xung quanh biết cả nhưng ai cũng làm ngơ, trừ một bà bán thịt bò. Lúc chuyện vỡ lở, hàng xóm của Bình bị công luận lên án kịch liệt. Họ bị gọi là “nhẫn tâm,” là “vô cảm,” mặc dù họ có nói là họ “sợ bị trả thù.” Lúc đó, chẳng giáo sư nào nhắc đến “quyền được im lặng về một số vấn đề” của họ. Chẳng phó giáo sư nào bảo họ “im lặng nhưng vẫn làm được những việc có ích.” Chúng ta khác gì những người hàng xóm kia khi chúng ta im lặng trước những hành vi mọi rợ không kém? Có bao nhiêu người trong số chúng ta dám hé răng nói nửa lời khi Điếu Cày không được phép dùng màn tránh muỗi, khi Trần Khải Thanh Thủy bị ném phân vào nhà etc? Có lẽ, chúng ta chỉ khác những người hàng xóm của em Bình ở khả năng biện minh cho sự im lặng của mình mà thôi. Phải, ta có thể tha hồ chửi rủa một bà bán quần áo hay một ông công an, nhưng khi ta động đến trí thức, ta sẽ được nhắc nhở rằng họ phải im lặng để “đạt được những mục đích cao hơn.” Ta sẽ bị coi là “simplistic, chưa có đủ cơ sở, và quá khắt khe,” sẽ bị gán cho một loạt những “fallacies” mà “người Việt hay mắc phải khi tranh luận.”
Một nô lệ vô học chỉ có thể hái bông. Một nô lệ biết đọc wiki có thể bắt nạt được một vài nô lệ khác. Một nô lệ có học như Condoleezza Rice có thể giết hại hàng trăm ngàn người. Nói đến đây, tôi lại nhớ đến một câu trong nhật ký của Victor Klemperer – một giáo sư gốc Do Thái sống trong nước Đức Quốc xã. Ông nói về các đồng nghiệp chấp nhận đi theo phục vụ chính quyền phát-xít như sau.[1]
“Nếu có ngày tình thế thay đổi và số phận những kẻ thua trận nằm trong tay tôi, tôi sẽ tha thứ đám dân thường. Thậm chí, tôi sẽ tha thứ một số lãnh đạo – họ có lẽ cũng chỉ là những kẻ thật lòng và không biết mình làm gì. Nhưng tôi sẽ treo cổ hết các trí thức, và tôi sẽ treo các giáo sư cao hơn những tên khác một mét; tôi sẽ để chúng trên cột đèn chừng nào vệ sinh còn cho phép.”
Sự phẫn nộ của Klemperer, theo tôi, là hoàn toàn chính đáng.
[1] Nguyên văn tiếng Đức là: “Wenn es einmal anders käme und das Schicksal der Besiegten läge in meiner Hand, so ließe ich das ganze Volk laufen und sogar etliche von den Führern, die es vielleicht doch ehrlich gemeint haben könnten und nicht wußten, was sie taten. Aber die Intellektuellen ließe ich alle aufhängen, und die Professoren einen Meter höher als die anderen; sie müßten an den Laternen hängen bleiben, solange es sich irgend mit der Hygiene vertrüge.” Tôi gặp câu này trong bài Resort to Fear của Noam Chomsky.
Tôi thấy bác nguyen hoa mai đã phân tích một cách duy lý.
Chỉ mới qua hai bài viết mà có người đã gán nhãn mác cho Trịnh Hữu Tuệ là “chống cộng cực đoan”. Chúng ta thường hay gán nhãn mác như một cách giải quyết vấn đề đơn giản và dễ dãi nhất. Việc gán nhãn mác là một cách “ám sát” vấn đề nhặm lẹ nhất.
Trong hai bài viết của THT, tôi không thấy có một từ nào gợi đến “chống cộng cực đoan”, và hình như chính anh Tuệ trong một ý kiến phản hồi đã nói về chuyện này. Theo tôi hiểu, vấn đề THT đề cập là: Trí thức im lặng hay không im lặng trước cái xấu? THT không kết án ai hèn cả và cũng không lên án “im lặng” như là sự im lặng nói chung, mà anh chỉ muốn phê phán cái im lặng có “tính toán” (“tính toán” trong ngoặc kép!).
Tôi xin nhắc lại một câu của anh Tuệ như là để tự vấn với chính mình (chứ không phải ai khác, xin đừng bắt bẻ!): Lẽ nào “chúng ta chỉ khác những người hàng xóm của em Bình ở khả năng biện minh cho sự im lặng của mình mà thôi”?
Xin cũng đừng nên so sánh dễ dãi việc tranh luận hiện tại mà tôi cảm nhận có chiều hướng sa đà vào tiểu tiết với tranh luận cách đây 100 năm của hai cụ Phan. Hai bậc Sĩ Phu này có cùng mục đích là giành độc lập dân tộc, hai Cụ chỉ khác nhau về sách lược hành động. Liệu sự vụ bàn cãi ở đây có đúng vậy hay tương tự như thế không?
Trong phản hồi của chị Phạm Thị Hoài, chị có nhắc đến trường hợp triết gia Martin Heidegger để minh họa cho câu trích dẫn của V. K. trong bài, nhưng chị không kết án Heidegger. Trái lại, ẩn sau ngôn từ, tôi nhận thấy chị thể hiện sự kính trọng đối với vị Triết gia vĩ đại này.
