talawas blog

Chuyên mục:

Trịnh Hữu Tuệ – Cao hơn một mét

09/08/2009 | 11:29 sáng | 100 Comments

Tác giả: Trịnh Hữu Tuệ

Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ:

Trong bài mới đây của mình, Dương Danh Huy nói anh “không tin rằng tất cả các trí thức Việt Nam đều không cần nói về tự do.” Diễn đạt ngắn gọn hơn, ý của anh là một số trí thức Việt Nam cần nói về tự do. Tôi đồng ý với anh ở điểm này. “Tự do” là một khái niệm quen thuộc, nhưng không phải vì thế mà nó dễ hiểu. Bằng chứng là nhiều trí thức vẫn sống như nô lệ, mặc dù về mặt pháp lý, họ là những công dân tự do. Một nô lệ không bao giờ dám phê bình chủ mình một cách công khai, mặc dù hắn có thể chửi ông ta như hát hay khi ngồi cùng bạn bè. Hắn luôn để ý đến tâm trạng của chủ để biết lúc nào nên nói, lúc nào nên im. Hắn khoái chí khi “chọc khéo” được chủ bằng câu này, câu kia. Có những trí thức coi cách sống này là khôn ngoan, thức thời. Họ hùng hồn phê phán chính quyền trên bàn rượu nhưng câm như hến khi ra trước công luận. Họ luôn tính toán xem lúc nào nên nói gì, và phải nói thế nào để “có người nghe,” để “không bị tường lửa.” Họ thỏa mãn với những comments tủn mủn kiểu hàng nước, đặt bên cạnh những mẩu tin lấy từ CAND. Những trí thức này nhìn Martin Luther King bằng con mắt ái ngại và nhìn Condoleezza Rice bằng con mắt thèm thuồng. Họ mải mê cân nhắc các “điều kiện thực tế” mà quên đi nhiệm vụ căn bản nhất của mình: nói sự thật.

Có người nói tôi quá đề cao giới trí thức khi tôi bảo họ có nhiệm vụ nói sự thật. Tôi không nghĩ vậy. Tôi không nghĩ nhiệm vụ này làm ai cao quý hơn ai. Nó là nhiệm vụ của tất cả mọi người. Tôi nhấn mạnh tầng lớp trí thức chỉ vì tôi nghĩ quá trình đào tạo, môi trường làm việc và quan hệ xã hội của họ mang lại những thuận lợi rõ ràng khi họ muốn nói sự thật. Đối với những người lao động chân tay, có internet để đọc đã là cả một vấn đề, nói gì đến chuyện viết một bài báo. Nhân đây cũng xin lưu ý rằng khi những người lao động chân tay bị kết tội im lặng, chẳng trí thức nào đứng ra bảo vệ họ. Tôi vẫn nhớ vụ cô bé Nguyễn Thị Bình. Cô bé này phải làm không công cho một quán phở trong suốt 10 năm. Không những thế, Bình còn bị hai vợ chồng chủ quán thường xuyên đánh đập dã man. Những người sống xung quanh biết cả nhưng ai cũng làm ngơ, trừ một bà bán thịt bò. Lúc chuyện vỡ lở, hàng xóm của Bình bị công luận lên án kịch liệt. Họ bị gọi là “nhẫn tâm,” là “vô cảm,” mặc dù họ có nói là họ “sợ bị trả thù.” Lúc đó, chẳng giáo sư nào nhắc đến “quyền được im lặng về một số vấn đề” của họ. Chẳng phó giáo sư nào bảo họ “im lặng nhưng vẫn làm được những việc có ích.” Chúng ta khác gì những người hàng xóm kia khi chúng ta im lặng trước những hành vi mọi rợ không kém? Có bao nhiêu người trong số chúng ta dám hé răng nói nửa lời khi Điếu Cày không được phép dùng màn tránh muỗi, khi Trần Khải Thanh Thủy bị ném phân vào nhà etc? Có lẽ, chúng ta chỉ khác những người hàng xóm của em Bình ở khả năng biện minh cho sự im lặng của mình mà thôi. Phải, ta có thể tha hồ chửi rủa một bà bán quần áo hay một ông công an, nhưng khi ta  động đến trí thức, ta sẽ được nhắc nhở rằng họ phải im lặng để “đạt được những mục đích cao hơn.” Ta sẽ bị coi là “simplistic, chưa có đủ cơ sở, và quá khắt khe,” sẽ bị gán cho một loạt những “fallacies” mà “người Việt hay mắc phải khi tranh luận.”

Một nô lệ vô học chỉ có thể hái bông. Một nô lệ biết đọc wiki có thể bắt nạt được một vài nô lệ khác. Một nô lệ có học như Condoleezza Rice có thể giết hại hàng trăm ngàn người. Nói đến đây, tôi lại nhớ đến một câu trong nhật ký của Victor Klemperer – một giáo sư gốc Do Thái sống trong nước Đức Quốc xã. Ông nói về các đồng nghiệp chấp nhận đi theo phục vụ chính quyền phát-xít như sau.[1]

“Nếu có ngày tình thế thay đổi và số phận những kẻ thua trận nằm trong tay tôi, tôi sẽ tha thứ đám dân thường. Thậm chí, tôi sẽ tha thứ một số lãnh đạo – họ có lẽ cũng chỉ là những kẻ thật lòng và không biết mình làm gì. Nhưng tôi sẽ treo cổ hết các trí thức, và tôi sẽ treo các giáo sư cao hơn những tên khác một mét; tôi sẽ để chúng trên cột đèn chừng nào vệ sinh còn cho phép.”

