Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa
07/05/2010 | 2:37 chiều | 94 Comments
Category: Tôn giáo
Thẻ: Ấn giáo > kinh Vệ đà
Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi. Phần lớn những phản hồi này (hơn 200 bài /12 bài) chỉ lặp đi lặp lại ý kiến của vài độc giả về một vài ý niệm của đạo Phật Đại thừa như Vô minh, Vô thức, Vô ngã… hiểu theo chữ Hán, lại mang nhiều tính cách tranh cãi cá nhân, trở thành lạc đề, không giúp ích gì cho những độc giả muốn hiểu biết đạo Phật một cách sâu rộng và chín chắn.
Tôi xin nhắc lại là đạo Phật Đại thừa vào Trung Quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên nhưng lần lần bị Hán hoá khi phải pha trộn với đạo Lão, đạo Khổng. Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Ra đời một ngàn năm sau đạo Phật Nguyên thủy (khi Phật còn tại thế), Thiền Trung Quốc chỉ còn giữ lại một vài ý niệm triết học của Phật giáo hiểu theo nghĩa Trung Quốc. Mang sắc thái Trung Quốc, Thiền đạo đã chói sáng trong 2 thế kỷ thứ VII, thứ VIII và trở thành gần như là đại diện duy nhất của Phật giáo Trung Quốc.
Để chứng dẫn, tôi xin kể lại là nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus: “Thiền tông có người cha Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.
Thiền đạo vào Việt Nam dưới đô hộ Tàu rất sớm (594?) và giữ nguyên tính cách Thiền Tàu, khác với Cao Ly và Nhật Bản: Khi tới Cao Ly thế kỷ thứ IX, tự sáp nhập vào Phật giáo Cao Ly có từ thế kỷ thứ IV. Thế kỷ thứ XII-XIII, thiền sư Nhật Dogen (Đạo Nguyên) phổ biến thiền Tào động dưới hình thức Toạ thiền (Zazen).
Thiền đạo với đặc thái Trung Quốc mất dần tính cách đạo giáo theo đúng nghĩa của nó và trở thành một nền triết lí, một nhân sinh quan, một lối tu không tùy thuộc nơi chốn (tu tại gia). Đạo Phật chính thống nay gọi là Nguyên thủy, là đạo Phật ở những nước mà 90% người dân là Phật tử như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào. Nguồn gốc của đạo Phật là Ấn giáo Vệ đà. Vì vậy muốn hiểu thấu đáo những ý niệm của đạo Phật bắt buộc phải hiểu theo nghĩa trong kinh Vệ đà của Ấn giáo.
Tôi xin chia bài trình bày dưới đây làm 3 phần:
1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.
2. Lí do Phật tách khỏi Bà La môn giáo.
3. Ý niệm Chúa Sáng tạo của đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của Ấn giáo Vệ đà.
1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo
Ấn Độ, dịch từ chữ Ba Tư Hindu, chỉ sông Indus mà tiếng Phạn gọi là Sindhu, đất 7 nhánh sông (Sapta Sindhu), của người Aryens (phiên âm chữ Hán là Nhã lộ an) mà Đức Quốc Xã cũng như người Ba Tư (Iran), đều coi là thủy tổ. Đây cũng là một điểm rất quan trọng giải thích một phần nào nguồn gốc chủng tộc, tiếng nói, văn hoá, đạo giáo của người Âu Châu.
Ấn giáo là đạo cổ xưa nhất của Ấn Độ. Gọi theo tiếng Phạn là Sanatana dharma (Pháp trường tồn) hay “Trật tự vũ trụ trường tồn”. Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống, một lối suy nghĩ dựa trên Vệ đà Thiên thư (Rig Veda). Nền tảng của Ấn giáo là kinh Vệ đà nên cũng được gọi là Vệ đà giáo. “Trật tự vũ trụ” trong Vệ đà giáo có lẽ đã gợi cho Einstein ý tưởng về đạo Vũ trụ (Religion Cosmique với nghĩa Kosmos là Trật tự trong tiếng Hi Lạp).
Ấn Độ giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa.
Đây là định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966:
1) Chấp nhận những ý niệm Vệ Đà là thẩm quyền cao hơn hết trong mọi lãnh vực đạo giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ.
2) Phải có óc khoan dung và thiện tâm thiện ý vì Sự thật có nhiều hình thức biểu lộ.
3) Chấp nhận 6 hệ thống (Lục hệ) trong triết học Ấn Độ và nhịp điệu thế giới diễn tiến theo nhiều chu kỳ gọi là du già (yuga). Mỗi chu kỳ qua từng thời, sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt, tiếp nối nhau không bao giờ ngừng (luân hồi).
4) Chấp nhận sự tin tưởng là có tái sinh và có đời sống trước.
5) Công nhận là có rất nhiều phương cách đi đến giải thoát (Moksha).
Căn bản của Ấn giáo là kinh Vệ đà được truyền khẩu từ 5000 năm cho tới 1500 năm trCN. Theo truyền thuyết, Brahman (Phạm Thiên, Chân Như) đã thần khải Kinh Vệ đà cho các vị hiền giả (Rishi). Trời trong Vệ đà Thiên thư là Brahman, Đấng Tuyệt đối tạo ra vạn vật.
Hai ý niệm nòng cốt của Ấn giáo cổ xưa (thời kỳ Vệ đà giáo) là:
1. Đại ngã (ParamAtman) Brahman: là Một, là Hiện thực duy nhất, là Linh hồn tuyệt đối của vũ trụ, là Tuyệt đối, Siêu nghiệm, Bất biến, Vô hình thể, Trường tồn, Vĩnh hằng, Quán thông mọi chuyện, có mặt mọi nơi chốn, là nguyên lí của vũ trụ không có khởi đầu không có tận cùng. Là Sự Thật tuyệt đối, thế giới chỉ là hư huyền.
2. Tiểu ngã (atman), một phần đồng nhất của Bản thể Brahman. Không có linh hồn cá biệt phải được hiểu là sau vòng luân hồi tiểu ngã sẽ trở về đồng nhất với Bản Ngã Brahman.
2. Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn
– Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như
Để trả lời các giáo sĩ Bà La môn muốn chỉ trích Phật là không biết Trời, Phật dạy “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”
Sở dĩ Phật ít nhắc tới Brahman là vì Phật muốn mọi người hiểu Brahman theo nghĩa Vệ đà kinh để xa lánh các giáo sĩ Bà La môn đã phân Brahman ra làm 33 vị thần mà 3 vị thần chính là Brahma, Visnou và Shiva, để lôi kéo tín đồ đem lợi lộc và đặc quyền thờ phụng cho đẳng cấp Bà la môn. Tôi cũng xin nhắc lại là Bà la môn giáo chỉ ra đời trước Phật chừng khoảng 100 năm (thế kỷ thứ VI-V trCN).