Nhưng ngay trong phản hồi sau đó anh Dương Danh Huy đặt vị triết gia này trong bối cảnh so sánh với trường hợp đang nói tới. Điều này có phần đơn giản hóa vị triết gia được đánh giá là lớn nhất của thế kỷ XX. Xin chú ý rằng việc nhìn nhận về Martin Heidegger vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau.
Cuối cùng, dù không phải đồng ý hoàn toàn với bài viết của Trịnh Hữu Tuệ, nhưng tôi trân trọng tác giả ở cách đặt vấn đề thẳng thắn, không tránh né, so tính thiệt hơn.
Tôi thấy mỗi người có cách nhìn khác nhau về một câu chuyện, một cảnh tượng, hay có khá năng thay đổi khái niệm khi lý luận.
Vì vậy, phê phán chuyện trí thức (người có tài) mà im lặng đã chuyển thành điều tệ hại hơn là kẻ bất tài (không trí thức) mà làm ồn ào. Hay khi nhắc lại những trì thức Đức hợp tác với Nazi để biến châu Âu thành đóng tro tàn, khiến mất mạng hàng triệu sinh linh, những con người ưu tú nhất ở thời đại đó, nên họ thật đáng bị lên án nặng nề, thì lại trở thành nhận định hình phạt “treo cổ” là ác độc, hay những lời kết án thế nào đó là “thô bỉ”, và bỗng dưng ông Trần Hữu Dũng biến thành nạn nhân trong một vụ treo cổ sống.
Theo tôi nghĩ, cho tới bây giờ nhiều lắm ông Dũng chỉ bị coi như “cúi mặt làm thinh” (theo lời một bài hát). Tôi nghỉ “làm thinh” đối với người Nam Bộ nghe ấn tượng hơn là “im lặng”, và nghĩ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, mà “thầy ba Dũng Mỹ Tho” dường như thích đọc, thường viết “làm thinh” hơn im lặng. Không ai nói ông ấy hợp tác hay cộng tác với chính quyền nào, và nên loại bỏ hay dừng lại trước những suy diễn xa gần như vậy. Ông ấy không là Tôn Thọ Tường, không cần làm thơ biện minh và cũng không cần ai biện hộ dùm, càng không phải là Heidegger hay trí thức nào khác ở Đức mà Klemperer muốn nói tới. Tôi nghĩ ông Trịnh Hữu Tuệ khi nhắc lại câu nói của Klemperer không phải là nêu lên chuyện “treo cổ” mà muốn nói trí thức đáng bị lên án nặng hơn (treo cao hơn) nhiều người, vì họ không phải là “những kẻ thật lòng và không biết mình làm gì” như “dám dân thường” hay ngay như “một số lãnh đạo”. Nhưng dù sao đó là chuyện đã xảy ra ở nơi rất xa VN, cách nay hơn nửa thế kỷ, với những hậu quả khác nhiều.
Góp ý của ông Nguyễn Hoàng theo tôi là tổng kết đầy đủ ý tưởng của ông Tuệ, và những ý kiến chính tạm gọi là “phản biện” về thái độ ngoảnh mặt làm ngơ của trí thức trước hiện tình đất nước (chứ không phải phê phàn cung cách xu phụ mà lịch sử TQ và VN đã ghi lại rất nhiều thí dụ). Sáng nay tôi vào mục Kinh tế của Viet-studies vẫn thấy những tin tức được dẫn từ CATP, CATD, ANTD, dẫn một bài báo trong nước viết (với phê phán hay xuyên tạc) về “Đảng DCVN phục hoạt”, những bản tin vặt vãnh vẫn nhiều, vài nhận xét tủn mủn (dường như là từ của ông Tuệ) khác xa với coi như lời bình của Kim Thánh Thán (là lời khen ông Dũng của một góp ý ở đây), và cũng có những bàn tin (tiếng Anh) về kinh tế, về tình hình ở Tam Toà, nhưng nhìn chung chỉ như vài nét phấn son trên một gương mặt lớn. Trong khi đó trang Bauxite Viet Nam, thành hình trong điều kiện khó khăn hơn nhiều, với những người viết và chủ trương như đang trên đe dưới búa, hay trong dầu sôi lửa bỏng, nhưng vẫn giữ được tiếng nói mạnh mẽ với đề tài ngày càng mở rộng.
Không lạ khi có người đã hoan nghênh hay cám ơn ông Tuệ khuấy lên được một âm thanh tuy nhỏ trong cái im lặng dày đặc, bao trùm. Dù có những phản ứng thuận nghịch thế nào vẫn tốt hơn cái im lặng của nghĩa trang, khi trí thức VN bị (tự) coi là không từng có, hay không còn nữa.
classicalmood nói: “Không biết bác cố tình hay hữu ý thay tên PBC thành NAQ. Tôi nghĩ PCT bút chiến với PBC là chính chứ đâu có NAQ. Lý do và cơ sở nào bác lại nghĩ rằng NAQ suốt ngày nhảy chồm chồm và to tiếng lên như thế hay là bác suy đoán thuần cảm tính thế thôi?”
Ông Phạm Quang Tuấn chỉ vừa đụng nhẹ vào Nguyễn Ái Quốc thì ông “classicalmood” đã giãy lên như thế đấy.