Sự phẫn nộ của Klemperer, theo tôi, là hoàn toàn chính đáng.


[1] Nguyên văn tiếng Đức là: “Wenn es einmal anders käme und das Schicksal der Besiegten läge in meiner Hand, so ließe ich das ganze Volk laufen und sogar etliche von den Führern, die es vielleicht doch ehrlich gemeint haben könnten und nicht wußten, was sie taten. Aber die Intellektuellen ließe ich alle aufhängen, und die Professoren einen Meter höher als die anderen; sie müßten an den Laternen hängen bleiben, solange es sich irgend mit der Hygiene vertrüge.” Tôi gặp câu này trong bài Resort to Fear của Noam Chomsky.

Bình luận

100 Comments (bài “Trịnh Hữu Tuệ – Cao hơn một mét”)

  1. trieu viết:

    @lephudien
    Cám ơn lời chia sẻ về phản hồi của anh. Tôi cũng có đôi điều thưa lại để chúng ta cùng suy nghĩ:

    (i) Trường hợp một xã hội có đa số người chủ quan tin vào sự xem thường vị trí của phụ nữ trong xã hội. Đa số chấp nhận và thực thi chính sách kỳ thị dung dưỡng luật lệ đàn áp phụ nữ vì niềm tin đó. Nhưng đến một ngày nọ, vài cảnh đời bạc đãi phụ nữ được thông tin chính xác và loan truyền tự do rộng rãi đánh thức lương tâm một số người (không cần phải đa số) trước sự đối xử tàn tệ bất công của xã hội dành cho phụ nữ, thì họ sẽ vì lương tâm mà tranh đấu cho phụ nữ với khả năng học hỏi hiểu biết và suy nghĩ của mình (nếu nhà nước cho họ những quyền tự do tranh đấu ôn hoà). Chỉ có thế xã hội mới thăng tiến và ngày nay trong xã hội có nam nữ bình quyền và rất nhiều phụ nữ có cơ hội đóng góp những công ích lớn lao. Trong giai đoạn đầu, kỳ thị phái tính được tin là đúng (politically correct) nhưng không đúng lương tâm của con người dầu nó đang ngủ hàng trăm năm qua. Trong giai đoạn sau lương tâm thức dậy, thắng lợi và bình đẳng phái tính trở thành đúng (politically correct). Hy vọng là VN mình sẽ có nhiều điều vô lương tâm nhưng được đảng cộng sản xem là politically correct hiện nay sẽ bị thay thế bởi các điều dân chúng – không phải là thiểu số mà là đa số – tin là đúng lương tâm dầu nhà nước cho là politically incorrect, là phản động, là sai đường lối đảng.

    (ii) Giải pháp tốt nhất là nhà nước thay đổi đường lối trị dân, dầu đảng cộng sản phải nhường một số quyền lực chính trị và quyền lợi kinh tế cho dân. Hy vọng điều này không trở thành ảo vọng như nhiều ảo vọng khác thường thấy trên đời này.

    (iii) Tôi đã có dịp đọc các bài quan điểm về canh tân, dân trí để dành tự do, dân chủ, độc lập cho dân Việt do cụ Phan Chu Trinh viết (khoảng 90 năm trước) tôi thấy những đòi hỏi về tự do dân chủ cho dân Việt ngày nay chẳng khác chi các đòi hỏi cụ đặt ra với thực dân Tây thuở đó. Cụ chủ trương kêu gọi người dân học hỏi những tư tưởng tự do, dân chủ của Tây để đặt vấn đề đòi hỏi và tranh đấu dành quyền tự trị cho dân ta. Cụ Tây Hồ không cổ xuý hợp tác với Tây, nhưng ai làm việc cho Tây (để biết Tây hầu có thể thắng Tây hay vì những lý do gì khác) thì, theo kiến thức của tôi, chưa nghe cụ lên án đích danh ai cả.

    Đó là đôi dòng chia sẻ. Mong được chỉnh sửa nếu có gì không đúng/chính xác!

  2. Dương Danh Huy viết:

    Tôi thấy có việc nói lẫn lộn giữa một bên là trí thức hợp tác với an ninh CS (mà bác Lê Diễn Đức nói tới) và trí thức tham gia, ca ngợi Nazi (mà bác Phạm Thị Hoài nói tới) với bên kia là trí thức “im lặng” như Trần Hữu Dũng.

    Tôi nghĩ “in lặng” rất khác với ”cộng tác với an ninh” và “ca ngợi”, cho nên việc nói lẫn lộn đó, dù cố ý hay vô tình, không công bằng cho lắm.

    Rõ ràng, đối tượng đang nói tới ở đây là trí thức “im lặng” chứ không phải trí thức hợp tác với an ninh, trí thức tham gia ĐCS, ca ngợi ĐCS.

    – Xã hội cho phép cộng tác với hệ thống với điều kiện là khi nằm trong hệ thống người đó phải thực hiện nhiệm vụ của chính quyền sao cho nó không giúp mà còn phản lại chính quyền”.

