Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa
07/05/2010 | 2:37 chiều | 94 Comments
Category: Tôn giáo
Thẻ: Ấn giáo > kinh Vệ đà
Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi. Phần lớn những phản hồi này (hơn 200 bài /12 bài) chỉ lặp đi lặp lại ý kiến của vài độc giả về một vài ý niệm của đạo Phật Đại thừa như Vô minh, Vô thức, Vô ngã… hiểu theo chữ Hán, lại mang nhiều tính cách tranh cãi cá nhân, trở thành lạc đề, không giúp ích gì cho những độc giả muốn hiểu biết đạo Phật một cách sâu rộng và chín chắn.
Tôi xin nhắc lại là đạo Phật Đại thừa vào Trung Quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên nhưng lần lần bị Hán hoá khi phải pha trộn với đạo Lão, đạo Khổng. Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Ra đời một ngàn năm sau đạo Phật Nguyên thủy (khi Phật còn tại thế), Thiền Trung Quốc chỉ còn giữ lại một vài ý niệm triết học của Phật giáo hiểu theo nghĩa Trung Quốc. Mang sắc thái Trung Quốc, Thiền đạo đã chói sáng trong 2 thế kỷ thứ VII, thứ VIII và trở thành gần như là đại diện duy nhất của Phật giáo Trung Quốc.
Để chứng dẫn, tôi xin kể lại là nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus: “Thiền tông có người cha Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.
Thiền đạo vào Việt Nam dưới đô hộ Tàu rất sớm (594?) và giữ nguyên tính cách Thiền Tàu, khác với Cao Ly và Nhật Bản: Khi tới Cao Ly thế kỷ thứ IX, tự sáp nhập vào Phật giáo Cao Ly có từ thế kỷ thứ IV. Thế kỷ thứ XII-XIII, thiền sư Nhật Dogen (Đạo Nguyên) phổ biến thiền Tào động dưới hình thức Toạ thiền (Zazen).
Thiền đạo với đặc thái Trung Quốc mất dần tính cách đạo giáo theo đúng nghĩa của nó và trở thành một nền triết lí, một nhân sinh quan, một lối tu không tùy thuộc nơi chốn (tu tại gia). Đạo Phật chính thống nay gọi là Nguyên thủy, là đạo Phật ở những nước mà 90% người dân là Phật tử như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào. Nguồn gốc của đạo Phật là Ấn giáo Vệ đà. Vì vậy muốn hiểu thấu đáo những ý niệm của đạo Phật bắt buộc phải hiểu theo nghĩa trong kinh Vệ đà của Ấn giáo.
Tôi xin chia bài trình bày dưới đây làm 3 phần:
1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.
2. Lí do Phật tách khỏi Bà La môn giáo.
3. Ý niệm Chúa Sáng tạo của đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của Ấn giáo Vệ đà.
1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo
Ấn Độ, dịch từ chữ Ba Tư Hindu, chỉ sông Indus mà tiếng Phạn gọi là Sindhu, đất 7 nhánh sông (Sapta Sindhu), của người Aryens (phiên âm chữ Hán là Nhã lộ an) mà Đức Quốc Xã cũng như người Ba Tư (Iran), đều coi là thủy tổ. Đây cũng là một điểm rất quan trọng giải thích một phần nào nguồn gốc chủng tộc, tiếng nói, văn hoá, đạo giáo của người Âu Châu.
Ấn giáo là đạo cổ xưa nhất của Ấn Độ. Gọi theo tiếng Phạn là Sanatana dharma (Pháp trường tồn) hay “Trật tự vũ trụ trường tồn”. Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống, một lối suy nghĩ dựa trên Vệ đà Thiên thư (Rig Veda). Nền tảng của Ấn giáo là kinh Vệ đà nên cũng được gọi là Vệ đà giáo. “Trật tự vũ trụ” trong Vệ đà giáo có lẽ đã gợi cho Einstein ý tưởng về đạo Vũ trụ (Religion Cosmique với nghĩa Kosmos là Trật tự trong tiếng Hi Lạp).
Ấn Độ giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa.
Đây là định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966:
1) Chấp nhận những ý niệm Vệ Đà là thẩm quyền cao hơn hết trong mọi lãnh vực đạo giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ.
2) Phải có óc khoan dung và thiện tâm thiện ý vì Sự thật có nhiều hình thức biểu lộ.
3) Chấp nhận 6 hệ thống (Lục hệ) trong triết học Ấn Độ và nhịp điệu thế giới diễn tiến theo nhiều chu kỳ gọi là du già (yuga). Mỗi chu kỳ qua từng thời, sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt, tiếp nối nhau không bao giờ ngừng (luân hồi).
4) Chấp nhận sự tin tưởng là có tái sinh và có đời sống trước.
5) Công nhận là có rất nhiều phương cách đi đến giải thoát (Moksha).
Căn bản của Ấn giáo là kinh Vệ đà được truyền khẩu từ 5000 năm cho tới 1500 năm trCN. Theo truyền thuyết, Brahman (Phạm Thiên, Chân Như) đã thần khải Kinh Vệ đà cho các vị hiền giả (Rishi). Trời trong Vệ đà Thiên thư là Brahman, Đấng Tuyệt đối tạo ra vạn vật.
Hai ý niệm nòng cốt của Ấn giáo cổ xưa (thời kỳ Vệ đà giáo) là:
1. Đại ngã (ParamAtman) Brahman: là Một, là Hiện thực duy nhất, là Linh hồn tuyệt đối của vũ trụ, là Tuyệt đối, Siêu nghiệm, Bất biến, Vô hình thể, Trường tồn, Vĩnh hằng, Quán thông mọi chuyện, có mặt mọi nơi chốn, là nguyên lí của vũ trụ không có khởi đầu không có tận cùng. Là Sự Thật tuyệt đối, thế giới chỉ là hư huyền.
2. Tiểu ngã (atman), một phần đồng nhất của Bản thể Brahman. Không có linh hồn cá biệt phải được hiểu là sau vòng luân hồi tiểu ngã sẽ trở về đồng nhất với Bản Ngã Brahman.
2. Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn
– Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như
Để trả lời các giáo sĩ Bà La môn muốn chỉ trích Phật là không biết Trời, Phật dạy “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”
Sở dĩ Phật ít nhắc tới Brahman là vì Phật muốn mọi người hiểu Brahman theo nghĩa Vệ đà kinh để xa lánh các giáo sĩ Bà La môn đã phân Brahman ra làm 33 vị thần mà 3 vị thần chính là Brahma, Visnou và Shiva, để lôi kéo tín đồ đem lợi lộc và đặc quyền thờ phụng cho đẳng cấp Bà la môn. Tôi cũng xin nhắc lại là Bà la môn giáo chỉ ra đời trước Phật chừng khoảng 100 năm (thế kỷ thứ VI-V trCN).