Ông “classicalmood” đúng là một ví dụ cho thái độ “trí thức im lặng”, tuyệt đối tránh đụng chạm đến các lãnh tụ. Nếu ai khen lãnh tụ thì lại vui vẻ phụ họa ngay.
@ lephudien:
“Tôi nghĩ trong một chế độ pháp trị thì không ai quan tâm đến động cơ của anh, mà quan tâm đến việc làm của anh, miễn là anh không vi phạm pháp luật. Biết đâu chính vì cầu lợi cho mình mà anh lại đóng góp cho xã hội, ngược lại anh có lòng tốt nhưng không biết cách làm biết đâu lại thành phá hoại”.
>> Cầu lợi cho mình cũng là một động cơ tốt, có thể dẫn đến đóng góp tích cực cho xã hội. Nhưng xin lưu ý, khi cầu lợi cho mình thì đừng tìm cách làm hại cho người.
>> Anh có lòng tốt và có động cơ tốt không có nghĩa việc làm nào của anh cũng thành công. Nhưng sự không thành công của anh là tổn thất của riêng anh chứ anh không thể biến nó thành tổn thất của người khác bằng sự (vô tình hay cố ý) phá hoại với ý nghĩa xấu. Vấn đề ở đây là quan hệ xã hội giữa mình và người khác để đánh giá, định lượng các mức độ được xem là thành công hay thất bại, tốt hay xấu, động cơ trong sáng hay không trong sáng.
>> “Biết cách làm” để đóng góp cho xã hội. Giống như rất nhiều công ty (rất biết cách làm), đóng góp cho xã hội rất nhiều như đóng thuế, làm từ thiện, xây nhà tình nghĩa, tình thương, nhưng đến một ngày không hiểu sao lại bị phanh phui do làm ăn bất chính, do phá hoại môi trường. “Động cơ” thuộc nội hàm của “ý thức”. Nếu chỉ nhìn những việc làm mà quên đi ý thức về việc làm với động cơ ích mình lợi người và ích lợi chung thì xã hội này sẽ không cần phải bàn đến lương tâm, vì vẫn có những sự việc đúng luật mà trái lương tâm.
>> Xin hỏi trong chế độ pháp trị có “giết người”, “đốt nhà”, “cướp của” đúng luật hay không? Mạnh ai nấy làm những điều pháp luật không cấm, nhưng nếu pháp luật chỉ soi chiếu việc làm của họ không cần suy nghĩ đến động cơ, thì kẽ hở, sự chưa hoàn chỉnh của pháp luật sẽ luôn châm mồi cho những hành vi lách luật, bất thiện.
“Một ông quan thanh liêm nhưng ngăn sông cấm chợ (vì nghĩ vậy là đúng) chưa chắc đã hay bằng một ông quan kém thanh liêm hơn nhưng dân được tự do hơn”.
>> Có khả năng về một cái thanh liêm không hay bằng cái kém thanh liêm. Từ “hay” này: “rằng hay thì thật là hay… nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”.
>> Không biết sẽ phải định mức “kém thanh liêm hơn” ở chừng mực nào? Vì dư luận xã hội Việt Nam vẫn xem tham nhũng như là quốc nạn trong thời đại toàn cầu hóa (không còn cảnh và khó có thể “ngăn sông cấm chợ”), nhưng đáng tiếc nó chưa đi với sự “tự do hơn”. Tôi không nghĩ rằng sẽ có sự logic (hay tương đồng) giữa việc kém thanh liêm hơn và dân được tự do hơn.
Tôi nghi ngờ câu nói “Tôi không hề có chút cảm tình nào với chính quyền hiện hành” của lephudien. Vì với những kiến giải trên của lephudien, tôi không biết ông đang “khen” (sự kém thanh liêm) hay “chê” (sự thanh liêm) của chính quyền hiện hành này? Có thể nào không có cảm tình mà vẫn khen (cho nó chết) chăng?
@lephudien
(i) Tôi nghĩ ông quan thanh liêm thực thi chính sách “ngăn sông cấm chợ” cho phải đạo chính trị (tạm dịch politically correct) vẫn dễ thở hơn là ông quan vô liêm sỉ được trao quyền hành để thực thi cùng chánh sách đó.
(ii) “…chính vì cầu lợi cho mình mà anh lại đóng góp cho xã hội,…”
Anh nói đúng theo những lý thuyết kinh tế thuần lý (economic rationalism)cận đại mà các nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel khai phá và nhiều nước Tây phương đã áp dụng các lý thuyết này làm nền tảng cho các chính sách kinh tế, xã hội, y tế và giáo dục. Nhưng khi theo dõi cuộc khủng hoảng tài chánh vừa qua tôi thấy rằng sự cầu lợi quá đáng (thủ lợi, tham lam?) của các nhà tài phiệt là nguyên nhân chính. Với kiến thức và kinh nghiệm tài chánh dạn dày, giới tài phiệt tạo ra những sản phẩm tài chánh hợp pháp và hấp dẫn kích thích lòng tham chiêu dụ người ta đầu tư để hưởng những số tiền hay mối lợi kếch xù đưa tới hậu quả là sự xáo trộn kinh tế thế giới mang vài quốc gia như Iceland đến bờ vực của kiệt quệ phá sản.