    Câu trên nói lên phần nào sự simplistic tôi nói tới.

    Nếu một trí thức nằm trong hệ thống của một chính quyền totalitarian để “không giúp mà còn phản lại chính quyền đó” thì họ sẽ thông báo cho bà con cô bác biết là họ đang làm việc đó hỉ?

    Và bà con chưa được thông báo thì cứ hồn nhiên, khỏi cần dè dặt, lên án người đó là đồng loã, nên treo cổ cho thật cao hỉ?

  3. Nguyên viết:

    Cảm tác về lời GS Phạm Song và TS Chu Hảo dẫn trong phản hồi của @Hòa Nguyễn

    Sự thật nơi đâu?
    Sự thật âu sầu
    Được giấu rất sâu
    Trong lòng trí thức
    Nếu tức ấm ức
    Tất phải nói ra
    Coi chừng mã tà
    Làm việc đó nha!

    Chân lý ở đâu?
    Chân lý từ dân
    Nhưng nếu gần dân
    Lần khân tìm hiểu
    Thăm viếng thăm dò
    Ắt phải hầu tòa
    Tội nói thế dân
    Rối loạn nhân quần
    Làm uế danh Đảng

    Muốn mang trí thức
    Ra đời giúp dân
    Đảng và nhà nước
    Stop làm chủ dân
    Cho dân dân chủ

    Nhà nước phải lo
    Bảo đảm tự do
    Mọi người nói to
    Suy tư, tư tưởng
    Trí thức mới lường
    Mới biết tìm đường
    Lo dân hạnh phúc
    Khỏi phải cày cục
    Tranh đấu nhí nhằng
    Mang niềm cay đắng
    Tan nát tâm can
    Rút vào bóng tối
    Bụng dạ rối bời
    Trùm mền nằm ngủ
    (Tàtàwasinama)

  4. lephudien viết:

    @Lê Diễn Đức
    Những người trí thức mà ông nói là những người CỘNG TÁC với an ninh cộng sản, chủ yếu vì lý do cung cấp thông tin về đồng nghiệp. Những người như thế thì xã hội nào cũng lên án. Những người như vậy tôi gọi tạm là những người hoạt động trong bóng tối.
    Ngược lại, người mà ông Tuệ phê phán rõ ràng là người có quan điểm đàng hoàng và không dấu diếm về điều đó.

    Xin nói bên lề (comment này không liên quan gì đến ông Đức nhưng tôi xin được viết cùng), cách đây không lâu tôi thấy trên spectrum của talawas có một phải phỏng vấn đáng đọc của ông Đặng Nhật Minh: http://www.talawas.org/?p=8697. Tôi rất tâm đắc với một câu nói của ông: “Không biết đến bao giờ chúng ta mới nhìn thẳng vào sự thật để nói với nhau rằng: Cái thiếu nhất của chúng ta hiện nay là TÀI NĂNG. Thiếu tài thì sẽ không có gì cả cho dù tiền bạc, phương tiện kỹ thuật có dư thừa”.

    Tôi sợ nhất là sự bất tài khoác áo đạo đức.

  5. lephudien viết:

    @trieu
    Có lẽ tôi diễn đạt không chính xác nên dẫn đến hiểu nhầm. Tôi cũng nghĩ rằng lương tâm là điều cũng hết sức quan trọng, không những đối với trí thức mà còn đúng với một người bình thường (như tôi).
    Nhưng thế nào là có lương tâm? Tôi không rành chữ Hán, thành ra nên xin sử dụng tạm định nghĩa trên WIKI: “Lương tâm là năng lực mang tính tự giác của con người tự giám sát bản thân, tự đề ra cho mình nghĩa vụ đạo đức phải hoàn thành, tự đánh giá hành vi của mình. Nói rộng ra, lương tâm là ý thức chủ quan của cá nhân về nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với xã hội, được coi như là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với bản thân.” Như vậy lương tâm nói một cách nào đó có nghĩa là tin vào một điều nào đó và làm theo lòng tin đấy.

    Ở bất cứ nước nào, không chỉ những nước cộng sản, đều có những vấn đề xã hội cần phải giải quyết. Câu hỏi đặt ra là vấn đề nào là quan trọng và phải giải quyết trước, kế đó đến giải quyết thế nào. Ở những xã hội tự do dân chủ như ở phương Tây các đảng phái tranh luận về những vấn đề đó và đảng nào thắng cử sẽ sử dụng giải pháp của mình. Họ có thể tin là giải pháp họ đúng nhưng họ không thể nói được là đảng khác là không có lương tâm.
    Về tình hình VN bây giờ cũng vậy, có rất nhiều việc phải làm. Nếu cứ tin rằng chỉ cần chế độ này đổ xuống và tất cả mọi thứ sẽ trở nên êm đẹp thì cũng nhanh thất vọng thôi. Cái đấy cũng như trong quá khứ khi người ta tin rằng chỉ cần qua „cách mạng“, hoặc sau „thống nhất“ thì mọi thứ sẽ tự trở nên „đàng hoàng hơn, to đẹp hơn“.

    Nếu một số người cho rằng điều cần thiết nhất bây giờ là nâng cao dân trí chứ không phải là đối lập trực tiếp một ăn một thua thì đấy chưa hẳn đã vì họ vô lương tâm.