Phải hiểu là khi Phật dạy “sinh ra từ Niết bàn” chứ không phải “ở” Niết bàn là Phật có ý nói Niết Bàn không phải là nơi chốn mà Niết Bàn cũng là Chân Như: Niết bàn không thể là nơi chốn được vì Chân Như, Đấng Vĩnh hằng ở ngoài không gian và thời gian, hiện diện khắp mọi nơi.
Hiểu theo đạo Phật Nguyên thủy Chân Như, Niết Bàn, Phật tính, chỉ là Một.
– Đạo Phật Nguyên thủy không phủ nhận ý niệm tiểu ngã của kinh Vệ đà:
Đạo Phật cấm sát sinh vì mọi sinh vật đều là anh em cả, đều mang trong mình tiểu ngã (soi, self, selbst) một phần của Đại Ngã (le Soi). Ý niệm “tiểu ngã” cũng là ý niệm về phần Phật tính bất biến trong mỗi sinh linh, sợi dây kết tụ nghiệp quả của mỗi sinh linh qua vòng luân hồi để trở về với Bản thể Phật tính hay Đại Ngã Chân Như (Atman, Brahman). Theo trường phái triết học Vệ đà Vedanta, tiểu ngã là nguyên lí tự tại, siêu nghiệm (principe immanent et transcendant) độc nhất của mỗi sinh linh đi từ kiếp này qua kiếp khác. Theo định nghĩa này, tiểu ngã có thể được hiểu là sinh linh mỗi con người trong vòng luân hồi trước khi nhập vào Đại Ngã hay Vô ngã (cái Ngã chân thật, không riêng biệt). Tiểu ngã khác với “cái tôi” (le moi) mà nhiều triết gia Tây phương cũng coi là không có thực chất, phiến diện, hay thay đổi (vô thường) vì phụ thuộc vào những trạng thái tâm lí, cảm xúc, hoàn cảnh và sự vật.
Bản thể Phật tính cũng là Bản thể Brahman nên có sự nhất tính giữa Phật và chúng sinh như băng đá với nước trong thuyết “Vạn vật đồng nhất thể” của Ấn giáo.
Tôi cũng xin nhắc lại là Hội Nghị Phật giáo thế giới năm 1956 công nhận đạo Phật Tiểu thừa là thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy và như vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.
3. Có thể suy luận là những ý niệm về Trời Sáng tạo của các đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của kinh Vệ đà
Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) ít nhất là 1000 năm, nên có thể coi Ấn Độ giáo là đạo xưa nhất.
Ý niệm Trời Brahman cũng là ý niệm Trời (Éternel) trong Thánh kinh (Bible) của Do Thái giáo. Đứng về phương diện lịch sử, Ki tô giáo và Hồi giáo cùng tin ở Thánh kinh, nên có thể coi 2 đạo này chỉ là tông phái của một đạo Thiên Chúa duy nhất là Do Thái giáo. Brahman, Jehovah, Phạm Thiên, Chân Như, Chúa, Allah… chỉ là cách gọi Trời khác nhau.
Theo cuốn Giáo lí (Catéchisme) được soạn thảo sau Hội nghị các giám mục toàn thế giới kỳ 2, Công giáo định nghĩa về Trời như sau: “Trời là Nguyên nhân đầu tiên Tự tạo, Tự tại, Tự tồn tạo ra không gian thời gian nên lúc nào, chỗ nào cũng có Trời (Dieu est universel).” Như vậy Trời cũng là Thiên Đàng và trở về Thiên Đàng là trở về Tình yêu của Chúa, trở về Lòng Chúa như những người Ki Tô giáo mong ước, và cũng là mong ước của những người Phật tử muốn được giải thoát khỏi vòng luân hồi để trở về Niết Bàn hay Bản thể Phật tính Từ bi hỉ xả vậy. Brahman vô hình vô thể nhưng cũng có thể biểu hiện dưới hình thức một Trời có ngã vị (un dieu personnel) gọi là Ishvara và sau này trong Bà La môn giáo, dưới biểu hiện Brahma, Visnou, Shiva mà theo Dumézil (1898-1986), đó cũng là biểu hiện Tam thể Trimourti, trong Ấn Độ giáo, “Ba thân” trong đạo Phật, “Ba Ngôi” (Trinity) trong Ki Tô giáo.
Trong cuốn Sáng tạo và giao lưu, do nhà xuất bản Giáo dục in tháng 12- 2007, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư, tác giả nhiều bài tham luận về văn học và về nhà khoa học nhân văn Nga Bakhtin đăng trên talawas bộ cũ, người mới được giải thưởng Phan Châu Trinh về dịch thuật, có nói nhiều về luận thuyết Thần – Nhân loại (Divino-Humanité, Théandricité) của nhà hiền triết Nga Vladimir Solowiev (1853-1900). Nhà thần học Kitô giáo và hiền triết lớn nhất nước Nga này bị quên lãng dưới thời cộng sản Liên Xô, nay là niềm tự hào của nước Nga trên trường quốc tế. Những trước tác của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt của Phạm Vĩnh Cư. Tôi xin nói qua về quan niệm Thiên Chúa của Solowiev qua cuốn sách của Phạm Vĩnh Cư:
Theo thuyết Thần-Nhân loại của Solowiev, Chúa Trời sáng tạo tất cả để cuối cùng vì Tình yêu, hoá thần tất cả khiến thế giới trở thành một tha thể (thể khác) của Thiên Chúa mà không có nó thì Chúa không tồn tại vì Chúa sống trong nó và vì nó. Không còn sự khác biệt ngay cả về bản chất giữa Đấng Sáng tạo với tạo vật đồng nhất thể với Chúa (vsejedinstvo, tiếng Nga), khiến Tạo hoá và tạo vật không còn là hai bản thể riêng biệt như theo thuyết nhị nguyên luận của Descartes: bản thể quảng tính (Res extensia) vật chất và bản thể tư duy (Res cogitans) tinh thần. Quan niệm của Solowiev về Chúa, Đấng Sáng tạo vì tình yêu này tương đồng với quan niệm Đấng Tuyệt đối Brahman “Vạn vật đồng nhất thể” trong Ấn Độ giáo, nên Solowiev hồi ấy bị những người Ki tô giáo đạo Chính Thống (orthodoxes) trách cứ là sa vào thuyết Phiếm thần (Panthéisme) và cùng một tư tưởng với Spinoza (1632 – 1677), người đã đồng nhất Thượng đế với thiên nhiên. Những người này đã tỏ ra không hiểu “Thần – Nhân” là giáo thuyết đẹp nhất trong Ki Tô giáo: Giêsu Kitô con của Chúa Trời đã nhập thể thành người để chuộc tội cho loài người. Đó cũng là ý tưởng Bồ Tát trong đạo Phật.