Phải hiểu là khi Phật dạy “sinh ra từ Niết bàn” chứ không phải “ở” Niết bàn là Phật có ý nói Niết Bàn không phải là nơi chốn mà Niết Bàn cũng là Chân Như: Niết bàn không thể là nơi chốn được vì Chân Như, Đấng Vĩnh hằng ở ngoài không gian và thời gian, hiện diện khắp mọi nơi.
Hiểu theo đạo Phật Nguyên thủy Chân Như, Niết Bàn, Phật tính, chỉ là Một.
– Đạo Phật Nguyên thủy không phủ nhận ý niệm tiểu ngã của kinh Vệ đà:
Đạo Phật cấm sát sinh vì mọi sinh vật đều là anh em cả, đều mang trong mình tiểu ngã (soi, self, selbst) một phần của Đại Ngã (le Soi). Ý niệm “tiểu ngã” cũng là ý niệm về phần Phật tính bất biến trong mỗi sinh linh, sợi dây kết tụ nghiệp quả của mỗi sinh linh qua vòng luân hồi để trở về với Bản thể Phật tính hay Đại Ngã Chân Như (Atman, Brahman). Theo trường phái triết học Vệ đà Vedanta, tiểu ngã là nguyên lí tự tại, siêu nghiệm (principe immanent et transcendant) độc nhất của mỗi sinh linh đi từ kiếp này qua kiếp khác. Theo định nghĩa này, tiểu ngã có thể được hiểu là sinh linh mỗi con người trong vòng luân hồi trước khi nhập vào Đại Ngã hay Vô ngã (cái Ngã chân thật, không riêng biệt). Tiểu ngã khác với “cái tôi” (le moi) mà nhiều triết gia Tây phương cũng coi là không có thực chất, phiến diện, hay thay đổi (vô thường) vì phụ thuộc vào những trạng thái tâm lí, cảm xúc, hoàn cảnh và sự vật.
Bản thể Phật tính cũng là Bản thể Brahman nên có sự nhất tính giữa Phật và chúng sinh như băng đá với nước trong thuyết “Vạn vật đồng nhất thể” của Ấn giáo.
Tôi cũng xin nhắc lại là Hội Nghị Phật giáo thế giới năm 1956 công nhận đạo Phật Tiểu thừa là thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy và như vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.
3. Có thể suy luận là những ý niệm về Trời Sáng tạo của các đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của kinh Vệ đà
Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) ít nhất là 1000 năm, nên có thể coi Ấn Độ giáo là đạo xưa nhất.
Ý niệm Trời Brahman cũng là ý niệm Trời (Éternel) trong Thánh kinh (Bible) của Do Thái giáo. Đứng về phương diện lịch sử, Ki tô giáo và Hồi giáo cùng tin ở Thánh kinh, nên có thể coi 2 đạo này chỉ là tông phái của một đạo Thiên Chúa duy nhất là Do Thái giáo. Brahman, Jehovah, Phạm Thiên, Chân Như, Chúa, Allah… chỉ là cách gọi Trời khác nhau.
Theo cuốn Giáo lí (Catéchisme) được soạn thảo sau Hội nghị các giám mục toàn thế giới kỳ 2, Công giáo định nghĩa về Trời như sau: “Trời là Nguyên nhân đầu tiên Tự tạo, Tự tại, Tự tồn tạo ra không gian thời gian nên lúc nào, chỗ nào cũng có Trời (Dieu est universel).” Như vậy Trời cũng là Thiên Đàng và trở về Thiên Đàng là trở về Tình yêu của Chúa, trở về Lòng Chúa như những người Ki Tô giáo mong ước, và cũng là mong ước của những người Phật tử muốn được giải thoát khỏi vòng luân hồi để trở về Niết Bàn hay Bản thể Phật tính Từ bi hỉ xả vậy. Brahman vô hình vô thể nhưng cũng có thể biểu hiện dưới hình thức một Trời có ngã vị (un dieu personnel) gọi là Ishvara và sau này trong Bà La môn giáo, dưới biểu hiện Brahma, Visnou, Shiva mà theo Dumézil (1898-1986), đó cũng là biểu hiện Tam thể Trimourti, trong Ấn Độ giáo, “Ba thân” trong đạo Phật, “Ba Ngôi” (Trinity) trong Ki Tô giáo.
Trong cuốn Sáng tạo và giao lưu, do nhà xuất bản Giáo dục in tháng 12- 2007, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư, tác giả nhiều bài tham luận về văn học và về nhà khoa học nhân văn Nga Bakhtin đăng trên talawas bộ cũ, người mới được giải thưởng Phan Châu Trinh về dịch thuật, có nói nhiều về luận thuyết Thần – Nhân loại (Divino-Humanité, Théandricité) của nhà hiền triết Nga Vladimir Solowiev (1853-1900). Nhà thần học Kitô giáo và hiền triết lớn nhất nước Nga này bị quên lãng dưới thời cộng sản Liên Xô, nay là niềm tự hào của nước Nga trên trường quốc tế. Những trước tác của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt của Phạm Vĩnh Cư. Tôi xin nói qua về quan niệm Thiên Chúa của Solowiev qua cuốn sách của Phạm Vĩnh Cư:
Theo thuyết Thần-Nhân loại của Solowiev, Chúa Trời sáng tạo tất cả để cuối cùng vì Tình yêu, hoá thần tất cả khiến thế giới trở thành một tha thể (thể khác) của Thiên Chúa mà không có nó thì Chúa không tồn tại vì Chúa sống trong nó và vì nó. Không còn sự khác biệt ngay cả về bản chất giữa Đấng Sáng tạo với tạo vật đồng nhất thể với Chúa (vsejedinstvo, tiếng Nga), khiến Tạo hoá và tạo vật không còn là hai bản thể riêng biệt như theo thuyết nhị nguyên luận của Descartes: bản thể quảng tính (Res extensia) vật chất và bản thể tư duy (Res cogitans) tinh thần. Quan niệm của Solowiev về Chúa, Đấng Sáng tạo vì tình yêu này tương đồng với quan niệm Đấng Tuyệt đối Brahman “Vạn vật đồng nhất thể” trong Ấn Độ giáo, nên Solowiev hồi ấy bị những người Ki tô giáo đạo Chính Thống (orthodoxes) trách cứ là sa vào thuyết Phiếm thần (Panthéisme) và cùng một tư tưởng với Spinoza (1632 – 1677), người đã đồng nhất Thượng đế với thiên nhiên. Những người này đã tỏ ra không hiểu “Thần – Nhân” là giáo thuyết đẹp nhất trong Ki Tô giáo: Giêsu Kitô con của Chúa Trời đã nhập thể thành người để chuộc tội cho loài người. Đó cũng là ý tưởng Bồ Tát trong đạo Phật.
Trong cuốn sách tiếng Anh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Living Buddha, living Christ dịch tiếng Việt là Bụt trong ta, Chúa trong ta do nhà xuất bản Riverhead Booking in năm 1995, thày Thích Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm với Solowiev là Trời, Phật ở trong ta: “Chúa Ki Tô vừa là con Trời vừa là con Người (Le fils de l’homme) và Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bất nhị nên con người cũng là một với Thượng đế… Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như và sẽ quy về với Chân Như.”