    Tôi thấy cuộc tranh luận hiện nay cũng có nét giống cuộc tranh luận cách đây hơn trăm năm (nhưng đáng buồn là phải nói là chất lượng kém hơn nhiều). Đấy là cuộc tranh luận giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh: một người muốn trước hết là thoát ách ngoại xâm, một người đặt mạnh vấn đề khai dân trí và ít nhiều có cộng tác với chính phủ thuộc địa. Tôi thấy đáng buồn vì nước mình có lẽ ngày càng đi xuống: hai cụ ngày xưa đường lối tuy có khác nhau nhưng vẫn quý trọng nhau chứ có hàm hồ như nhiều người bây giờ.

  6. Lê Diễn Đức viết:

    Adam Michnik là một trí thức hoạt động dân chủ nổi tiếng trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ CS Ba Lan, hiện là Tổng biên tập nhật báo lớn nhất Ba Lan trong thể loại báo chí tri thức-sáng tạo.
    Trong bài “Trí thức và quá trình dân chủ hoá – Kinh nghiệm Ba Lan” do Phạm Minh Ngọc dịch, đăng trên Talawas Blog ngày 16/04/2009 [ http://www.talawas.org/?p=2922%5D có một số nhận định về trí thức thời cộng sản như sau:
    “- Cần phải nói rằng giai tầng này (trí thức) giữ một vị trí đặc biệt trong hệ thống. Stalin gọi họ là “những kĩ sư tâm hồn”. Vâng, họ là đối tượng chính của những vụ đàn áp, mà lại rất tàn khốc nữa. Nhưng mặt khác, chính quyền lại luôn sử dụng họ nhằm củng cố hệ thống. Không có nhóm xã hội nào được ve vãn và nịnh bợ như thế, ngoài tầng lớp nomenclatura cộng sản ra thì không có giai tầng nào được nhiều đặc quyền đặc lợi như trí thức.
    – Trí thức trở thành tiếng nói của xã hội đã bị bịt miệng.
    – Nhà nước không thể tồn tại lâu nếu nó không được những người có học ủng hộ.
    – Vì đối với người trí thức thì chính trị là lựa chọn mang tính đạo đức. Người trí thức bước vào chính trị là để lấy sự thật chống lại dối trá của bộ máy, lấy sức mạnh của niềm tin chống lại thói vô nguyên tắc của bộ máy.
    – Xã hội cho phép cộng tác với hệ thống với điều kiện là khi nằm trong hệ thống người đó phải thực hiện nhiệm vụ của chính quyền sao cho nó không giúp mà còn phản lại chính quyền”.
    Tôi không xem những câu trên đây như một thứ kinh điển dạy giỗ mình, nhưng thấy nó thực tế và đã được kiểm nghiệm, chứng minh sâu sắc qua tiến trình lật đổ CS và xây dựng dân chủ của Ba Lan.
    Tôi tâm đắc với bài viết của tác giả Trịnh Hữu Tuệ và cách nhận định của chị Phạm Thị Hoài.
    Tôi đã gặp vô số trí thức XHCN thản nhiên nhận mình hèn và chấp nhận im lặng trước bất công. Nhưng họ sẵn sàng tìm hàng ngàn lý do (như là có lý) để biện minh cho hành động thấp kém, thiếu bản lĩnh của mình.
    Sau khi Ba Lan có dân chủ, luật thanh lọc không treo cổ những người hợp tác với an ninh CS, không chém đầu những trí thức hợp tác với an ninh cộng sản, nhưng họ không được phép nắm các trọng trách trong nhà nước và xã hội. Còn dư luận xã hội và đặc biệt sinh hoạt của giới trí thức, “treo cổ” họ dai dẳng mà không cho chết. Sống nhục nhã, đau đớn còn hơn bị treo cổ thật.
    Tôi nghĩ rằng, nếu chữ “nếu” trong câu nói của Victor Klemperer trở thành sự thật, chắc chắn ông cũng chẳng treo cổ ai. Điều ông nói lên chỉ phản ánh sự phẫn nộ ghê gớm trước loại trí thức hèn và đốn mạt và nhúng tay vào tội ác đối với dân tộc. Nhưng chắc chắn ông biết quần chúng sẽ treo cổ chúng, như ở Ba Lan hiện nay.
    Im lặng trước tội ác là đồng lõa với tội ác!

  7. Dương Danh Huy viết:

    Bác Hoà,

    Đã bàn về đạo lý thì cũng nên nói xa hơn (và nhiều hơn). Đạo đức là vấn đề cá nhân, cho nên ai sống thế nào theo lương tâm mình cũng được, miễn đừng xâm phạm tới người khác, và trái với luật pháp. Thế nhưng đạo lý Á Đông mở rộng hơn thế và phân biệt tư hạnh với công đức.

    Bác nói đúng.

    Nhưng công đức không phải là kiểu “những trí thức không làm như tôi mong muốn thì đó chính là những người trí thức chịu thua, hèn nhát, thiếu lương tâm, đồng lõa, phản bội.”, mà cũng không phải là đem một cá nhân nào đó ra lên án “im lặng”.