Trong cuốn sách tiếng Anh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Living Buddha, living Christ dịch tiếng Việt là Bụt trong ta, Chúa trong ta do nhà xuất bản Riverhead Booking in năm 1995, thày Thích Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm với Solowiev là Trời, Phật ở trong ta: “Chúa Ki Tô vừa là con Trời vừa là con Người (Le fils de l’homme) và Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bất nhị nên con người cũng là một với Thượng đế… Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như và sẽ quy về với Chân Như.”
Khi Solowiev phân tích phạm trù “Cái Tuyệt đối” (Thiên Chúa), ông xác định ý niệm “hư không” trong đạo Phật: “Cái Tuyệt đối vừa là cái thoát li mọi thứ, lại vừa là cái mang mọi thứ trong mình. Nó vừa là cái tịnh không, vừa là hữu thể viên mãn nhất, hoàn bị nhất, toàn vẹn nhất… Nó là thể thống nhất của mình với cái phủ định mình“.
Ý niệm “Vô Ngã” trong đạo Phật cũng được Solowiev hiểu theo nghĩa Siêu Ngã để nói về bản tính Chúa Trời: “Ngài là Sinh linh Siêu Ngã vừa là mình lại vừa là tất cả… Là Một – và – Tất cả”. Ý niệm Siêu Ngã này làm cho ta hiểu ý niệm Tam vị Nhất thể (Trinité) trong Ki Tô giáo.
Vòng sinh tử trong đạo Phật là nghĩa sự phục sinh của Chúa Ki Tô cứu rỗi loài người thông qua cái chết: Chúa phục sinh là cái hứa hẹn và bảo đảm sự tái sinh của nhân loại trong sự sống hoàn toàn bất tử.
Kết luận
Sự tin tưởng vào một Sinh linh tối cao đều có trong mỗi con người và nằm ở tầng sâu nhất của tâm thức. Đấng sinh linh Tối cao biểu hiện trong các đạo giáo dưới những hình thức khác nhau hay được hiểu khác nhau nhưng tựu chung vẫn chỉ là Một. Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.
Theo kinh sách Vệ đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật. Những người Ki tô giáo đích thực cũng cùng một quan điểm: Giáo hoàng Jean Paul II đã luôn mở cửa nhà thờ mời Đức Đạt lai Lạt ma làm lễ. Có 84 ngàn pháp môn nên những người không theo đạo nào cả cũng có thể mở một cánh cửa đi tới Trời.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
94 Comments (bài “Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa”)
« Trang trước 1 … 4 5 6 7 Trang sau »
@ Hoà Nguyễn
Cám ơn ông HN đã có một câu trả lời cho câu hỏi cũ mèm của tôi. Tôi rất thích câu trả lời này của ông vì thấy rất có lý.
Ông Kim Sinh viết: Đức Phật (ở trong thân xác con người) vẫn có bệnh và bảo thầy A-Nan đi xin sữa cho Ngài dùng (kinh Duy Ma Cật).
Ông Tri Ngộ (?) từng đặt câu hỏi tại sao Phật còn bị người lăn đá làm tổn thương ngón chân.
Kinh Phật vẫn có câu trả lòi cho những thắc mắc đại loại như trên, nhưng vấn đề vượt ngoài sức hiểu của tôi. Thường tôi không muốn lạm bàn (mà chi muốn hỏi và nghe) ba vấn đề lớn trong Phật giáo là Nhân Quả, Nghiệp và luân hồi (chưa nói tời Niết bàn cón xa với), và nghĩ có lẽ nhờ chiêm nghiệm hay Thiền Quán lâu dài, cuối cùng mỗi người sẽ thầu hiểu nghĩa lý sâu xa của giáo lý. Phần dưói đây dựa theo ý kinh.
Thích Ca nói rất ít về Niết bàn. Các luận sư (là bậc thầy giải thích kinh) Phật giáo sau này chia Niết bàn ra làm hai loại hay hai giai đoạn : Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn. Khi một hành giả dứt tuyệt hết phiền não, đạt đến Trí Tuệ của Phật thì sẽ được giải thoát khỏi vòng luân hồi, thể nhập Niết bàn là bản thể của Pháp giới, là tự tánh của Tâm. Nhưng vì còn trụ trong thân xác nên đây mới là Niết bàn hữu dư, nghĩa là còn bị tác động bởi Nghiệp lực riêng rơi rớt lại từ nhiều đời, và cũng chịu cái nghiệp chung của chúng sinh đang cùng sống (cộng nghiệp). Vì hành giả đó vẫn bị chi phối bởi nghiệp lực chưa hết, nên lãnh chịu những khổ quả do thân tâm gây tạo ra nhân bất thiện trong quá khứ. Thử nói lại cách khác, theo đạo Phật, nghiệp tạo bởi vô minh và phiền não, vậy khi dứt trừ được phiền não, vô minh là không có nghiệp mới, nhưng vì nghiệp cũ vẫn chưa hết sạch, nên vẫn phải “trả” nghiệp, quả. Chỉ đến khi chết, thân ngũ uẩn tan rã, ngưòi đắc đạo mới đi vào Niết bàn Vô dư tịch tĩnh, là sự diệt tận những điều kiện của hữu và phiền não, không còn bóng dáng, dấu vết của nghiệp cũ và mới, nên không còn chịu nghiệp báo, khổ quả, và đó là giải thoát “viên mãn”.
Nhưng có một cách giải thich khác là sau khi thành đạo, Phật đã vào cõi Vô dư Niết bàn, nhưng ngài trở lại với nhân thân có từ trước, vẫn chịu tác động của các quy luật chi phối cuộc sống con người, và sự hiện hữu của ngài trong 49 năm đi khắp nơi giàng pháp là Tuỳ loại Hóa thân ( hiện thân tùy ý, tuỳ theo các chủng loại chúng sinh để hóa độ )
Câu hỏi cuối cùng: vậy Niết bàn tìm thấy ở đâu. Có câu trả lời Niết bàn là trạng thái an lạc, thanh tịnh, quang minh, không biến đổi của Chân Tâm, Chân như cũng là Chân ngã (kinh nói tới Thường, Lạc, Ngã , Tịnh) ; còn về nơi chốn thì Phật nói ngài vào “vô trụ xứ Niết bàn”, nghĩa là không có trụ xứ cố định, và ngài có thể tái hiện thân (hóa thân) ở bất cứ đâu để cứu độ mọi loài chúng sinh.