Khi Solowiev phân tích phạm trù “Cái Tuyệt đối” (Thiên Chúa), ông xác định ý niệm “hư không” trong đạo Phật: “Cái Tuyệt đối vừa là cái thoát li mọi thứ, lại vừa là cái mang mọi thứ trong mình. Nó vừa là cái tịnh không, vừa là hữu thể viên mãn nhất, hoàn bị nhất, toàn vẹn nhất… Nó là thể thống nhất của mình với cái phủ định mình“.
Ý niệm “Vô Ngã” trong đạo Phật cũng được Solowiev hiểu theo nghĩa Siêu Ngã để nói về bản tính Chúa Trời: “Ngài là Sinh linh Siêu Ngã vừa là mình lại vừa là tất cả… Là Một – và – Tất cả”. Ý niệm Siêu Ngã này làm cho ta hiểu ý niệm Tam vị Nhất thể (Trinité) trong Ki Tô giáo.
Vòng sinh tử trong đạo Phật là nghĩa sự phục sinh của Chúa Ki Tô cứu rỗi loài người thông qua cái chết: Chúa phục sinh là cái hứa hẹn và bảo đảm sự tái sinh của nhân loại trong sự sống hoàn toàn bất tử.
Kết luận
Sự tin tưởng vào một Sinh linh tối cao đều có trong mỗi con người và nằm ở tầng sâu nhất của tâm thức. Đấng sinh linh Tối cao biểu hiện trong các đạo giáo dưới những hình thức khác nhau hay được hiểu khác nhau nhưng tựu chung vẫn chỉ là Một. Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.
Theo kinh sách Vệ đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật. Những người Ki tô giáo đích thực cũng cùng một quan điểm: Giáo hoàng Jean Paul II đã luôn mở cửa nhà thờ mời Đức Đạt lai Lạt ma làm lễ. Có 84 ngàn pháp môn nên những người không theo đạo nào cả cũng có thể mở một cánh cửa đi tới Trời.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
94 Comments (bài “Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 6 7 Trang sau »
Tôi nghĩ nhiều người đọc đồngý ông Phong Uyên đã tạo ấn tượng ông đưa ra một trình bày không đúng bối cảnh, một ức thuyết thần học không nương tựa vững chắc trên nghiên cứu sử học về tôn giáo. Phải đợi ông cung cấp nguồn tư liệu, ví dụ về Ấn giáo, để biết Ấn giáo mà ông nói là ông Ấn giáo trước (sic!) hay trong, hoặc sau thời Phật còn sống, sau khi (các học giả) tôn giáo này đã kinh qua vô số những tranh luận triết học và thần học với (các luận sư) Đại thừa. Định nghĩa về Ấn giáo của Tòa án Tối cao Ấn trong thế kỉ 20, hoặc các khái niệm về Tự Ngã, Brahman, Thần (Brahma; Phạm Thiên) mà Vedanta sau thời Phật đã đưa ra hoàn toàn không thích hợp cho một thải luận có ích.
Không có gì mới mẻ trong trình bày Phật như một nhà Ấn giáo cách tân hay nói rộng ra, thần giáo cách tân, và Phật giáo là một thần giáo ít nhiều thiếu ý thức, về nền tảng thần giáo của mình. Các nhà Ấn giáo trong thời đạo Phật giáo còn hưng thịnh ở đất Ấn đã nói, và trong các thế kỉ vừa qua điều này đã dược lập lại với nội dung phong phú, hệ thống hơn. Có lí nào họ không làm khi mà Thích Ca được thế giới xem như đứa con vĩ đại của nhất của Ân độ! Hiện tại, không ít các nhà triết học và thần học phương tây cũng đã vào cuộc, không hẳn để nói về Phật như một nhà thần giáo cách tân, mà rõ ràng hơn là để biện minh cho việc (muốn)ứng dụng một phần triết học và phương thức tu tập Phật giáo.
Nhiều danh tăng như Dalai Lama và nhất là Thích Nhất Hạnh v.v. cũng có những giảng giải khiến người ta có ấn tượng Phật giáo Đại thừa suy cho cùng cũng là một một thần giáo theo cách riêng của nó. Nhưng rõ ràng đa số đối tượng của những giảng giải này là người phát sinh trong, hay đang sinh thành trong bối cảnh thần giáo. Tâm lí học Phật giáo, giống như một số các nhà triết học phương tây ngày nay, rằng anh không thể tiếp cận sự vật mà không có một lăng kính nào. Người từ bỏ tôn giáo của mình để học Phật, do đó, vẫn bị khuôn nắn, điều kiện hóa sâu xa bởi niềm tin vốn là một phần của nền tảng nhận thức của người ấy. Theo cái nhìn như vậy, không thể có chuyện một sớm một chiều lột bỏ một lăng kính và thay thế nó bằng lăng kính khác. Phật giáo qua trung gian ngôn ngữ thần giáo là phương cách hữu hiệu, “thiện xảo” nhất! Nói cho cùng, như Dalai Lama từng tuyên bố, không cần phải từ bỏ tôn giáo của mình, mà chỉ cần học hỏi, thực hành đạo Phật là đủ để có lúc đạt đến chỗ nhìn thực tại như-nó-là.
Có thể nói xu hướng thần giáo trong đạo Phật, mà qua đến Trung quốc nó được hệ thống hóa thành Tịnh độ tông, cũng đã ít nhiều phát sinh theo cách tương tự. Một vị Phật phi sử như A Di Đà trong căn bản là một đối tượng thiền định, như vố số các Adi-Buddha trong Mật tông. Sự trì niệm hồng danh A Di Đà, hay một tên Phật khác hoặc một chân ngôn, thần chú, là phương cách tập thiền định. Sự học hiểu giáo lí là để tâm thức đi vào các chân lí phật giáo (chứ không cuồng chân cuồng cẳng vì bị thiền định nhốt lại một chỗ!), và sự giữ gìn giới luật nghiêm nhặt thì ít nhất cần thiết để giữ cả thân lẫn tâm trong chánh pháp. Sự tu tập của Tịnh Độ tông như thế hoàn toàn không xa rời cái học chính thống: tam học giới-định-tuệ. Người Tịnh độ, sau khi trở thành một đại hành giả của lối tu tập này, sẽ không nói khác với các thiền sư chứng đắc, về Tịnh Độ, Phật A Di Đà v.v.