    Người ta có thể đề cao nguyên tắc trí thức phải lên tiếng thêm về chính trị – tôi nghĩ chẳng ai tranh cãi điều đó, nhưng những điều trên trên thì có vẻ độc đoán, thô bỉ.

  8. trieu viết:

    @lephudien
    “…Tôi thấy gần đây trên talawas xuất hiện rất nhiều người thích sử dụng những mỹ từ như „lương tâm“, „trách nhiệm“, „tự do“… và YÊU NƯỚC MỘT CÁCH ỒN ÀO. Và họ cũng đòi hỏi những người khác cũng phải ồn ào như thế….”

    Tôi nhận thấy lephudien đạp phanh không kịp khi gõ câu này. Tôi xin bàn về mỹ từ “lương tâm” trong câu trích trên.
    Khi bàn về trí thức mà ta không nói đến “lương tâm” => chúng ta bàn đến một sinh vật cao cấp nào đó trong vũ trụ, không phải về những người trí thức của nhân loại.
    Tôi đoan chắc với lephudien rằng “lương tâm” phải là một yếu tố bất khả ly thân của người trí thức. Nó là ngọn đèn soi những bước chân dò dẫm trên đường phụng sự xã hội của người trí thức. “Lương tâm” cần trong tâm não người trí thức trước mọi hoàn cảnh trừ phi họ muốn dùng kiến văn, học thuật,sở học quảng bác của mình trong những mục tiêu phá hoại xã hội, tàn sát nhân quần. Phải luôn luôn đối diện lương tâm khi hành xử và một phút xao nhãng sẽ đưa người trí thức sang những lãnh vực hay địa vị khác trong xã hội (không hẳn là xấu nhưng không còn được mang nhãn hiệu ‘trí thức’ nữa). Chúng ta từng nghe câu ca dao hậu-1975 dành cho một số trí thức hải ngoại
    ‘Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
    Xếp bút nghiên theo nghiệp con buôn’
    Nghề buôn bán không xấu. Trí thức dựa hơi chính quyền để độc quyền kinh tế làm giàu trên sự nghèo khó của toàn dân thì phải chịi mang tiếng mỉa mai là “con buôn”.
    Có nhiều thí dụ về tiếng nói của “lương tâm” của người trí thức, kể ra không hết, chỉ xin đơn cử “lương tâm” của A.Nobel (một nhà trí thức, kỹ nghệ gia, doanh gia) và giải thưởng ông để lại cho nhân loại sau khi thấy phát kiến của mình lợi nhiều mà hại cũng không ít cho nhân loại. Nếu không vì lương tâm mà trao giải Nobel về khoa học và hoà bình phụng sự nhân loại thì ta sẽ nhớ đến Nobel như một nhà trí thức không?
    Tôi cũng xin lập lại lời của một triết gia Pháp để kết thúc phần phản hồi này: ‘Science sans conscience n’est que ruine de l’âme’ (tạm dịch: khoa học không lương tâm chỉ là sự tàn phá tâm hồn).
    Cũng xin nói về các mỹ từ ” trách nhiệm”, “tự do”: tôi nhận thấy chúng nằm trong những suy nghĩ, nhận định, đánh giá chủ quan riêng tư tùy hoàn cảnh của mỗi cá nhân trong xã hộị Nếu muốn đa số dân chúng trong xã hội có hy vọng đúng (để khỏi thất vọng) khi trao các mỹ từ này vào tay người trí thức, nhà nước có trách nhiệm tạo môi trường thích hợp để trao những quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận cho người dân. Ngoài ra, nhà nước cũng phải có trách nhiệm thực hiện thể chế chính trị dân chủ để ý dân, quan điểm của dân, và những trăn trở hay nỗi bức xúc của dân được sáng tỏ. Điều này rất cần cho giới trí thức để hoàn thành mỹ mãn công tác phát triển xã hội. Họ cần biết ý dân, cần trao đổi thảo luận tự do về ý dân, hiểu rõ ý dân trước khi dấn thân nhận lãnh và hoàn thành trách nhiệm người dân giao phó.

    Biết rằng “tự do” như không khí và mọi người có quyền được hưởng như nhau, ta vẫn thấy giá trị của tự do thay đổi tùy mỗi người trong xã hội nói chung và trong giới trí thức nói riêng. Giá trị của mỹ từ này thay đổi tùy theo các yếu tố cá nhân như trình độ học thuật, suy nghĩ và lương tâm của mỗi người. Cả ba yếu tố cá nhân này lại lệ thuộc vào tình trạng xã hội trong đó vai trò và trách nhiệm của nhà nước là chính, không phải của trí thức. Chính sách đào tạo dở, nhà nước độc tài áp bức lại quảng bá những tư tưởng nằm trong vòng u mê ám chướng của những giáo điều độc hại thì hy vọng nước nhà có những nhà đại trí thức thông tuệ bản lãnh lên đường cải cách xã hội như nước người chỉ đưa đến thất vọng.
    Tôi xin miễn bàn về “trách nhiệm” và “tự do” vì tinh thần tôn trọng quan điểm riêng của những người khác mình về các mỹ từ đó trong đời sống. Chỉ xin chia sẻ sự lưu tâm về sợi dây liên kết trí thức-dân chúng-nhà nước đang bị nghẹt ngòi lẫn quẫn làm xẩy non những đóng góp của trí thức cho nước nhà. Giải pháp lâu dài vẫn là tự do và dân chủ cho dân Việt. Chỉ có thế mới huy động được sức mạnh toàn dân nói chung và trí thức nói riêng trong việc phát triển và bảo vệ quốc gia.