“Tôi xin đưa vấn đề này ra đây coi như “tồn nghi” để mong quý vị thức giả nào biết chắc vấn đề này khai thị cho.
Nhưng có một điều cần ghi nhớ: Tôi xin đưa vấn đề này ra đây coi như “tồn nghi” để mong quý vị thức giả nào biết chắc vấn đề này khai thị cho.
Nhưng có một điều cần ghi nhớ: tu hành theo đạo Phật không phải cố công luyện để trở thành .. hòn đá, khúc gỗ không có cảm giác, trong khi vẫn còn mang thân xác của con người.”(Trung Nu Hoang)
@bác Trung Nu Hoang,
Tôi đồng ý với bác là “tu hành theo đạo Phật không phải cố công luyện để trở thành… hòn đá, khúc gỗ không có cảm giác, trong khi vẫn còn mang thân xác của con người”. Cái ý “người đã đắc đạo”(hay đã “ngộ đạo”)” của tôi trong phản hồi trước là không phải người đó đã “trở thành kẻ không có cảm giác”, mà ngược lại, tôi xin dùng cụm từ “đã cảm thụ được tất cả mọi sự ở trên đời và đã trở về Nhà Trời” để chỉ cái sự “đắc đạo” này. Trên thực tế, chúng ta đều biết là không phải ai cũng muốn “đi tu” cả, không phải ai cũng có nhu cầu mình phải “đắc đạo” cả, mà phần đông con người chúng ta muốn sống một cuộc sống đơn giản, bình thường, tự do, bác ái, hạnh phúc có thể có. Con người chúng ta, thường là một “vật thể” thụ động, không thể định trước và hướng “mọi sự” theo ý mình được. Từ nguyên sơ, loài người sống như cành cây cái cỏ con chim muông trong cái “rừng” thiên nhiên rộng lớn là Thế Gian này. Và trong quá trình phát triển của xã hội loài người, xuất hiện tôn giáo như một “Gợi Ý” gì đấy của “Đấng Toàn Năng” cho con người trên con đường tìm đến “Chân lý”. Khoa học và tôn giáo, theo như tôi biết, vẫn chưa đưa ra được câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi “Con người hình thành từ đâu?”. Và những nhân vật như Đức Phật Thích Ca hay Chúa Giê-su,… họ cũng là “người trần mắt thịt” như chúng ta trước khi “đắc đạo”, nhưng được coi là những “Thiên Sứ”(tôi xin mượn tên tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Phạm Thị Hoài!:)) đến từ “Nhà Trời” đem “lẽ sống” hay “đạo lý làm người” xuống cho chúng ta?! Vấn đề ở đây là làm sao “dung hòa” được cái chức năng “thiên sứ” với cái bản chất “loài người” của con người chúng ta. Tôi đã nghĩ, trong mỗi chúng ta, dường như có một chút chức năng “Thiên Sứ” gì đấy, vì loài người đã, đang và còn cố vươn đến những điều “Thiện”, đến những “Gợi Ý” của “Đấng Toàn Năng”. Trong một phản hồi trước đây của mình, tôi có đề cập đến những “mâu thuẫn nội tại” của tôn giáo. Và tôi xin nêu tiếp một “mâu thẫn nội tại” nữa ra đây: Nếu như “thân cát bụi lại trở về cát bụi” là đúng, thì tất cả “mọi sự” trên cõi đời này đều trở thành “vô nghĩa”(cát bụi) sao?. Lịch sử của loài người cho chúng ta thấy là không phải vậy: Đã hình thành một nền văn minh và luôn được tôn tạo phát triển. Những “thân cát bụi” tinh hoa của nhân loại không bị “trở về với cát bụi”, mà dường như vẫn “tồn tại” mãi mãi với chúng ta.
Tóm lại, cái “đắc đạo” tôi muốn nói ở đây, chính là “sự trở về ngôi nhà của Đấng Toàn Năng” của loài người chúng ta.
@ Kim Sinh (KS)14/05/2010 lúc 10:23 sáng:
..”Bác Trung Nu Hoang có cố biện giải các tầng nghĩa của khái niệm hiểu, ngộ, nhận thức như thế nào chăng nữa thì đó vẫn luôn thuộc về phạm trù nhận thức. Bác dùng ví dụ là sợi dây thừng và con rắn để minh họa cho việc nhận thức đúng bản chất thế giới, thế nhưng ví dụ thường là để nói chứ với thực tế nó có một khoảng cách nhất định..” (quote)
Tôi đồng tình với bác KS về điểm “nhận thức” và …: “ví dụ thường là để nói chứ với thực tế nó có một khoảng cách nhất định” , nhưng ở 2 điểm HIỂU và NGỘ thì tôi xin chưa đồng ý. HIỂU thì cũng tùy mức độ cạn (hời hợt, qua loa) hay ở tầng sâu khá (thâm nhập) có thể vẫn còn dính líu ít nhiều với phạm trù “Nhận Thức” . Khi thâm nhập ở tầng sâu hơn nữa, như đang sống với cái hiểu của mình thì có thể xem như “ngộ pháp”.
Còn NGỘ Tâm thì chắc chắn đã vượt khỏi phạm trù của Nhận Thức, nhảy khỏi “đầu sào 100 trượng” như người đã tỉnh mộng. NGỘ có nhiều cấp, cũng như người tỉnh mộng có nhiều mức độ, còn nửa tỉnh nửa mê, nằm ráng trên giường và có thể mơ tiếp, hay tỉnh hẵn bước ra khỏi giường để sinh hoạt bình thường. Bởi thế mà có Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán và hàng Bồ tát cũng có Sơ địa đến Bất thối rồi đến Thập địa, Đẳng giác và cuối cùng mới thành Phật, Như Lai.
..” Thế giới này là không thực có, ta là không thực có… nhận thức được đầy đủ sự thật đó thì hết khổ ư ? Nếu vậy thì các nhà vật lý là những người giác ngộ trước hết khi họ là những người nhận thấy trước hết không một pháp nào, không một vật nào tự hữu. (các pháp, tức vật chất và tinh thần, đều do các pháp khác mà thành=> Vô Ngã) – quote –
Theo tôi, “nhận thức” sâu sắc sự việc đó là bước đầu để cởi bỏ “phiền não, đau khổ”. Khi hiểu được, thâm nhập được, nhất là sống với cái hiểu đó (tức là 4 bước: “khai, thị, ngộ, nhập” mà bác Hòa Nguyễn đã có nói đến) thì mới chấm dứt hết khổ đau. Học sinh tiểu học mới biết đọc, biết viết thì chưa thể là nhà văn được.