Rất may là chiến tranh loạn lạc không xảy ra nhưng người ta bắt đầu nói đến một cuộc chiến tranh lạnh mới toanh đang ngấm ngầm xảy ra tại các quốc gia bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng này. Tôi cũng đồng ý với thủ tướng Anh quốc, ông Gordon Brown, và một vài nguyên thủ quốc gia trong G20 lên án việc làm “phản đạo đức” của các tay tài phiệt tại một cuộc nhóm tại một giáo đường bên lề hội nghị G20 tìm phương cách đối phó với cơn khủng hoảng tài chánh đầu năm nay tại Luân Đôn với sự tham dự của toàn thể các nguyên thủ quốc gia trong G20. Trong cuộc hội nghị, các nguyên thủ G20 đã chính thức kêu gọi việc kiểm soát chặt chẻ hơn các công ty tài chánh để tránh việc khủng hoảng tái diễn.
Việc lên án “tài phiệt vô đạo đức” chỉ xảy ra tại một giáo đường bên lề cuộc hội nghị chính thức. Xiết chặt luật lệ tài chánh mới được lên tiếng trong hội nghị cho đúng protocol. Hai sự kiện này làm tôi suy nghĩ: ai có biết dâu rằng đặt ra thêm luật lệ chỉ là thêm thử thách những tay tài phiệt gian và khôn ngoan tìm cách luồn lách thôi! (trừ phi các tay tài phiệt này chịu nhín chút tìm đến giáo đường hay nhà chùa để thường xuyên nghe lại sự nhắc nhở của lương tâm trong việc cầu lợi và qua đó cầu cho quốc thái dân an!)
Đôi dòng chia sẻ với anh lephuduc vài chuyện thế sự. Tôi nghĩ là chuyện không đi xa đề tài “vai trò của trí thức” thread này đang sôi nổi thảo luận. Cũng xin tạ lỗi độc giả nếu thấy chuyện này không gần chuyện VN lắm. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi vẫn thấy nó xa mà gần VN nên mạo muội post lên đây.
Bác Nguyễn Hoàng,
Có người như ông Phạm Quang Tuấn phản biện rằng Trịnh Hữu Tuệ lại rơi vào “bẫy” suy luận (fallacies), có người như ông Dương Danh Huy lại cho rằng Trịnh Hữu Tuệ không được phép phê phán những người khác nặng lời, nhưng cả hai ông vẫn không thể đi thẳng vào vấn đề chính trong bài viết “Cao hơn một mét” của Trịnh Hữu Tuệ. Tại sao lại như vậy?
Sự thật là tôi đã nói về v/d lên tiếng của trí thức rồi, nhưng không rõ vì sao bác cho rằng tôi “không thể đi thẳng vào vấn đề chính”. Nếu bác không đồng ý với điều tôi nói thì chẳng có v/d gì. Còn cho rằng “không thể đi thẳng vào vấn đề chính” thì là bác đã không hiểu tôi nói gì.
Chúng ta chia các trí thức làm hai nhóm. Nhóm có tự do và nhóm không có tự do, còn được Trịnh Hữu Tuệ gọi là nhóm nô lệ có học. Không đi vào định nghĩa của sự tự do, Trịnh Hữu Tuệ làm một phép so sánh những nô lệ có học với những nô lệ vô học. Trên căn bản này, chúng ta có thể thử đưa ra một sự đánh giá khách quan về hai nhóm nô lệ này.
BTW, tôi thấy trong phân tích/tranh luận thì tiền đề càng có ít assumption càng tốt.
Đằng này, phép so sánh gì mà căn bản của nó là trí thức “im lặng” là những người sống như nô lệ, không hiểu tự do.
Đã vậy thì còn “đưa ra một sự đánh giá khách quan” làm gì nữa cho nó mệt.
Lại còn “sự đánh giá khách quan về hai nhóm nô lệ” nữa chứ.
Nếu nói đó là tư duy của toà án kangaroo thì là sỉ nhục cho loài kangaroo.
Im lặng đến bao giờ?
Có người như ông Phạm Quang Tuấn phản biện rằng Trịnh Hữu Tuệ lại rơi vào “bẫy” suy luận (fallacies), có người như ông Dương Danh Huy lại cho rằng Trịnh Hữu Tuệ không được phép phê phán những người khác nặng lời, nhưng cả hai ông vẫn không thể đi thẳng vào vấn đề chính trong bài viết “Cao hơn một mét” của Trịnh Hữu Tuệ. Tại sao lại như vậy?
Bài viết của Trịnh Hữu Tuệ cũng đã bước qua phạm vi của câu hỏi mà Vương Thế Lan đặt ra: “Trí thức nên im lặng hay lên tiếng?” Câu hỏi mà Trịnh Hữu Tuệ đã cố gắng trả lời là: “Chúng ta nên đánh giá các trí thức như thế nào?”. Ý của Trịnh Hữu Tuệ tương đối đơn giản.