  9. Hà Minh viết:

    Tôi tuy không phải là trí thức nhưng lại thích tự nhận mình là hèn,…như thế có sao không? Tôi thích nhìn thẳng vào sự thật, mình vì một lý do gì đó không dám “mở miệng” vậy thì là hèn thế thôi, tuy nhiên nhiều người nói, to mồm là dại và cũng chẳng giải quyết được gì, họ cũng có lý của họ nhưng xem ra cái lý ấy đã thủ tiêu cái dũng của chính họ …

  10. Dương Danh Huy viết:

    Bác Vương Thế Lan,

    Bác đã nói đúng nửa sự thật.

    Nửa kia của sự thật là:

    1. Bác Trịnh Hữu Tuệ đã lên án một người rất cụ thể: ông Trần Hữu Dũng (http://www.talawas.org/?p=7848).
    2. Bác đã đưa ra quan điểm lên án tất cả những trí thức “im lặng” (http://www.talawas.org/?p=8739):

    Chẳng hạn, không cần phải là người Tây Tạng sống ở Tây Tạng, chúng ta vẫn có thể nói một cách đúng đắn rằng “những người trí thức Tây Tạng nào đã chứng kiến cảnh Trung Quốc đàn áp dã man người dân Tây Tạng, nhưng không chịu lên tiếng tố cáo trước dư luận, mà vẫn im lặng hợp tác với chính quyền Trung Quốc, thì đó chính là những người trí thức chịu thua, hèn nhát, thiếu lương tâm, đồng lõa, phản bội.”

    Lên án tất cả như vậy khác với chỉ nói về nguyên tắc.

    Họ vừa tránh đương đầu với quyền lực, vừa bỏ ra quá nhiều thì giờ và vận dụng mọi thủ thuật để tranh cãi ăn thua đến cùng với những người đang phê phán quyền lực. Vì sao?

    Bác nói không thật rồi.

    Tôi tranh cãi không phải vì các bác phê phán “quyền lực” mà vì các bác phê phán một cách độc đoán những người không phê phán “quyền lực” như các bác. Hai điều này rất khác nhau.

    Chống độc tài mà bản thân mình độc đoán thì điều đó hay hơn độc tài ở chỗ nào? Hoạ chăng độc đoán chỉ hay hơn độc tài ở chỗ độc đoán không nhất thiết có quyền lực.

    @All,

    Tuy nhiên, xét cho cùng thì đời không phải trắng đen mà xám. Bên nào cũng có đúng, có sai.

    Thí dụ như bên “im lặng” cũng nên tự xét mình xem có “hèn nhát” quá đáng không.

    Và bên “phải lên tiếng” cũng nên tự xét mình xem có “độc đoán” quá không.

    Chỉ có những nhà độc tài chuyên nghiệp và độc tài nghiệp dư mới không cần xét mình, và nếu xét thì cũng thấy bên kia sai tuốt luốt, còn mình thì chẳng sai gì cả trong 1 v/d như v/d đang nói tới.

  11. 1) Danh hoạ Leonardo da Vinci (1452 – 1519) sinh ở Vinci thuộc Cộng hoà Florence. Năm 1505 ông được đặt vẽ bức tranh tường (fresco) “Trận đánh Anghiari” tại Palazzo Vecchio ở Florence. Bức tranh mô tả trận chiến tại Anghiari (1440) giữa liên quân do Cộng hoà Florence cầm đầu và quân của xứ Milan. Trong trận này quân Milan đã bị thua. Năm 1506 Leonardo rời CH Florence quay lại Milan – để “phục vụ” xứ sở kẻ thù cùa quê hương ông. Milan là nơi Leonardo từng vẽ bức fresco “Buổi họp mắt kín” vào năm 1482-1489 tại giáo đường Santa Maria delle Grazie. Thời Phục Hưng nước Ý là tập hợp của nhiều nước, trong đó có 4 nước Cộng hoà (Florence, Genoa, Siena, Venice). Các nước có thể đánh lộn, song các tài năng như Leonardo, Michelangelo, Rafael, Tizian, v.v. được kính trọng và sử dụng mọi nơi.

    2) Danh hoạ Salvador Dalí ̣ (1904 – 1989) từng ủng hộ chính thể độc tài phát xít Franco tại Tây Ban Nha. George Orwell từng viết về Dalí như sau: “Chúng ta phải có khả năng chấp nhận trong đầu một lúc hai sự thật rằng Dalí vừa là một hoạ sĩ giỏi lại vừa là một nhân cách kinh tởm. Sự thật này không loại bỏ sự thật kia, hay về phương diện nào đó, không ảnh hưởng đến sự thật kia.”