Xu hướng thần giáo được cho là có ngay trong thời Phật, bắt đầu với những người xem Phật như không là một con người trí tuệ siêu việt, mà thật ra là một thần-nhân, Con của Phạm Thiên giáng sinh xuống cõi thế. Nhưng Phật trình bày giáo pháp của mình cho nhiều hạng người, bằng ngôn từ mà cái khung nhận thức của họ cho phép hiểu, chứ không phải là một nhà thần giáo cách tân chỉ vì nói đến Phạm Thiên hay các ý niệm quen thuộc đối với những đệ tử bị điều kiện hóa bởi niềm tin truyền thống. Theo giải thích truyền thống, tất cả những “chứng từ” để nói Phật tin Phạm Thiên v.v. và v.v. đều được giải thích lối đó. Câu ông Phong Uyên trích dịch dưới đây (bỏ phụ chú mới lạ của ông) cũng chỉ như thế mà thôi:
“Ta biết Trời … và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.” “Trời” không phải là tên thích hợp để dịch “Brahma”, mà người Phật giáo xưa nay vẫn phiên âm là Phạm, hay Phạm Thiên. Nhưng dĩ nhiên câu này là để trả lời câu hỏi của người thần giáo. Dựa vào nó, hay những câu tương tự, để nói Phật không phủ nhận sự tồn tại của Phạm Thiên, thì đúng. Nhưng đi xa thêm, cho rằng Phật, do đó, tin (thờ) Phạm Thiên, làm như thế thì biến chút sắc thái thần giáo trong đạo Phật thành chính đạo Phật, và nó chẳng có gì vững chắc hơn giải thích khác, nếu không nói kém xa, ví dụ ý Phật trong câu đó là Phạm Thiên không có thật, Phật biết như thế, nhưng có nói ra như vậy cũng vô dụng và chẳng những thế còn gây phản cảm -ngay thực tính một sự vật đã là điều không thể trình bày trong các phạm trù quen thuộc. Chỉ cần sửa đổi một chút ý này thì nớ trở thành một giải thích truyền thống và phù hợp với nghiên cứu về quan niệm Thần của Phật giáo buổi đầu.
Nay lại thấy tôi xuất hiện ở đây chắc bà con không khỏi… phì cười, rằng ổng lại muón “lăn tăn” gì ở đây chăng, thưa không. Chăng qua thấy quần hào cao đàm hùng biện hăng say quá có vị thì tán thán, có vị thì cười, có vị thở dài… trước “cảnh tượng đêm nay” như vậy tôi chỉ xin mời quần hào kinh qua một chút thư giãn với câu chuyện sau đây :
Đạo Phật ở nước ta sau những thời hưng thịnh dưới các triều Lý, Trần sang đến thời Lê thì có những dấu hiệu thoái trào, Nho gia trở lại thái độ bỉ thử của mình đối với Phật Gia, cho rằng đó là một thứ văn hóa “phi quân thần phụ tử”, không nên xiển dương; Phật Gia cũng có người phản ứng lại cho rằng Nho Học chẳng qua là một cái học ứng dụng so sao được với Phật Gia và Đạo Gia mà triết lý uyên áo hơn nhiều tầng, cho nên có một tranh biếm họa vẽ Lão Tử và Thích Ca ngồi trên sập cao tọa đàm nghiêm chỉnh và dưới đất Khổng Tử cung kính chăm chú ngồi nghe . Một nhà nho tinh quái cho bức tranh một phụ đề nguyên văn như sau :
Thích Ca luận đạo
Lão Tử cầu kinh
Khổng Tử văn chi
Tiếu nhi trụy địa
(dịch nghĩa : Thích Ca giảng về Đạo Phật, Lão Tử thuyết về Đạo Giáo, Khổng Tử ngồi nghe (mà) tức cười quá té lăn cù xuống đất).
Tôi chỉ xin (giản đơn) làm công việc “thuật nhi bất tác” tuyệt nhiên không dám có điều gì lạm bàn .
Chào bác Trương Đức,
Cám ơn bác đã hồi âm. Triết ly’ Đạo Phật rất ư gần gũi với cuộc sống, chỉ cần ngồi lặng yên quan sát kỹ mọi sự vật xảy ra xung quanh thì cảm nhận ra ngay, từ đó mới thấy bể khổ trần gian sâu và rộng như thế nào. Chúng ta, tôi và bác, cũng nằm trong vòng liên hệ đó nhưng nếu thấu hiểu giáo lý Nhà Phật thì mình không dại gì mà nhúng chân vào, coi chừng lại phải lặn hụp mãi không ngoi ra được.
Đức Phật ngày xưa cũng thường hay tổ chức những buổi toạ đàm rất cởi mở trong công chúng. Ngài cho phép mọi người tham gia đặt câu hỏi chất vấn và Ngài từ tốn trả lời giải thích cặn kẽ, trong bầu không khí tự do dân chủ. Bởi vì Ngài muốn chúng đệ tử động não suy nghĩ để hiểu rốt ráo lời Ngài giảng, chứ đừng nhắm mắt tin ngay, nhìn mặt trăng mà hướng đến chứ đừng nhìn ngón tay trỏ của Ngài, ngón tay Ngài đâu phải là mặt trăng. Vậy mà đâu phải ai ai cũng ngộ được ý nghĩa đó. Vì thế đến ngày nay vẫn còn nhiều người cứ ôm khư khu mấy chục tạng kinh, trích dẫn cả đống đường link, đem tên tuổi cao tăng ra làm chứng. Họ càng làm thế chứng tỏ ông Phật trong tâm họ chưa được chăm sóc kỹ. Trong thời đại truyền thông Internet tối tân hiện đại này, muốn tìm một dữ liệu về tôn giáo đâu có khó khăn gì, chỉ cần vào Google click một cái là thấy hiện ra cả chục trang thông tin, tha hồ mà đọc. Mà không lẽ chúng ta cứ chơi cái trò copy & paste, hay click, click đùơng link của người ta nhưng chính bản thân mình thì chẳng có gì để đàm luận hết sao?
Chào thân ái,
Ông xyz nói nhiều điều có lý, tuy không phải điều nào cũng có lý. Chắc là ai cũng thế thôi.
Bộ Phật học phổ thông của HT Thích Thiện Hoa khi nghe nhắc lại gợi cho tôi nhiều kỷ niệm. Ngày xưa tôi từng đạp xe rất nhiều lần đến chùa Xá Lợi để mua mỗi lần một cuốn trong bộ sách gồm 12 cuốn. Không ai giới thiệu tôi bộ sách đó, tự tôi khám phá ra và đọc thấy hay. Tuy sau này mua đủ bộ, nhưng dường như tôi chỉ đọc được tới quyển thứ 5 hay thứ 6 thôi (chừng một nửa). Thời đó có nhiều lý do để không thể đọc hết, và tôi chưa có cơ hội đọc lại. Hôm nào tôi tìm vào các trang Quảng Đức hay Hoa Sen để đọc (lại và đọc tiếp), có lẽ cũng là cách để tưởng niệm HT Thiện Hoa (tôi hiện có vài quyển giảng kinh của cố Hoà Thượng). Nói dài dòng chỉ là để cám ơn ông xyz giới thiệu sách giúp tôi nhớ lại chuyện cũ.