Chúng ta chia các trí thức làm hai nhóm. Nhóm có tự do và nhóm không có tự do, còn được Trịnh Hữu Tuệ gọi là nhóm nô lệ có học. Không đi vào định nghĩa của sự tự do, Trịnh Hữu Tuệ làm một phép so sánh những nô lệ có học với những nô lệ vô học. Trên căn bản này, chúng ta có thể thử đưa ra một sự đánh giá khách quan về hai nhóm nô lệ này. Với những ví dụ cụ thể, ta thấy Trịnh Hữu Tuệ chỉ ra rằng điểm khác biệt thứ nhất giữa những nô lệ có học và nô lệ vô học là ở chỗ họ khôn khéo biết biện minh cho những hành vi “im lặng” của chính mình, còn những kẻ kia thì không. Những nô lệ vô học bị dư luận phê phán, còn những nô lệ có học lại “thoát” được sự phê phán của công luận. Tôi cũng thấy rằng, đôi khi một số kẻ có học còn có thể không cần phải biện minh gì cả thông qua việc tuyên bố mình không phải là trí thức, trong khi họ ăn uống, ăn mặc, nói năng, đi đứng, sống và viết lách như một nhà trí thức, ví dụ như một vị giáo sư hay nói tôi không phải là trí thức, nhưng viết “[chúng] ta cần biết [chúng] ta hơn nữa.”
Như vậy, ta thấy có một sự đối xử bất công đối với những nô lệ nói chung khi không dám hay không muốn đánh giá công bằng về những nô lệ có học. Tôi cho rằng sự có học và danh tiếng không phải là một lá bùa hộ mệnh trước sự phê phán của xã hội. Tôi cho rằng sự có học và danh tiếng là một may mắn dành cho tất những ai được học hành đàng hoàng, nhất là được học hành thành danh ở nước ngoài. Họ và trên hết là những giáo sư, mắc nợ đối với đồng loại của mình tương đối nhiều, nhất là đối với đồng loại bất hạnh đang giãi nắng giầm mưa, hoặc đang ở trong ao tù và lao tù của những sự đàn áp, bất công.
Để đánh giá một cách khách quan công và tội của những nô lệ có học khác với những nô lệ vô học, cũng cần chú ý đến những hậu quả do họ gây ra và đã gây ra tới những người khác. Đây là điểm khác biệt thứ hai mà Trịnh Hữu Tuệ nêu ra. Trịnh Hữu Tuệ viết : “Những nô lệ có học … có thể giết hại hàng trăm ngàn người.” Chúng ta nên phẫn nộ hay không phẫn nộ trước những trí thức nô lệ như vậy? Nếu có, sự phẫn nộ ấy có chính đáng hay không? Chúng ta có nên nhắm mắt bỏ qua và không đánh giá về những hành vi và hậu quả đó? Nếu phải đánh giá, chúng ta sẽ đánh giá chúng như thế nào, và tại sao sự đánh giá của Victor Klemperer không thể trở thành một ví dụ điển hình?
Chúng ta có nên dừng lại ở đó với sự đánh giá về những trí thức thuộc về quá khứ hay không? Hay chúng ta thấy cần thiết phải nhận xét về những lời nói và hành vi của những trí thức ngày nay trước khi để cho những hậu quả nào đó có thể xảy ra đối với những người khác? Tôi cho rằng đó là điều mà chúng ta nên làm đối với những trí thức “im lặng”, trước còn hơn sau. Riêng đối với những trí thức nô lệ đã chấp nhận đi theo phục vụ chính quyền phát xít, như Trịnh Hữu Tuệ trích dẫn, « treo cổ » hay không, dù sao cũng đã quá muộn. Lịch sử của những nạn nhân Do thái và người khác đã chứng minh điều đó.
@trieu
Xin cám ơn bác đã phản hồi. Tôi hoàn toàn đồng ý với bác về điểm ii.
Ở đây xin cũng nói thêm là tôi không hề có chút cảm tình nào với chính quyền hiện hành. Cách đây vài năm tôi cũng có chút hi vọng là thế hệ lãnh đạo trẻ hơn một chút này lên thì sẽ có chút thay đổi, nhưng cuối cùng, nói như “người buôn gió” – http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/7/7 – thì họ cũng chỉ là một lũ tắc kè hoa thôi. Một đằng thì họ rêu rao “xây dựng nhà nước Pháp quyền” vậy mà có phản biện khoa học thì bây giờ họ lại cấm: http://www.phapluattp.vn/news/chinh-tri/view.aspx?news_id=265105
Trong chính quyền đấy có một nhân vật đặc biệt tên là Nhân, nghe nói đã từng thụ nghiệp ở Harvard. Ông này đã từng học ở Tây nhưng xem những cái mà ông ta nói và làm thì rất khác. Nhiều lúc tôi tự ngờ rằng việc dựng lên ông Nhân lên là một “âm mưu ” :). Một “âm mưu” sâu xa của một số người để chỉ ra rằng những người Âu học toàn là những người ấm ớ như thế :).
@Nguyên Đào
Để trả lời bác về hai chữ đức và tài tôi xin có hai ý:
i. Hôm qua tôi trích dẫn phỏng vấn của ông Đặng Nhật Minh, ý ông ấy nói là nhiều người thích đổ lỗi cho cơ chế mà không nghĩ rằng họ không có tài năng đích thực. Nói một cách rộng hơn trong hơn 30 năm qua chính quyền, nhất là chính quyền dưới thời ông Duẩn là rào cản sự phát triển của dân tộc nhưng cái rào cản ấy lớn như thế nào? Nên nhớ rằng chính quyền đấy hơn 20 năm cuối cũng có một số thành công nhất định có thể ghi nhận.
Liệu không có rào cản ấy thì dân tộc mình đang đứng ở đâu?