    3) Arno Breker (1900 – 1991) là nhà điêu khắc cuả Đức Quốc Xã, đảng viên Đảng Quốc Xã. Năm 1937Hitler phong Breker thành “nhà điêu khắc chínhh thống của quốc gia” và miễn quân dịch cho ông. Trong năm 1933-1942 ông hoàn thành nhiều tác phẩm theo đặt hàng của Quốc Xã. Sau Đại chiến thứ 2 khoảng 90% tác phẩm công cộng của ông bị quân Đồng Minh phá hủy. Năm 1948 ông bị kết tội “chơi với Quốc Xã” và bị bắt nộp phạt. Song ông dần dần được phục hồi. Năm 1981 Trung tâm Georges Pompidou tại Paris chính thức triển lãm tác phẩm của ông. Năm 1985 bảo tàng Arno Berker được khánh thành tại Bonn. Tháng 7/2006 triển lãm cá nhân đầu tiên của Breker đã khai mạc tại Schleswig-Holstien-Haus ở Schwerin. Trong số các tác phẩm tại cuộc triển làm kéo dài 3 tháng này có cả tượng chân dung Hitler.

    Cả 3 ông này không ai bị treo cổ. Leonardo chết già, năm ông 67 tuổi, trong tay vua Francis I của Pháp. Dalí chết năm 1989 thọ 85 tuổi, sau khi được vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong “hầu ước Pubol” (1982). Breker chết năm 91 tuổi tại Düsseldorf.

  12. Phùng Tường Vân viết:

    Cao hơn một trượng

    Không hiểu “bác Phạm Thị Hoài” cùng “bác Trịnh Hữu Tuệ” đã treo cổ được ai chưa nhưng tôi thì đã thấy ông Dương Danh Huy bằng PH 10/08/2009,4:55 sáng đã đặt ông THD lên một bệ cao đến hơn một trượng đấy chứ không ít đâu.

  13. Hoà Nguyễn viết:

    Góp ý với câu viết của ông Huy: “Đúng là trí thức cần có trách nhiệm hơn đối với những v/d của đất nước ngày nay, bao gồm cả “chính trị” lẫn “phi chính trị”, nhưng tôi thiết nghĩ đó là những nguyên tắc mà một người nên tự hỏi và trả lời cho mình, hơn là dùng chúng để phán người “im lặng”.

    Đã bàn về đạo lý thì cũng nên nói xa hơn (và nhiều hơn). Đạo đức là vấn đề cá nhân, cho nên ai sống thế nào theo lương tâm mình cũng được, miễn đừng xâm phạm tới người khác, và trái với luật pháp. Thế nhưng đạo lý Á Đông mở rộng hơn thế và phân biệt tư hạnh với công đức. Tư hạnh là đức tính thuôc về cá nhân, hay tính tốt của mỗi người, như tính tiết kiệm, siêng năng (học hành, làm ăn), khiêm tốn, ít đánh bạc, ít tửu sắc. Còn công đức có liên quan tới xã hội, như không thâm lạm của công, có tinh thần phục vụ, nhân ái giúp kẻ nghèo khó, liều mình cứu người, dám xả thân vì đại nghĩa. Người kém (tư) hạnh thường ít ai biết, và cũng ít bị phê phán khi bị biết. Trừ khi họ là người của đại chúng, như là “công bộc”, với nghĩa đen là đày tớ của dân, tức cán bộ, quan chức nhà nước, lúc đó họ bị đòi hỏi phải có đời sống riêng tốt. Công đức đòi hỏi mọi người phải có khi họ sống trong môt quốc gia, xã hội, như là một nghĩa vụ hay một thứ “thuế” mà mọi người phải đóng : quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Nhưng phần đóng góp này nhiều ít khác nhau. Người có địa vị cao trong xã hội, như trí thức thường có, dễ bị người khác đòi hỏi nhiều về công đức hơn, và do đó bị phê phán nhiều hơn, thường khi nặng nề hơn.

    Trí thức là thành tựu riêng, với niềm tự hào riêng. Nhiều người khác kính trọng trí thức, nhưng đồng thời mong mỏi/đòi hỏi họ có nghĩa vụ nhiều hơn đối với cộng đồng, xã hội, đối với những người không được may như họ. Do đó mà đám đông có thể phê phán trí thức về mặt công đức. Tất nhiên, để tránh bị phê phán, có thề nói: tôi không phải là trí thức!

  14. Bắc Phong viết:

    cái khó trí thức

    mấy ai hiểu cái khó trí thức
    phải đối phó với bao áp lực
    ngoài trau giồi sở học thâm sâu
    còn phải giữ tác phong đạo đức
    trong xã hội tham nhũng bất công
    phải sống cho anh minh chính trực
    nói lên sự thật vì lương tâm
    dù đeo án tù ngay giữa ngực

    bắc phong

  15. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Ông Trịnh Hữu Tuệ viết:
    “Lúc chuyện vỡ lở, hàng xóm của Bình bị công luận lên án kịch liệt. Họ bị gọi là “nhẫn tâm,” là “vô cảm,” mặc dù họ có nói là họ “sợ bị trả thù.” Lúc đó, chẳng giáo sư nào nhắc đến “quyền được im lặng về một số vấn đề” của họ. Chẳng phó giáo sư nào bảo họ “im lặng nhưng vẫn làm được những việc có ích. Chúng ta khác gì những người hàng xóm kia khi chúng ta im lặng trước những hành vi mọi rợ không kém? Có bao nhiêu người trong số chúng ta dám hé răng nói nửa lời khi Điếu Cày không được phép dùng màn tránh muỗi, khi Trần Khải Thanh Thủy bị ném phân vào nhà etc? Có lẽ, chúng ta chỉ khác những người hàng xóm của em Bình ở khả năng biện minh cho sự im lặng của mình mà thôi”.