Nhận xét về bài viết của ông Phong Uyên, tôi thấy các ý kiến của các ông Dukkhkarma, Langle , Hoangnguyen tuy không dài nhưng đi vào nội dung , hay phê bình trực tiếp nhất. Tôi thì tò mò muốn biết nhiều ý kiến khác, và bất ngờ thấy có người như ông Nguyễn Hữu Liêm khen (nhưng viết hơi ít ).
Đọc đoạn đầu tiên của bài viết mà tác giả Phong Uyên mang lại cho độc giả talawas thì tôi cũng hiểu vì sao những bài viết về tôn giáo lại có lắm phản hồi như vậy.
Họ tranh luận có vẻ là về chủ đề về đạo nhưng thực chất lại lật ngửa con bài với nhau là đem lập luận chủ kiến với nội dung mạn đàm chính trị, với mục đích sát phạt cá nhân nhau là chính, chứ nội dung cần thiết để truyền tải về tôn giáo thì tác giả trong bài đã nói đủ và nói đúng rồi.
Thực chất là khi đọc bài trên talawas nói chung và nhất là những bài viết có nội dung về tôn giáo như bài viết này nói riêng tôi hiếm khi muốn tranh luận để thuyết phục ai phải có cùng ý kiến với mình. Ý kiến đa chiều với tôi có ý nghĩa quan trọng hơn. Nhưng quan trọng nhất đối với tôi là ý kiến đa chiều nào có ý nghĩa nhất.
Chúa cho con người quyền tự do tuyệt đối để họ tự xây dựng chính mình, Chúa tạo ra ánh sáng để soi lối nhưng ít ai đi theo, họ lại cứ lủi vào trong bóng tối rồi than khóc rằng Chúa bỏ họ trong sợ hãi. Chúa vẫn không dắt ai ra khỏi bóng tối vì Ngài đã ban cho tất cả đôi chân và trí óc. Nhưng con người muốn Chúa bồng bế mình chứ không muốn nghĩ cho nhức đầu.
Phật cũng đề cao đạo một cách ôn hòa đó cho con người. Vậy mà những người tự coi mình thấu hiểu Phật nhất lại ra sức hạ thấp người khác, những người vốn chưa (muốn) hiểu đạo Phật là gì để cần được giải thích một cách ôn hòa. Vậy thì sự sân si đó được sự sân si kia đáp lại cũng đâu có gì khó hiểu. Trao đổi sẽ trở thành sự tranh cãi: con gà đẻ ra quả trứng và quả trứng đẻ ra con gà, vật nào là bậc khai sinh cho vật kia…
Vậy đó.
Bác Hoà Nguyễn nói (10/05/2010 lúc 10:13 pm): “Ông xyz thử tìm một chương, một đoạn trong đó liên quan đến vấn đề đang thảo luận, như thế sẽ ích lợi cho cuộc thảo luận và cho nhiều người quan tâm về Phật giáo ở đây.”
Cảm ơn bác đã lưu tâm đến phản hồi. Thực tình tôi thấy tác giả Phong Uyên đã từng yêu cầu quá cao: Chỉ nên đọc (và tin) những kinh sách nhà Phật nào được dịch từ tiếng Bắc/Nam Phạn gì đó thôi, chứ những văn bản đã dịch qua tiếng Hán rồi thì không đáng tin, nên tôi không dám góp ý vào các phát biểu nào của tác giả này, vì lẽ nếu cần dẫn chứng thì lại đụng phải toàn những thứ đã bị Tàu hóa, thế nào cũng bị chê là “hàng giả hàng nhái” ngay thôi. Còn đối với những ai mà bác tin là đang “quan tâm đến Phật giáo ở đây”, thì có thể chia làm hai dạng: Dạng thứ nhất, thật sự muốn tìm cầu sự hiểu biết (“tìm cầu chân lý”, có thể tạm gọi như vậy) thì có lẽ nên “mách” cái link để họ có thể tiếp cận (dễ dàng) bộ Phật Học Phổ Thông của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, mà tôi tin trước khi phát biểu gì về tôn giáo độc đáo này, người ta nên hy sinh chút thời giờ để đọc kỹ nó một lần (thật ra thì phải hai lần !): Họ sẽ thấy không uổng phí, mà trái lại sẽ được đền bù xứng đáng mà chỉ chính họ mới cảm nghiệm được. Còn dạng thứ hai, họ chỉ tò mò cho vui thôi, thì những tranh luận thế này chỉ có thể đưa đến đâu, ai cũng đoán được. (Nhưng niềm vui tao nhã của họ cũng cần được tôn trọng, tất nhiên rồi !)
“Đúng là từ Ý Nghiệp đi đến Khẩu Nghiệp không xa, Đạo Phật phân tích quá chính xác, mời bác Trương Đức vào xem để biết thêm kinh nghiệm về thực hành.”(Lê Quốc Trinh)
@bác Lê Quốc Trinh thân mến,
Xin cám ơn lời mời của bác. Tôi rất hiểu cái “Tâm” của bác. Từ cái “Tâm” ấy mà bác đã đưa ra cái định nghĩa rất chí lí về Đạo Phật: “Đạo Phật là Đạo của Trí Tuệ”. Và tôi chỉ cần chờ từ tác giả Phong Uyên lời định nghĩa “Phật là gì?” nữa là hoàn toàn có thể ung dung “hớp một ngụm trà ướp hoa sen thơm phức” rồi vào talawas xem màn… “múa rìu qua mắt thợ” của ông/bà xyz. Tôi nói thế là bởi vì thấy ông/bà xyz, tuy nói rằng “chỉ đặt vài ba câu hỏi cho vui vậy thôi chớ sức chi mà dám “múa rìu qua mắt thợ””, nhưng ông/bà xyz đã “hua môi múa mép” tập trước điệu “múa rìu” như thế này: “Trong kinh Tiểu thừa (A Hàm: http://www.quangduc.com/kinhdien/index.html) cũng như kinh Đại thừa (Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa:
http://daitangkinhvietnam.org/kinh-bo-bac-truyen/kinh-dai-bat-nha.html), tui thấy Đức Phật mấy lần gọi tranh luận kiểu đó là “Hí luận”, hoặc tệ hơn nữa, là “Súc sanh luận””. Tôi xin chứng minh: Đức Phật dạy: “Suốt 49 năm ta chẳng nói lời nào”, tức là “suốt 49 năm ta (Đức Phật) cũng không “gọi” một lời nào”. Và như vậy thì, ông/bà xyz đã bịa đặt, hay nói như bác LQT là, “gán tội cho Đức Phật”. Thứ nữa, Đức Phật, một khi đã nói “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”, thì khi “phát biểu cảm tưởng” về mấy cái chuyện “tranh luận” về đạo Phật của chúng ta trên diễn đàn talawas này, sẽ không “hạ thấp” mình xuống để dùng mấy chữ “hí luận”,”súc sanh luận”, mà Ngài (Đức Phật) sẽ chỉ “mỉm cười âu yếm” với chúng ta. Tôi nghĩ thế, và chắc là thế!