Một sô người cho rằng nếu vẫn còn hai miền thì miền Nam sẽ như là Đại Hàn bây giờ, tôi cho là niềm tin ấy là quá dễ dãi. Tôi chỉ xin lấy ví dụ nho nhỏ cho vui: ngay từ thời trước người TQ họ đã có câu “nhất Cao Ly, nhì Nam Việt” hay ngay cả việc ông Mạc Đĩnh Chi thắng được ông trạng Cao Ly cũng nhờ tiểu xảo thôi.
Theo thiển ý của tôi thì nước ta sẽ đứng vững chãi (cũng như bóng đá) ở vùng Đông Nam Châu Á. Ở đây tôi xin dùng ý của ông Đỗ Kh. trong bài http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9856&rb=0307 “nhưng về mặt phát triển kinh tế, chẳng ai lo hay phải ngồi bàn ra cãi vào là chẳng bao giờ hay bao nhiêu năm nữa mới đuổi kịp một quốc gia bên cạnh như là Thái Lan” với một chữ “nhưng”.
Chữ “nhưng” bởi vì tôi thấy bóng đá VN, rõ là phi chính trị, được đầu tư và kỳ vọng rất nhiều vậy mà 20 năm nay mới thắng được Thái 2 lần.
Trong kinh tế, cái nào hiếm hơn thì quý hơn. Tôi ngờ rằng nước mình hiện tại thiếu cái tài nhiều hơn. Khác với bác Nguyên Đào, nếu Việt Nam có một người như ông Salvador Dalí thì tôi quá mừng.
ii. Nước ta, có lẽ vì truyền thống, từ trước tới giờ cả chính quyền lẫn trí thức đều gần với quan điểm nhân trị nên hay đặt ra câu hỏi tài/đức.
Quan điểm đó, đại loại là ở đâu đấy có một cái chân lý, một điều tốt. Một ông quan hay là một ông trí thức tìm/nghe… được điều đó và đó là điều để cho trăm họ noi theo. Đánh giá một hành động nào đó trước hết là đánh giá về động cơ.
Tôi nghĩ trong một chế độ pháp trị thì không ai quan tâm đến động cơ của anh, mà quan tâm đến việc làm của anh, miễn là anh không vi phạm pháp luật. Biết đâu chính vì cầu lợi cho mình mà anh lại đóng góp cho xã hội, ngược lại anh có lòng tốt nhưng không biết cách làm biết đâu lại thành phá hoại.
Có lẽ vì tôi không phải là trí thức nên tôi không đòi hỏi một cách tuyệt đối: một vật, một sự việc chỉ có trắng hoặc đen. Một ông quan thanh liêm nhưng ngăn sông cấm chợ (vì nghĩ vậy là đúng) chưa chắc đã hay bằng một ông quan kém thanh liêm hơn nhưng dân được tự do hơn.
Tôi xin góp ý về phương pháp biện luận vì theo tôi đối với với cuộc tranh cãi chính trị căng thẳng, dai dẳng này, vấn đề phương pháp sẽ quyết định giá trị thuyết phục của nhưng ý kiến khác nhau. Qua theo dõi, tôi nhận ra mấy tiền đề sau đây được những thành viên coi là cơ sở để phát biểu:
Tiền đề thứ nhất: trước tội ác (đặc biệt trong lĩnh vực chính trị ), hễ trí thức thì phải lên tiếng, im lặng là tội lỗi. Theo tôi đây là một tiền đề có thể tranh cãi vì trong thực tế không phải tất cả mọi trí thức đều có điều kiện để lên tiếng mà đã như vậy thì sự “im lặng “cũng không thể đương nhiên bị kết tội là “chịu thua, hèn nhát, thiếu lương tâm, đồng lõa, phản bội”. Tiền đề trên đây đã đưa tới kết luận hết sức tiêu cực là đẩy về phía thù địch thực thể rất quan trọng cần lôi kéo trong hoạt động chính trị gọi là “đa số thầm lặng”. Đó là một tiền đề đạo đức không tưởng, trừu tượng.
Tiền đề thứ hai: với những người có điều kiện tự do để lên tiếng về dân chủ (thí dụ) mà lại chọn lựa thái độ không triệt để, không minh bạch thì sự chọn lựa ấy sẽ đưa đến hậu quả tiêu cực, dù muốn hay không sẽ có lợi cho những nhà nước chuyên chế và bất lợi cho sự vận động dân chủ (thí dụ). Tiền đề này không hiển nhiên, vì dựa trên giả thiết cho rằng hễ có điều kiện tự do thì phải phát biểu thế này chứ không nên phát biểu thế khác, và như vậy mặc nhiên cho rằng có thể dựa vào cách lên tiếng như thế này để (một cách chủ quan) công kích một cách lên tiếng như thế khác.
Tiền đề thứ ba: trước những vấn đề chung của xã hội, người trí thức cần phải lên tiếng nhưng nội dung, cách thức, mức độ là do mỗi cá nhân chọn lựa tuỳ theo vị trí và điều kiện của mình, tuỳ theo hiệu quả cụ thể mình muốn mang đến cho xã hội một cách thích hợp. Tiền đề này vẫn đề cao trách nhiệm trí thức nhưng dựa trên tính chất nhiều mặt, phức tạp của thực tế, căn cứ vào đó không chấp nhận suy diễn về động cơ để kết án những cách lên tiếng khác, kể cả cách chọn lựa im lặng. Có thể nói đây là tiền đề mang nhiều tính chất trí thức nhất vì đã thừa nhận sự tự do chọn lựa cho những cá nhân.