Các nhà vật lý, có thể “họ nhận thấy cái không một pháp nào, vật nào tự hữu” (quote). Tôi nghĩ rằng cái “Không” của đạo lý Phật không phải là cái “không” của vật lý, mặc dù tôi chỉ biết qua loa về cái không của vật lý có thể đạt tới qua phân tích, chia chẻ nhiều bậc, từ nguyên tử, điện tử, hạ nguyên tử như hạt quartz rồi đến hàng chục cấp dưới …của quatz (chưa biết đến cấp nào mới hết !). Tuy vậy, phân tích đến thế nào vẫn chỉ có thể đạt được cái “không tương đối” mà thôi, như trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật nói đến cái “lân hư đầu trần” thì không còn chia chẻ được nữa. Tôi cũng chưa biết về cái không cao thâm, diệu vợi của đạo lý Phật, mà Bát-nhã Tâm kinh thường nghe có câu: “sắc bất dị không, không bất dị sắc..” tuy nhiên có thể “cảm” được cái không này là “đương xứ tức không”, chính lúc đang thấy nó là có (theo mắt nhìn,…) thì nó vẫn là không. Đó là cái không tuyệt đối, không phải là đối đãi của cái có, không phải là cái trống rỗng, hư không mà là cái Không diệu hữu. Với cái “không diệu hữu này, mỗi loài nhìn vào sẽ thấy hiện ra khác nhau tùy theo nghiệp của mỗi loài. Với nưóc, con người thấy mát lạnh, ngộp thở nhưng loài cá thấy thoải mái, tung tăng. Bóng đêm của loài người lại là ánh sáng của loài chim cú.
Xin tạm trao đổi cùng bác KS, xin xem là những “nhận thức” (đúng như thế!) của một hành giả, trong quá trình tìm hiểu đạo lý Phật, vốn quá cao thâm và mênh mông như cánh rừng, nhưng là cánh rừng đầy kỳ hoa dị thảo !
Trung Nu Hoang: tôi không dám chắc người đắc đạo hay đã ngộ đạo (đạo Phật) có còn sợ (rắn) không?
KS: Sợ rắn hay không không quan trọng ở chỗ con rắn mà quan trọng ở chỗ nỗi sợ. Nhiều người từ nhỏ tới lớn chưa hề thấy rắn, nhưng cứ thấy sợi dây loằng nghoằn là vội co chân, thót tim, trợn mắt hét lên. Cũng như vậy, tại sao con người ta sợ chuột, sợ gián sợ đĩa trong khi những con vật này không đáng sợ đến vậy, nó không có độc, không làm mình chết như rắn.
Tại sao vậy, tại sao nỗi sợ ấy giống nhau bất kể chủng tộc văn minh văn hóa ?
Và tại sao ta lại bị thu hút bởi người khác giới ????
Tất cả những điều đó là “chương trình” nạp sẵn trong mỗi người con người, kèm theo đó những bản năng về tính dục, bản năng về sự sợ hãi, bãn năng về giận dữ, bản năng sinh tồn.
Điều quan trọng là (theo Freud: http://www.giacngo.vn/triethoc/2008/08/06/525258/ Trước đây có trên talawas nhưng tìm mãi không ra) những bản năng ấy vẫn điều khiển mọi suy nghĩ hành vi của ta mà không tự biết.
Chính vì vậy ta sợ hãi lo lắng mà không rõ lý do, ta giận dữ thình lình mà không thể kìm chế, …
Hết tất cả những chi phối chẳng khác chi con heo, con chó ấy ở trong ta, THÌ GỌI LÀ GIÁC NGỘ.
Có lẽ chưa ai nói vẫn đề rõ ràng như vậy 🙂
HTT
Riêng tôi, thấy còn…mù mờ về điều này lắm. Đọc chuyện các thiền sư thời xưa, có vị (hình như Pháp Dung?) đã sống với cọp mà coi như bạn bè. Bát nhã Tâm kinh thì cho rằng: “Bồ tát y vào bát-nhã-trí thì… “tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố ..” tức là không còn sợ hãi, đau khổ. Krishnamurti cũng từng thuyết giảng về việc chiến thắng nỗi sợ trong con người, coi như một trong những mục tiêu của người tu (có lẽ Ấn giáo ?).
Ở chỗ khác, có vị thiền sư đạt đạo cho rằng: ” bình thường tâm, thị đạo” cũng đồng nghĩa với vị khác cho rằng: “nóng thì cởi áo, lạnh thì đắp chăn”! Chư vị này vẫn biết nóng, lạnh, khi thời tiết thay đổi hoặc vẫn biết đói bụng, khi bỏ ăn mấy ngày đấy chứ? Đức Phật (ở trong thân xác con người) vẫn có bệnh và bảo thầy A-Nan đi xin sữa cho Ngài dùng (kinh Duy Ma Cật).
Tôi xin đưa vấn đề này ra đây coi như “tồn nghi” để mong quý vị thức giả nào biết chắc vấn đề này khai thị cho.
Nhưng có một điều cần ghi nhớ: tu hành theo đạo Phật không phải cố công luyện để trở thành .. hòn đá, khúc gỗ không có cảm giác, trong khi vẫn còn mang thân xác của con người.
@ Nguyễn Mai Linh
Theo link ông Nguyễn Mai Linh cho, và từ đó tôi đọc thêm một trang Web khác, chỉ thầy hai chi tiết liên quan đến chuyện đang bàn:
1/Lucien Emile Conein … was noted U.S. Army officer and OSS/CIA operative. Among other exploits, he was instrumental in the October 1963 coup against Ngo Dinh Diem, having served as the CIA’s liaison officer with the coup plotters, and delivering $42,000 of the known cash disbursements.
2/…The CIA also provided $42,000 in immediate support money to the plotters the morning of the coup, carried by Lucien Conein, an act prefigured in administration planning..
Không có gì mới, ngoài cách tính 42.000 USD tương đương với 3 trệu đồng VN (lúc đó 1 Mỹ kim bằng chừng 75 đồng VN).
Tôi nhắc lại, khi viết trên Thông Luận nhân kỷ niệm ngày giỗ hai anh em ông Diệm năm vừa qua, Lữ Giang cho biết ông Ngô Đình Diệm đã gứi một linh mục dòng Chúa Cứu thế ở Sài Gòn số tiền 6 triệu USD. Chung quanh vụ ông Ngô Đình Cẩn bị kết án tử hính và sau đó bị xử bắn, có lời đồn sau được đăng trên sách báo đó là vì ông Cẩn nhất định không chịu ký giấy ủy quyền cho tướng Nguyễn Khánh số tiền ông Cẩn gửi ở ngân hàng Thụy sĩ lên đến vài triệu USD. Cà hai chuyện trên còn cần kiểm chứng , nhưng ông Cẩn chỉ đứng hàng thứ ba (hay thứ tư) trong nấc thang quyền lực thực tế lúc đó mà còn bị xử bằn, thì số phận hai ông anh Diệm và Nhu đối với những người cầm đầu đảo chính không thể khác ông Cẩn ( vẫn có thể nhiều người không muốn giết ông Diệm), dù Mỹ có ủng hộ $42.000 cho cuộc đảo chính hay không.