Vậy nên, ông/bà xyz chưa đạt được cái “Ý NGHIỆP”, “KHẨU NGHIỆP”, và “THÂN NGHIỆP” theo đúng ý nghĩa của đạo lý nhà Phật. Tôi thấy ông/bà xyz loay hoay lúng túng “múa rìu qua mắt thợ”, tức là mới chỉ ở tầm “TỘI NGHIỆP” thôi!
Tôi thấy sự bàn cãi trên diễn đàn này, càng ngày càng khó hiểu khi đi sâu vào rối rắm chữ nghĩa, vào thuyết này thuyết kia, riết rồi như một mớ bòng bong như một bát quái trận đồ. Theo tôi, hai tôn giáo lớn mà chúng ta hay bàn là Thiên Chúa giáo và Phật giáo chỉ gom vào hai chữ sau:
Đối với Phật giáo, mọi nguyên lý, mọi trí tuệ đều gom vào một chữ: DUYÊN
Chữ Duyên mang tính Ngẫu Nhiên, mang dấu ấn thiên cơ, trời định
Vì vậy mà Phật giáo ở những đất nước khác nhau, gặp cơ duyên sinh ra những hình tượng khác nhau, nhưng chung quy cũng chỉ từ một gốc
Đối với Thiên Chúa giáo, mọi nguyên lý, mọi trí tuệ đều gom vào một chữ: TIN
Tin mang tính Biện Chứng, mang dấu ấn con người thiên định
Vì vậy mà Thiên Chúa giáo, với lòng tin khác biệt nhau nên rẻ ra nhiều nhánh, nhưng chung quy cũng chỉ từ một nguồn.
Vì vậy, bàn cãi cho lắm, với những từ dao to búa lớn, chỉ mất thời gian thôi, nếu chỉ dựa vào suy luận, cảm tính của chính mình và trên những hệ quả, mà không đi sâu từ định đề, tiền đề ban đầu.
Wow, eng Phật Học Giả đã thưởng xong tuần trà mạn sen thơm phức từ các tầng trời Cứu Cánh, Dạ Ma, hay Đâu Suất chi đó và đang trở về với thực tại tham sân si của tui, và dõng dạc la lên: “Ông XYZ lại tìm cách gán tội cho Đức Phật bằng câu tuyên bố như sau:…” khiến tui sợ run muốn chết. Thưa eng, tui đã thiệt thà khai báo 2 cái link (vô 4 bộ A Hàm và 24 tập Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa) để quí eng có cơ sở kiểm chứng lại thông tin, tức là tui “nói có sách mách có chứng” đàng hoàng, mà eng còn oai oái qui chụp cho tui cái nón “gán tội cho Đức Phật” là răng? Cho nên tui cũng đâm ra hoang mang không rõ mình đang thưa chuyện với đấng mô mà giỏi “cả vú lấp miệng em” rứa hè? Bữa trước eng dạy: Ông Phật A Di Đà chỉ là trò bịa đặt của các “tín đồ chư tăng” “buôn thần bán thánh”, thì nay tui đã cung cấp luôn cả cái link vô phần giới thiệu Tịnh Độ tông trong bộ Phật Học Phổ Thông của thầy Thích Thiện Hoa luôn đó, mà eng cũng có thèm liếc mắt mô tề? Chắc eng cũng có ý biểu thầy Thiện Hoa chẳng đủ trình độ đáng cho eng đọc, đồng thời cũng là hạng “buôn thần bán thánh” luôn chớ chi ? Vậy té ra kinh sách, giáo lý nhà Phật eng chê không thèm duyệt, vậy mà vẫn hùng hồn hô khẩu hiệu: “Đạo Phật phân tích quá chính xác”, rồi lại: “Đạo Phật là Đạo của Trí Tuệ, mọi thứ đều phải gạn lọc qua lý luận vững chắc, thâm sâu và sát với thực tiễn, mục tiêu tiến đến là Từ Bi Hỷ Xả, do đó mới cần đến phương pháp tu hành Bát Chánh Đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh niệm, nào phải là trò đùa”! (Xin lỗi eng he, thú thiệt tui muốn ù cả 2 tai luôn đó eng, cứ y chang như nghe mấy ôông lãnh đạo nhà mình lâu nay vẫn tung hô tánh ưu việt của XHCN vậy đó!) Nghĩa là eng đã tìm được một thứ “Đạo Phật” trên trời rớt xuống, chớ không phải thứ Đạo Phật được thiên hạ lưu truyền qua Tam Tạng Kinh, Luật, Luận hơn 2000 năm ni hay răng? Vậy là eng siêu phàm quá chời (tui đã “nghi” vậy rồi mà!) nên chi tui cũng đã thành khẩn hỏi eng lần trước, là eng có cất giữ được bảo điển hay bí kíp mô về Phật Học Chân Truyền thì làm ơn mách bảo đặng tui học theo với, mà eng phớt lờ luôn, là răng? Thôi thì vầy, chừng mô eng tiết lộ tông tích Bảo Điển (Quì Hoa?) đặng thiên hạ biết mà lần theo giải mã cái ngón nghề hô khẩu hiệu hùng hồn của eng, với lại chừng mô eng thôi cái trò chụp mũ trẻ ranh nớ, tui mới tiếp tục nói chuyện cho vui, bằng không thì đành “chia lìa không níu kéo” ở đây eng nghe!
Ông/bà xyz viết: “Phải chăng bởi các nam nhơn họ tự cho là có năng lực tư duy minh triết/lý luận/phán đoán/hiểu biết về vấn đề này hơn phụ nữ?
E rằng không phải lý do đó, mà có thể bởi vì cái gọi là thảo luận nói chung rất dễ trở thành tranh luận, luận chiến, mà ở đâu có chiến tranh thì nam giới thường xông vào, hay bị lôi cuốn, bị đẩy vào. Về tư duy minh triết, tôi từng thấy trên talawas, bà Thái Kim Lan đã viết nhiều bài xuất sắc về Phật giáo, ít người bì được, ngay cả các nam nhơn ở Huế từng trong nhóm Phật giáo tranh đấu như các ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân tôi cho cũng không sánh kịp bà trong địa hạt này. Nhưng bây giờ hoặc vì talawas trở thành “lề trái” quá, hoặc vì bà TKL bận về VN để làm đẹp thêm cho đất nước nên không thấy lên tiếng đó thôi.
Bộ Phật Học Phổ Thông của cố HT Thích Thiện Hoa được nhắc tới quả rất hay và cần thiết cho người học Phật, nhưng xin ông/bà xyz thử tìm một chương, một đoạn trong đó liên quan đến vấn đề đang thảo luận, như thế sẽ ích lợi cho cuộc thảo luận và cho nhiều người quan tâm về Phật giáo ở đây.
Tôi có thể hiểu lầm lại có người không ủng hộ sự phát biểu tự do tư tưởng, ngay cả khi được phép làm thế. Nếu là thế thì ngày nào ở Việt Nam may mắn được tự do ngôn luận, như trên diễn đàn talawas hiện nay, người ta có nhân danh gì đó mà không nói lên ý nghĩ chân thật của mình không.