Tiền đề thứ tư: việc đòi hỏi tự do dân chủ (thí dụ) không chỉ là lời nói mà còn là việc làm, vì vậy sẽ phải căn cứ vào những hoàn cảnh cụ thể (khó khăn hoặc thuận lợi) mà đưa ra những phát biểu thích hợp. Tiền đề này dựa trên thực tế ở những nước chưa có dân chủ, ở đó phong trào đấu tranh cho dân chủ gặp nhiều trở ngại về phía trên (sự trấn áp chính quyền) lẫn phía dưới (sự ngán ngại của người dân), vì thế đưa tới sự khuyến cáo các hình thức uyển chuyển, chú ý nhiều đến tác động và hiệu nghiệm hơn là những phát biểu tuỳ tiện, không đếm xỉa đến thực tế.
Qua những nhận xét trên đây, tôi cho rằng việc luận bàn về trách nhiệm trí thức nên chú ý lấy thực tế làm chuẩn mực để xem xét ý nghĩa của một luận cứ. Đây là một cuộc tranh cãi trần tục chứ không phải là siêu hình nên tính chất hiển nhiên của những tiền đề biện luận cần được quan tâm đúng mức. Những tiền đề nào chỉ mang ý nghĩa của những “tiền giả định” chưa được thực tế chứng minh (vẫn còn là một cảm giác, một trực giác, một mong muốn…) thì không thể đồng hoá với sự hiển nhiên của chân lý. Nhiệt tình “chân lý” quá đáng ở đây rất dễ dẫn đến những nguỵ luận.
Bác classicalmood :
Việc Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc hay tranh cãi đã được nhiều người kể lại. Như trong bức thư của PCT viết cho NAQ: ““Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan [Phan Văn Trường] đàm đạo nhiều việc; mãi tới bây giờ anh cũng không ưa gì cái phương pháp Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi lại không thích cái phương pháp Ngoạ ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội (ngồi ở nước ngoài kéo người tài từ trong nước ra, đợi thời cơ để trở về gấp) của anh, và cả cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan. Bởi phương pháp bất hoà mà anh đã nói với Phan là tôi là hạng hủ nho thủ cựu. Cái điều anh gán cho tôi đó, tôi chẳng giận anh tý nào cả… Tôi tự ví tôi ngày nay như con ngựa đã hết nước tế, tôi nói thế chẳng hề dám ví anh là kẻ Tử mã lục thạch (bốn chữ này nhà học giả Hoàng Xuân hãn có ý kiến dịch là “Ngựa non háu đá”, theo cách nói ví von hóm hỉnh thường thấy ở cụ Phan Tây Hồ)” (Bùi Tín dẫn, http://www.freewebs.com/lichsu/phanchutrinhngkinhnt.htm). Bức thư còn viết thêm: “Từ xưa đến nay, từ Á sang Âu, chưa có một người nào làm cái việc như anh. Anh lấy cái lẽ ở nước mình lưới dăng tứ bề, mà về nước ắt là sa cơ, gia dĩ dân tình sĩ khí cơ hồ tan tác, bởi cái chính sách cường quyền nên sự hấp thụ lý thuyết kém cỏi, bởi thế mà anh cứ khư khư cái phương pháp Ngoạ ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội; cứ như cái phương pháp ấy thời anh viết bài đăng báo trương trên đất người để mà hô hào quốc dân đồng bào bên nhà đem tinh thần nghị lực ra làm việc nước. Tôi coi lối ấy phí công mà thôi!… Anh không nghe lời tôi nói, anh ở hoài bên này, cứ cái lối đó thì tài tài năng của anh khác gì công dã tràng!”.
Còn NAQ sau này dưới bút danh Trần Dân Tiên (?) thì viết: “Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Anh (NAQ) nhận điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.”
Viết bằng tay mà còn vậy, thì lúc tranh cãi bằng miệng hẳn là phải gay cấn lắm. Nhưng đừng bắt tôi chứng minh rằng đã có xảy ra như vậy! (Tôi viết là “tôi dễ dàng nghĩ rằng” tức là dịch thành ngữ “I could easily imagine” của tiếng Anh, có nghĩa là “tôi không khẳng định, việc này không có bằng cớ, nhưng nó không trái ngược lại những gì ta biết”.)
Về Hiệp Ước Sơ Bộ 1946, thanh niên tay trắng NAQ với nhà lãnh đạo HCM 56 tuổi là hai con người khác hẳn, không thể so sánh được.
Về PCT và NAQ, quý vị nào chưa xem, xin mời đọc hồi ký của Lê Thanh Cảnh tại
http://danluan.org/node/874
Bác Phạm Quang Tuấn,
Không biết bác cố tình hay hữu ý thay tên PBC thành NAQ. Tôi nghĩ PCT bút chiến với PBC là chính chứ đâu có NAQ. Lý do và cơ sở nào bác lại nghĩ rằng NAQ suốt ngày nhảy chồm chồm và to tiếng lên như thế hay là bác suy đoán thuần cảm tính thế thôi? À mà nếu bác cho là NAQ như thế thì bác nghĩ thế nào về Hiệp Ước Sơ Bộ 1946? Xem ra nó lại không phải là con đẻ của tính chồm chồm! Tôi không nghĩ là chỉ nghe các cụ kể lại vì các bài viết thời đó vẫn còn rành rành. Giờ đây các bài viết của bác Trịnh Hữu Tuệ vẫn còn đó để hậu thế đánh giá kia mà.