    Tôi cho rằng trí thức được đội mũ “giáo sư”, “phó giáo sư” muốn không im lặng trước những sự kiện cụ thể của những cá nhân cụ thể mà ông Tuệ đưa ra phải được gọi là “trí thức hàng xóm” hay “trí thức tắt lửa tối đèn có nhau”. Vì thế tôi thấy ông Tuệ ở thật xa nhưng từ “chúng ta” thì thật gần (giống như “láng giềng hữu nghị”, để có thể trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường). So sánh sự “im lặng” của trí thức trước những ví dụ cụ thể trên khiến tôi nghĩ rằng trí thức có “trăm tay nghìn mắt”: (mắt) nhìn thì nhiều mà (tay) làm thì ít; tri không đi đôi với hành.

    Ông Trịnh Hữu Tuệ dẫn về sự phẫn nộ của Klemperer:
    “Nếu có ngày tình thế thay đổi và số phận những kẻ thua trận nằm trong tay tôi, tôi sẽ tha thứ đám dân thường. Thậm chí, tôi sẽ tha thứ một số lãnh đạo – họ có lẽ cũng chỉ là những kẻ thật lòng và không biết mình làm gì. Nhưng tôi sẽ treo cổ hết các trí thức, và tôi sẽ treo các giáo sư cao hơn những tên khác một mét; tôi sẽ để chúng trên cột đèn chừng nào vệ sinh còn cho phép.”

    Chị Phạm Thị Hoài nói rất đúng đó là cách “diễn đạt thậm xưng”. Diễn đạt thậm xưng là cách nói quá, nói phóng đại, thậm chí nói sai chân lý khách quan và sự thật. Vì “nếu… thì…” quả là vô chừng. Và cái “nếu… thì…” có thành hiện thực đi chăng nữa thì Klemperer cũng không thể làm được những điều hùng hồn như ông phát biểu. Dĩ nhiên trước một mong muốn thay đổi mang tính cách mạng cuồng nhiệt như thế, ông muốn “treo cổ” hết những trí thức mà ông hiểu rằng họ đã “im lặng” trước một chế độ cần phải thay đổi. Nhưng những trí thức có tư tưởng bảo hoàng thì họ lại không hề “im lặng” trên các diễn đàn công cụ.

    Và nếu có một ngày những kẻ thua trận nằm trong tay Klemperer thì ông sẽ treo cổ hết đám giáo sư, trí thức ấy đi rồi ông bắt đầu xây dựng lại đám giáo sư và trí thức cũng bảo hoàng không kém cho đường lối của ông. Sau đó sẽ có một Klemperer (phẩy) xuất hiện và cũng sẽ tuyên bố những câu đầy thậm xưng như thế. Dấu ấn của lịch sử là những sự đổi thay (đổi chủ) như vậy thì những trí thức (tớ thầy) cùng đi theo bánh xe ấy để tiếp tục diễn đạt sự im lặng của mình bằng khả năng tự do ra vào trước mọi tư tưởng và hóa giải tối đa những mâu thuẫn có thể đưa dân tộc họ vào thế cùng tranh, loạn tranh và đồ thán. “Ngôn quan”, “gián quan” có thể là trí thức nhưng trí thức thì không nhất thiết phải là “ngôn quan”, “gián quan”. Nói như Khổng Tử: “cương nghị mộc nột” (cương nghị mà như ngây như điếc) quả thật không dễ để tất cả trí thức đều đạt được sự “im lặng” (không phải hèn nhát mà không buồn lên tiếng) vì không còn cái tai nào có thể nghe được những điều họ nói. Sự im lặng đó báo hiệu những cơn giông tố sắp xảy ra.

    Nói nhiều và nói đầy “thậm xưng” như Klemperer thì chỉ có thể mua vui sự “hùng hồn” và máu anh hùng rơm cho thiên hạ (trí thức) nhưng giành được thiên hạ để diễn giải sự tự do, độc lập chính đáng có khi lại nằm ở những tầng lớp mà những kiểu “trí thức” như Klemperer rất hay muốn đứng cao (thậm chí giẫm) lên họ.

    Đáng lẽ phải tuyên án những kẻ muốn tận diệt trí thức thì người trí thức lại bị kết án. Trong câu nói đầy hào khí thậm xưng, Klemperer trở thành người thất bại vì chính Klemperer không có khả năng tập hợp trí thức, định hướng dư luận. Nếu tất cả những mệnh đề “nếu… thì…” đều chính đáng thì sẽ có những khả năng “im lặng” chính đáng, và càng nói thì càng sai thực tế. Một thực tế mà Klemperer đã bất lực. Xã hội càng nhiều người tôn sùng những câu nói thậm xưng càng chứng tỏ thói vĩ cuồng lớn mạnh. Thói vĩ cuồng, tiếc thay lại hay đi đôi với tâm lý nhược tiểu và những lo sợ hão huyền. Và xã hội đó là xã hội của những “trí thức trạng”, của những trí thức tuyên án người khác thì dễ nhưng không thể tuyên án chính mình.

1 2 3 4 … 7
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>