Khi đảo chính xảy ra ông Trần Thiện Khiêm chỉ huy quân đoàn 3 , với quân số chừng 3 sư đoàn đóng ở các tỉnh bao quanh Sài Gòn, Tôn Thất Đính là Tổng Trấn Saigon-Gia Định chỉ huy lực lượng quân đội (và cảnh sát) bảo vệ thủ đô miền Nam, ông Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy sư đoàn 5 trực tiếp tấn công lực lượng phòng vệ dinh Độc lập, và vì vậy họ được nhận số tiền lớn. Các đơn vị tham gia đảo chính khác nhỏ hơn nên nhận tiền ít hơn, như thủy quân lục chiến (100 ngàn), thiết giáp (100 ngàn), Bộ TTM (100 ngàn), Thị trưỡng Đà Lạt (100 ngàn) , chưa kể biệt động quân, trung tâm huấn luyện Quang Trung, một nhóm không quân
Ông NMai Linh có thể cho biết chi tiết nào trong hồi ký của ông Trần Văn Đôn là dối trá không, nhất là khi xét trong các sự việc tôi đã dẫn chứng theo sách này.
@ Trương Đức (TĐ) 15/5/10:
TĐ: .. “” nếu “hiểu đúng”, thì đến cả trường hợp sợi dây thừng là rắn thật đi chăng nữa, người “đắc đạo” (hay đã “ngộ đạo”) cũng không hề sợ con rắn ấy. Đấy là ý tôi muốn nói: “nôm na” cái “hiểu đúng” của Nhà Phật là như vậy, khi đã “hiểu đúng” tất cả mọi sự vật, thì không còn gì “đáng sợ” cả!…” (quote).
Bác TĐ nói như thế thì tôi cũng không nghe vậy thôi, chứ tôi không dám chắc người đắc đạo hay đã ngộ đạo (đạo Phật) có còn sợ (rắn) không? Riêng tôi, thấy còn…mù mờ về điều này lắm. Đọc chuyện các thiền sư thời xưa, có vị (hình như Pháp Dung?) đã sống với cọp mà coi như bạn bè. Bát nhã Tâm kinh thì cho rằng: “Bồ tát y vào bát-nhã-trí thì… “tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố ..” tức là không còn sợ hãi, đau khổ. Krishnamurti cũng từng thuyết giảng về việc chiến thắng nỗi sợ trong con người, coi như một trong những mục tiêu của người tu (có lẽ Ấn giáo ?).
Ở chỗ khác, có vị thiền sư đạt đạo cho rằng: ” bình thường tâm, thị đạo” cũng đồng nghĩa với vị khác cho rằng: “nóng thì cởi áo, lạnh thì đắp chăn”! Chư vị này vẫn biết nóng, lạnh, khi thời tiết thay đổi hoặc vẫn biết đói bụng, khi bỏ ăn mấy ngày đấy chứ? Đức Phật (ở trong thân xác con người) vẫn có bệnh và bảo thầy A-Nan đi xin sữa cho Ngài dùng (kinh Duy Ma Cật).
Tôi xin đưa vấn đề này ra đây coi như “tồn nghi” để mong quý vị thức giả nào biết chắc vấn đề này khai thị cho.
Nhưng có một điều cần ghi nhớ: tu hành theo đạo Phật không phải cố công luyện để trở thành .. hòn đá, khúc gỗ không có cảm giác, trong khi vẫn còn mang thân xác của con người.
Nguyen Mai Linh viết: “Sự kiện các tướng lãnh nhận ba triệu đồng Việt Nam (tương đương với $42,000 đô la) để bán đứng và giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho ngoại bang Mỹ: Để chứng minh cho sự kiện này, tôi dựa vào nhiều nguồn tin, Mỹ có Việt có, rồi tổng hợp lại. Quý vị nào muốn thử thì cứ vào google đánh Lucien Conein, rồi tìm thì sẽ gặp nhiều bài vở về nhân vật này.”
1/ Chúng ta nên đối chiếu những gì Nguyen Mai Linh viết ở trên với đoạn văn sau đây của Nguyễn Kỳ Phong:
“Theo ước lượng, SMM [Saigon Military Mission, nhóm tình báo của tướng Edward Lansdale] bỏ ra 12 triệu dollars mua chuộc đối lập, trong đó có 3 triệu 6 cho tướng Nguyễn Thành Phương và 3 triệu cho Trần Văn Soái…Năm 1979, Lansdale gửi thư cho Viện Quân Sử Hoa Kỳ chối về chuyện mua chuộc quân đội đối lập. Tuy nhiên nhiều sử liệu sau này cho thấy Lansdale không nói thật hết những gì đã xảy ra.”
Nếu trong giai đoạn 1954-1955, ngoại bang Mỹ đã phải bỏ ra 12 triệu dollars (hay 8 triệu theo David Chandler) để mua sự trung thành của những người như Nguyễn Thành Phương và Trần Văn Soái cho Ngô Đình Diệm, thì chúng ta có thể tin được lời của Nguyen Mai Linh hay không khi độc giả này nói rằng (chỉ) vì Dương Văn Minh et al nhận ba triệu đồng Việt Nam (tương đương với $42,000 đô la) từ tay Lucien Conein, nên họ đã bán đứng và giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm?
2/ Những người có cảm tình với chế độ Ngô Đình Diệm thường nhắc đi nhắc lại cái chết của ông Diệm và ông Nhu. Điều mà họ ít khi nói đến là việc những chính khách đối lập như Tạ Chí Diệp, Nguyễn Bảo Toàn và Vũ Tam Anh bị thủ tiêu trong gian đoạn cuối cùng của chế độ nói trên. Trong một chính trường bị “tội ác hóa” như vậy thì việc chính hai anh em ông Diệm bị cựu thủ hạ của họ sát hại không phải là một chuyện quá bất ngờ.