Ông Kim Sinh bị “ngộ” với đạo Phật rồi nên không phân biệt nổi “định nghĩa” và “bàn” nữa:
1. “cái hệ tư tưởng ấy là hệ tư tưởng gì, duy tâm hay duy vật… nó cần phải được nói rõ ràng hơn” – Cái này của ông Kim Sinh là chuyển sang lĩnh vực bàn, đi sâu phân tích rồi. Còn tôi đã đưa ra định nghĩa như ông yêu cầu rồi đó thôi ( Ông yêu cầu rằng đưa ra định nghĩa rồi mới bàn, mới đi sâu phân tích ).
Tôi bảo đạo Phật toàn hô khẩu hiệu thì đó đúng là “bàn” đấy chứ không còn là “định nghĩa” nữa.
2. “lời Phật nói: “Suốt 49 năm ta chẳng nói lời nào” vẫn còn nguyên giá trị để phản biện để buộc ông định nghĩa lại Phật giáo là gì rõ ràng hơn trước khi bảo nó là “hoang đường” hoặc “hô khẩu hiệu”.”
Đó chỉ là một câu nói trong rất nhiều câu nói của Thích Ca thôi. Cả hệ tư tưởng của Thích Ca không phải chỉ có mỗi câu đó. Vì nếu có mỗi câu đó thì cũng không có cái gọi là đạo Phật.
Ông thích phản biện, ông thắc mắc tại sao Thích Ca lại nói như vậy thì tôi đã đưa ra hai khả năng rồi: Hoặc Thích Ca là một kẻ tráo trở, hoặc ông ta vừa nói nhưng vừa phủ định lời mình nói để nhằm gửi gắm một quan điểm riêng.
3. “Lời ấy được ghi vào kinh sách thì hơn là ghi âm. Ông đừng lảm nhảm.”
Đề nghị ông Kim Sinh chứng minh tính “hơn là” ở đây.
“Ông đừng làm nhảm” – một lời quát tháo rất trẻ con nữa của ông Kim Sinh, sau khi ông từng lớn tiếng “đừng có chen vào”, “đi chỗ khác chơi”.
4. “Lời phủ định ấy không thể “cộng” vào “những lời trước đó để dịnh hình một cái hệ tư tưởng. Đây là lời phủ định, một đúng một sai trước đúng thì sau sai, trước sai thì sau đúng, chứ không có “cộng” được. Chỉ có người hiểu lơ mơ Phật giáo mà dám phê phán thì mới “cộng” ẩu như vậy thôi.”
Nếu ông Kim Sinh không “cộng” vào thì ông lấy ở đâu ra cái “trước” và cái “sau” vậy ?
5. “Còn khái niệm “hệ tư tưởng” mà ông nói đó nó lại trật với Phật giáo rồi. Phật giáo làm gì có hệ tư tưởng nào ? Ông nói tui nghe hệ tư tưởng của Phật giáo là gì nghe thử nào ?”
Tôi đã nói rằng hệ tư tưởng của đạo Phật là tòan hô khẩu hiệu rồi. Còn ông Kim Sinh vẫn loay hoay chưa biết ứng xử thế nào với câu phủ định của Thích Ca mà đã phán ầm ầm về “Phật giáo” ( một tôn giáo ? ).
6. “Muốn phê phán điều gì phải hiểu nó thật rõ, ông không những không hiểu Phật giáo là gì mà còn trật ngay ở điểm bắt đầu là “hệ tư tưởng” thì ông phê phán cái gì hả ông Anh Dũng ?”
Tại sao ông Kim Sinh lại cứ cho rằng tôi “không hiểu” Phật giáo trong khi tôi và ông vẫn đang tranh luận cơ mà ???
Tôi vẫn giữ nguyên định nghĩa của mình về đạo Phật, và đánh giá rằng đạo Phật toàn hô khẩu hiệu. Bất chấp việc ông Kim Sinh gào thét, quát tháo khản cả cổ rằng “đừng có chen vào”, “đi chỗ khác chơi”, “đừng làm nhảm”,…
Ông (bà) XYZ lại tìm cách gán tội cho Đức Phật bằng câu tuyên bố như saU:
…”tui thấy Đức Phật mấy lần gọi tranh luận kiểu đó là “Hí luận”, hoặc tệ hơn nữa, là “Súc sanh luận”, nên chỉ đặt vài ba câu hỏi cho vui vậy thôi chớ sức chi mà dám “múa rìu qua mắt thợ?”….
__________________________
Bởi vậy nên tôi mới khẩn khoản kêu gọi chủ nhà Phong Uyên nên đưa ra một định nghĩa thế nào là PHẬT trước khi viết một bài dài tràng giang đại hải, rốt cuộc dẫn đến những cuộc tranh luận, theo ý ông (bà) XYZ là “hý luận” hay “súc sanh luận”.
Ông (bà) XYZ đã không kiểm soát được cảm xúc dâng trào, hay gọi nôm na là cảm tính (tính, dấu sắc), đến độ xem cuộc thảo luận nồng nhiệt này là “súc sanh luận”. Đúng là từ Ý Nghiệp đi đến Khẩu Nghiệp không xa, Đạo Phật phân tích quá chính xác, mời bác Trương Đức vào xem để biết thêm kinh nghiệm về thực hành.
Đạo Phật là Đạo của Trí Tuệ, mọi thứ đều phải gạn lọc qua lý luận vững chắc, thâm sâu và sát với thực tiễn, mục tiêu tiến đến là Từ Bi Hỷ Xả, do đó mới cần đến phương pháp tu hành Bát Chánh Đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh niệm, nào phải là trò đùa.