Tôi rất ngạc nhiên khi bác Phạm Thị Hoài, sáng lập viên của Talawas, lại rạch ròi và xác quyết như thế. Ở đời, tôi nghĩ, sống gửi thác về chẳng có gì là tuyệt đối cả!
Bác lephudien nói vào ngày 10/08/2009 lúc 8:42 chiều là “…Tôi sợ nhất là sự bất tài khoác áo đạo đức…”
Tôi lại khác. Tôi sợ hữu tài mà không trọng đạo đức vì chữ tai sẽ đến sau chữ tài. Người bất tài chịu khoác áo đạo đức tôi nhận ra dễ hơn, dễ biệt riêng họ và đào tạo huấn luyện cho họ có thêm tài và đức, được chút nào hay chút đó, dầu không vẹn toàn. Ngược lại, thật rất khó nhận ra sự vô đức của người hữu tài vì họ rất giỏi việc dẫn dắt tôi vào sự chờ đợi những thần linh, thần tượng, vật chất, kiến thức, sản vật hoàn toàn là sản phẩm của hoang tưởng trong khi tôi vẫn cứ nghĩ là thật, khiến tôi mãi đợi chờ cho đến khi mọi sự đã rồi hay đầu đã bạc răng đã lung lay. Rất nhiều thí dụ thật tế trong thế giới sử, hay không thật trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung. Xin miễn kể ra.
Thử nghĩ lại, 5000 năm qua con người đã bước đi nhiều bước về khoa học kỹ thuật: tiến có, lui có, đi ngang cũng có, đi xéo cũng có, kinh thiên động địa có, mà tầm tầm vừa đủ cho học vị này nọ hay cho người ta trao đổi bán buôn hay giết hại nhau hay khám phá vũ trụ cũng có…Nhưng, thử hỏi về đạo đức, con người đã xây dựng được cái gì mới trong 5000 năm qua khi lời trong Kinh Phật, trong Kinh Thánh Tân lẫn Cựu Ước vẫn hàng ngày được các nhà hiền triết suy gẫm và làm vũ khí để đối chọi lại những cái chết về thể xác hay trong tâm hồn do sự ác độc vô đạo đức gây ra. Nghĩ vậy tôi nhận thấy rằng cái mới trong đạo đức khó được tìm ra trong khi khoa học kỹ thuật thì hằng hà sa số cái này chồng lên cái kia đúng có, sai có, dổm có, xịn cũng có. Cũng vì thế, tôi nghĩ giềng mối xã hội mà chỉ đặt vào việc cậy sức mình trong học thuật không thôi sẽ đưa đến nhiều rối loạn tai biến vô lường cho nhân loại (thí dụ rất nhiều, đìển hình là kỹ nghệ nguyên tử, hiện tượng nhà kiến…)
Bác lephudien nói vào ngày 10/08/2009 lúc 8:21 chiều là “….Tôi thấy đáng buồn vì nước mình có lẽ ngày càng đi xuống: hai cụ ngày xưa đường lối tuy có khác nhau nhưng vẫn quý trọng nhau chứ có hàm hồ như nhiều người bây giờ…”
Nước mình xuống thật! Thuở ấy, sĩ phu đi tìm học thuật đông phương đem về cứu nước thì lại thua văn minh kỹ thuật lẫn mưu chước thực dân Âu Tây. Người tìm Tây học để cứu dân lại không cản ngăn được một kẻ sa đà quá khích mang triết lý duy vật biện chứng của Tây phương đem về nước cho dân ta đổ máu đào tô thắm ngọn cờ vinh quang thực hiện ba làn sóng cách mạng thảm khốc điên cuồng gây cảnh tsunami trong xã hội Việt Nam, khiến dân ta phải chịu cảnh nhà tan, nước bị xâm lấn dần , nhà nước lệ thuộc ngoại bang, nhiều dân ta phải lưu lạc quê người, mất hết niềm tin và hao mòn bản sắc dân Việt. Ô hô! Công đức các cụ ta ngày xưa nay đâu còn nữa! Buồn sao là buồn phải không bác lephudien!
lephudien nói: “Tôi thấy đáng buồn vì nước mình có lẽ ngày càng đi xuống: hai cụ ngày xưa đường lối tuy có khác nhau nhưng vẫn quý trọng nhau chứ có hàm hồ như nhiều người bây giờ.”
Dĩ nhiên là ta không thể tự so sánh với PCT và NAQ, và quan điểm hai bên xưa và nay cũng không hẳn song song, nhưng chưa chắc họ, nhất là NAQ, đã luôn luôn “quý trọng nhau” và “không hàm hồ” như bác nói. Mình chỉ nghe các cụ kể lại mấy chục năm sau đó nên làm sao biết hết những lời qua tiếng lại. Trái lại, tôi dễ dàng nghĩ rằng NAQ suốt ngày nhảy chồm chồm, gọi PCT là hèn, đồng lõa, đáng bị treo cổ v.v. PCT thì già dặn, điềm tĩnh hơn, nhưng chắc cũng khó điềm tĩnh được như bác DDH.