“Tuy vậy, khi “hiểu đúng” thì sợi dây thừng không còn là con rắn đáng sợ nữa – khi hiểu sai (thiếu ánh sáng của Trí) thì sợi dây thành con rắn. Cũng một CÁI BIẾT đó thôi, nhưng hiểu lầm, biết lầm thì gọi là Thức mà hiểu đúng, biết đúng thì gọi là Trí (TÂM, Chân Như, Tự Tánh…). Người ở tù là cô Lê Thị Công Nhân, phụ nữ, có 2 tay 2 chân mà ra khỏi tù cũng là Lê Thị Công Nhân, phụ nữ, với 2 tay 2 chân, chứ có ai khác vào đó? Chỗ khác nhau là bị tù hay được Tự Do thôi.”(Trung Nu Hoang)
@bác Trung Nu Hoang,
Tôi thấy ở các phản hồi trước bác viết rất hay, nhưng đến phản hồi này bác có vẻ đang “sờ voi” lại quá trớn “sờ” sang cả con rắn rồi. Tôi nói như thế là vì: nếu “hiểu đúng”, thì đến cả trường hợp sợi dây thừng là rắn thật đi chăng nữa, người “đắc đạo” (hay đã “ngộ đạo”) cũng không hề sợ con rắn ấy. Đấy là ý tôi muốn nói: “nôm na” cái “hiểu đúng” của Nhà Phật là như vậy, khi đã “hiểu đúng” tất cả mọi sự vật, thì không còn gì “đáng sợ” cả! Ví dụ như cái “hiểu đúng” con rắn của những người Ấn Độ thổi kèn cho rắn “múa”, chắc bác biết cái tài này của người dân Ấn Độ. Và về cái trường hợp của chị Lê Thị Công Nhân thì, theo tôi, không có “chỗ khác nhau” ở đây như bác nói: chính vì chị LTCN đã “hiểu đúng” ĐCSVN là “con rắn độc”, chị “hiểu đúng” cái sự đấu tranh dành tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc mình sẽ gặp rất nhiều cam go tù đầy và có thể hy sinh tính mạng, nhưng chị không hề “sợ rắn”, không lùi bước. Chị vẫn là chị dù có bị tù hay tự do. Chưa kể cái “tự do” của chị LTCN hiện giờ, chúng ta cũng quá “hiểu đúng”, chỉ là “cái nhà tù mở rộng” đối với chị. Tôi nghĩ, bao giờ dân tộc VN ta có được dân chủ tự do thật sự, lúc ấy, chị LTCN mới cảm thấy mình đã “tự do” thật sự. Bởi vì, về một khía cạnh triết học nào đó, chị LTCN đã trở thành “người tù” cho lý tưởng của chị!
Tôi có vài lời muốn chia sẻ với bác TNH như vậy. Có thể tôi cũng chỉ là một kẻ “sờ voi” như bác thôi!:)
DUY THUC LUAN
Tôi xin phép góp ý vài hàng thôi trên vấn đề “nhận thức” do bạn Kim Sinh nêu lên.
Kinh sách Nhà Phật, xuyên qua 260 chữ của bộ Bát Nhã Tâm Kinh, phân tích rõ ràng trí tuệ con người. Những nhận thức hời hợt bên ngoài qua ngũ quan (mắt, mũi, miệng, tay chân, vv…) là những quan sát sơ khởi để con người có khái niệm ban đầu về ngoại cảnh. Dĩ nhiên nó rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, ví dụ mắt không nhìn thấy đèn báo hiệu góc đường đã chuyển qua màu đỏ, cứ thế thản nhiên bước chân qua đường đông đúc thì khi tai nạn xảy ra thì đừng có trách …ơ hay! Tôi đâu có biết! Mũi ngửi thấy mùi trứng thối báo động cho con người biết sắp có nguy cơ về ô nhiễm không khí, nếu cứ bịt mũi mà sống thoải mái, thì có bị ngạt thở hay bị bệnh phổi thì ráng mà chịu. Tai nghe tiếng súng nổ gần đó, không đề cao cảnh giác thì lỡ bị đạn lạc thì chịu khó nằm nhà thương vài tháng. Thế thôi! Những nhận thức thông thường đó đâu có vô ích.
Nhưng nhận thức hời hợt qua các giác quan nếu chỉ dừng ở đó sẽ giam hãm con người trong cái vỏ “cảm xúc và cảm tính nhất thời” rồi từ đó nếu không kiểm soát được ba nguồn năng lực Tham, Sân và Si, thì con người dễ trở thành bồng bột, phản ứng nhanh thiếu suy xét, là nguồn gốc nhiều đụng chạm trong giao tế hàng ngày, chưa nói là nguyên nhân đưa đến xích mích và án mạng không chừng. Nhận thức hời hợt này chỉ giúp quan sát hiện tượng bên ngoài không đi sâu vào bản chất bên trong sự vật nên chưa thể phá tan bức màn Vô Minh được.
Tuy nhiên con người sở hữu một bộ óc biết suy tư do Thượng Đế (???) ban cho, hơn hẳn loài vật, thì những kiến thức do từ suy luận thâm sâu đúc kết thành sáng tạo mới đưa con người đi lên, xã hội thăng tiến, đó chính là cơ sở Giác Ngộ mà Nhà Phật hay đề cập. Chính những giây phút thâm trầm suy tư vào tận chi tiết, phân tích và lý luận khiến cho con người hiểu thấu đáo những bí ẩn trong tạo hoá, nhận chân sự thật, từ đó biết tận dụng trí sáng tạo để giảm thiếu nguy cơ do thiên nhiên tạo ra, tự bảo vệ, giảm khổ đau (bệnh tật). Biết đè nén cảm xúc, biết suy nghĩ đắn đo trước khi hành động theo cảm tính nhất thời, thì con người sẽ hiểu nhau hơn, thông cảm nhau hơn và từ đó giảm thiểu khổ đau. Đây là cơ sở tri thức có bề sâu, mạch lạc, vững chắc giúp con nguời vén dần bức màn Vô Minh đi sâu vào bản chất sự vật.
Đó chính là mục tiêu tối hậu của Đạo Phật chính thống.
Trong các bài phản hồi, tôi nhận thấy điều sau: Những lời giảng của Chúa, Phật đều xảy ra cách đây hơn hai ngàn năm, điều này rất khó xác định, hay đưa dẫn ra chứng cớ xem ra có phải là đúng của Chúa, Phật hay không? Theo tôi, điều này tùy duyên hay tùy niềm tin của mỗi người chúng ta.