Tui nhận ra một điều là hễ có tranh luận về tôn giáo, thì luôn mau chóng thu hút một số lượng rất lớn người tham gia, mà thú vị ở chỗ hết 99,99% trường hợp là chỉ có nam nhơn nhào vô, chớ nữ nhơn có vẻ họ không ham (cũng như họ ít ham bàn chuyện chánh trị vậy thôi ?) Phải chăng bởi các nam nhơn họ tự cho là có năng lực tư duy minh triết/lý luận/phán đoán/hiểu biết về vấn đề này hơn phụ nữ ? E cũng phải thôi, bởi ngay các vị phát minh ra các tôn giáo cũng toàn là nam nhơn (hoặc thị hiện ra là nam nhơn) hết cả ? (Độc giả có thể dành 3 giây để tự kiểm chứng nhận xét trên bằng cách liên hệ tới bản thân cùng các thân nhân bằng hữu hàng xóm láng giềng quanh mình hay không ?) Điểm thường thấy thứ nhì là cái sân và cái si của những người tham gia tranh luận cũng khó che giấu nhứt, thậm chí họ không tự kiểm soát được, thế nào nó cũng thòi ra ở đâu đó (trừ khi đó là người không có đức tin, hay vô thần, thấy ngộ thì họ góp xen vô vậy thôi, chớ không đứng hẳn về bên nào hết). Điểm thứ ba là một tỉ lệ hết sức lớn các người tham gia đều tự cho mình đã đọc và nắm đầy đủ tất cả những chi là tinh yếu và cao siêu của tôn giáo, hay các tôn giáo, mà mình đang bàn tới, trong khi thực ra họ không buồn liếc mắt tới những thông tin hay giáo lý cơ bản của (những) tôn giáo đó (cụ thể ở đây là Phật giáo) bởi coi những thông tin đó là thấp kém so với trình độ của họ, không đáng cho họ tham khảo ? (Tui tự hỏi bao nhiêu trong số các vị góp lời trong chủ đề này đã đọc qua bộ Phật Học Phổ Thông của thầy Thích Thiện Hoa (http://www.quangduc.com/coban/25phpt00.html) ? Bao nhiêu vị cho là trình độ nó chỉ là phổ thông, không cần đọc ? Bao nhiêu vị thấy được nó không hề “phổ thông” chút nào, trái lại là cả một công trình tâm huyết đầy “tham vọng” của người biên soạn, thực tế nó đủ qui mô, đủ sâu rộng tới nỗi một người cử nhơn/cao học/tiến sĩ Phật học cũng chưa dám nói đã nắm biết hết ?) Điểm thứ tư là khi đứng trên điểm nhìn của một tôn giáo để nói về một tôn giáo khác, người tranh luận thường phát ngôn thiếu cẩn trọng, thậm chí thiếu tôn trọng, họ dường như quên rằng “không phải cứ hạ thấp kẻ khác xuống là đương nhiên mình được coi như cao hẳn lên” ? (Có ai trong họ từng để tâm coi trong những lần được phỏng vấn, Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng đã phát biểu tôn trọng về tôn giáo khác, hay thấy thầy Thích Nhất Hạnh đã nghĩ/viết cao sâu ra sao trong tác phẩm “Living Buddha, living Christ” của thầy ?) Điều thứ năm là các cuộc tranh luận thường không đưa tới đâu hết, nghĩa là rút cục người nào cũng vẫn thấy mình “đúng”, chỉ có người khác “sai”, hoặc may mắn nữa thì thấy có một số người khác cũng hân hạnh được “đúng”/được “chánh kiến”,”chánh tư duy”, “chánh ngữ”, “chánh niệm” như mình. Chính bởi hầu hết những ai tham gia đều không nhằm truy cầu “chân lý”, mà chỉ nhằm khẳng định “năng kiến”/“sở kiến” của riêng mình, nên nói theo nhà Phật họ chỉ làm tăng trưởng các “căn bản phiền não tâm sở” cùng các “tiểu tùy phiền não tâm sở” của mình, đồng thời tăng trưởng “ngã mạn”. Trong kinh Tiểu thừa (A Hàm: http://www.quangduc.com/kinhdien/index.html) cũng như kinh Đại thừa (Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa:
http://daitangkinhvietnam.org/kinh-bo-bac-truyen/kinh-dai-bat-nha.html), tui thấy Đức Phật mấy lần gọi tranh luận kiểu đó là “Hí luận”, hoặc tệ hơn nữa, là “Súc sanh luận”, nên chỉ đặt vài ba câu hỏi cho vui vậy thôi chớ sức chi mà dám “múa rìu qua mắt thợ”?
Tình cờ làm sao trên tờ Vancouver Sun cách đây mấy hôm có một bài điểm sách “Wild Geese: Buddhism in Canada”, sách không nói về triết lý nhà Phật nói chung, nhưng bàn về môi trường phát triển “một thứ” Phật Giáo ở Bắc Mỹ. FYI xin giới thiệu.
http://communities.canada.com/vancouversun/blogs/thesearch/default.aspx
Anh Dũng: Thứ nhất, ông Kim Sinh lại bịa đặt:
http://www.talawas.org/?p=17073#comments
Định nghĩa: Đạo Phật là một hệ tư tưởng do Thích Ca Mâu Ni xây dựng.
Như vậy là cái định nghĩa “Đó là toàn bộ những lời Phật Thích Ca nói” là định nghĩa của ông Kim Sinh chứ không phải của tôi.
KS: Tôi đã tin vào trí nhớ của mình nên đã không tìm lại và trích nguyên văn lời ông nói. Thế nhưng bản chất vấn đề vẫn không khác. Ông định nghĩa Phật giáo là “Hệ tư tưởng do Phật Thích Ca Mâu Ni xây dựng” thì cái hệ tư tưởng ấy là hệ tư tưởng gì, duy tâm hay duy vật… nó cần phải được nói rõ ràng hơn. Và rõ ràng trong trường hợp này ông đã hướng đến chuyện : “Đạo Phật toàn hô khẩu hiệu”. Và vì vậy lời Phật nói: “Suốt 49 năm ta chẳng nói lời nào” vẫn còn nguyên giá trị để phản biện để buộc ông định nghĩa lại Phật giáo là gì rõ ràng hơn trước khi bảo nó là “hoang đường” hoặc “hô khẩu hiệu”.
Và điều này tui cũng muốn gởi đến bác Phong Uyên, bác không định nghĩa Phật giáo là gì thì mọi cố gắng bác đưa ra đều như cát tuột khỏi kẽ tay mà thôi.
Anh Dũng: Rõ ràng là Thích Ca ít nhất cũng đã có một LỜI NÓI ( ý phủ định ). Nhưng ngoài lời phủ định ấy ra thì kinh sách cũng chép cả những lời của Thích Ca trước đó nữa. Cho nên, hoặc Thích Ca là một kẻ tráo trở ( may cho Thích Ca là ngày xưa chưa có thiết bị ghi âm ), hoặc có thể cộng cả cái lời phủ định ấy cùng với “nhiều lời” ( Thích Ca không bị câm, vẫn đối thoại ngon lành cơ mà ) trước đó để định hình một cái hệ tư tưởng chung.
KS: Lời ấy được ghi vào kinh sách thì hơn là ghi âm. Ông đừng lảm nhảm.
Và, Lời phủ định ấy không thể “cộng” vào “những lời trước đó để dịnh hình một cái hệ tư tưởng. Đây là lời phủ định, một đúng một sai trước đúng thì sau sai, trước sai thì sau đúng, chứ không có “cộng” được. Chỉ có người hiểu lơ mơ Phật giáo mà dám phê phán thì mới “cộng” ẩu như vậy thôi.
Còn khái niệm “hệ tư tưởng” mà ông nói đó nó lại trật với Phật giáo rồi. Phật giáo làm gì có hệ tư tưởng nào ? Ông nói tui nghe hệ tư tưởng của Phật giáo là gì nghe thử nào ?
Muốn phê phán điều gì phải hiểu nó thật rõ, ông không những không hiểu Phật giáo là gì mà còn trật ngay ở điểm bắt đầu là “hệ tư tưởng” thì ông phê phán cái gì hả ông Anh Dũng ?
🙂