Trong bài phản hồi với bác Trung Thứ, tôi có dẫn ra ba sự kiện
1. Sự kiện Giuđa nhận 30 đồng bạc bán Chúa: Để chứng minh cho sự kiện này, tôi dựa vào sự ra đời và nội dung chính của cuốn phúc âm Giuđa. Theo kinh thánh, sau khi bán Chúa vì hối hận, Giuđa đã ném trả lại 30 đồng bạc và đi treo cổ tự tử. Tuy nhiên theo tôi, điều này khó có xảy ra đúng như vậy, khi cuốn sách đã được biên soạn công phu với một tâm tư suy xét, cẩn thận tỉ mỉ. Cho nên nó chỉ có thể ra đời một khoảng thời gian khá lâu sau đó. Vì vậy cuốn phúc âm của Giuđa chỉ là một lấp liếm, biện hộ cho việc làm sai trái của mình, là vì lòng tham kim tiền mà đi bán Chúa cho ngoại bang La Mã.
2. Sự kiện các tướng lãnh nhận ba triệu đồng Việt Nam (tương đương với $42,000 đô la) để bán đứng và giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho ngoại bang Mỹ: Để chứng minh cho sự kiện này, tôi dựa vào nhiều nguồn tin, Mỹ có Việt có, rồi tổng hợp lại. Quý vị nào muốn thử thì cứ vào google đánh Lucien Conein, rồi tìm thì sẽ gặp nhiều bài vở về nhân vật này. Một trong những bài này ở cái link sau: http://en.wikipedia.org/wiki/Lucien_Conein
Nhiều cuốn hồi ký ra đời sau đó, trong đó có cuốn hồi ký của Trần văn Đôn, ngoài những lời lấp liếm, dối trá, chạy tội, đã đưa ra một số bằng chứng giá trị lịch sử, nếu ai để ý kỹ sẽ thấy người nhận tiền là những ai? Và ai được nhận nhiều, ai nhận ít hơn?
3. Sự kiện Chính quyền Việt Nam đối với sự xâm lấn đất, biển đảo của Trung quốc, và sự im lặng đồng loã của chính quyền Việt Nam. Theo tôi, chỉ vì quyền lợi hoặc vì tiền bạc mua chuộc những người lãnh đạo Việt Nam, nhất là giới lãnh đạo trung ương, từ phía Trung quốc, nên mới có thái độ im lặng đáng sợ như hiện nay.
Tôi đưa ra ba sự kiện như trên. Tuy nhiên, chỉ có sự việc thứ hai là có những bằng chứng rõ ràng nhất định. Số tiền đưa ra gần như chính xác từ nhiều nguồn khác nhau, còn sự việc thứ nhất và thứ ba thì hoàn toàn dựa trên suy luận của riêng tôi, và những sự kiện tương tự.
Bác Trung Nu Hoang có cố biện giải các tầng nghĩa của khái niệm hiểu, ngộ, nhận thức như thế nào chăng nữa thì đó vẫn luôn thuộc về phạm trù nhận thức. Bác dùng ví dụ là sợi dây thừng và con rắn để minh họa cho việc nhận thức đúng bản chất thế giới, thế nhưng ví dụ thường là để nói chứ với thực tế nó có một khoảng cách nhất định. Thế giới này là không thực có, ta là không thực có… nhận thức được đầy đủ sự thật đó thì hết khổ ư ? Nếu vậy thì các nhà vật lý là những người giác ngộ trước hết khi họ là những người nhật thấy trước hết không một pháp nào, không một vật nào tự hữu. (các pháp, tức vật chất và tinh thần, đều do các pháp khác mà thành=> Vô Ngã)
Nói thì vậy nhưng cái khổ vẫn nguyên đó. Ngày thì nói thanh tịnh nhưng đêm ngủ lại mơ bị người giết hoặc đi giết người !
Trong kinh sách, đọc thấy câu: ” Chư Phật ngủ không mơ bao giờ !”. Theo tôi đó là cái móng tay của Phật mà ta có thể nhận thấy được để hiểu rằng sự giác ngộ không phải chỉ là sự nhận thức, sự hiểu biết hoặc tri kiến.
Nếu chỉ là sự nhận thức sợi dây thừng chứ không phải con rắn thì nó cần nhiều đến các bài học chứ không phải như Bồ Đề Đạt Ma nói :
Ngoại tức muôn duyên
Nội bặt nghĩ tưởng.
Thân như tường đá.
Khả dĩ nhập đạo.
@ Bạn Nguyen Mai Linh,
Theo tôi 30 đồng bạc tiền công chỉ điểm của Giu-đa không lớn như bạn so sánh. Trong Kinh Thánh có đoạn chép: “Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực nức mùi thơm. Một trong các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa, kẻ nộp Người, liền nói: “SAo không bán dầu thơn đó lấy 300 quan tiền mà cho người nghèo””(Ga, 12,3-5).
Như thế có thể thấy số tiền 30 đồng trị giá chỉ bằng 1/10 ký dầu thơm quý mà thôi.
Nếu chỉ vì 30 đồng bạc thì khi nhận được tiền rồi e rằng Giu-đa đã không tự tử mà sẽ “cao chạy xa bay”.
Có lẽ không chỉ có Giu-đa mà nhiều môn đệ khác của Chúa cũng đã ngộ nhận về kế đồ cứu chuộc của Ngài, nhất là trong những thời điểm Chúa được dân chúng tung hô. Dẫn chứng: “Rồi Người dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại. Người nói rõ điều đó, không úp mở. Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. … . Người trách ông Phê-rô:”Xa-tan! Lui lại đàng sau thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”” ( Mc 8, 31-33).
@ HÒA NGUYỄN: Cám ơn bác HN đã làm rõ thêm ý nghĩa câu nói của Đức Phật: “49 năm ta không nói lời nào”, giúp một vài bác thiếu duyên tìm hiểu đạo lý Phật khỏi mất công chạy tìm mua máy ghi âm làm chứng cho việc là… Phật có nói chứ sao lại không!!
@ KIM SINH: ..”hai từ “nhận thức” và “hiểu” của bác tôi viết in lên để nhấn mạnh. Có nghĩa là theo bác: sự giác ngộ của Phật giáo chỉ là vấn đề nhận thức đúng, hiểu đúng bản chất sự vật ? Theo tôi không phải vậy. Nhà thiền có câu ” Tri kiến lập tri tức vô minh bổn” Lấy cái nhận thức, hiểu biết mà lập nên cái hiểu biết tức là gốc vô minh ! Nếu nó không phải là sự nhận thức thì nó là cái gì ?..”” (quote)
Theo tôi, tất cả các thứ: nhận thức, hiểu biết, đều là ý thức phát sinh từ tai / nghe, mắt / thấy, … ý / phân biệt nên cũng chỉ là “lập tri”, của kẻ mù sờ voi thôi! Tuy nhiên, có điều khác biệt là từ “nhận thức” đến “hiểu” có một khoảng cách nào đấy. “Nhận Thức” là giai đoạn sơ kỳ, phôi thai của tai / nghe, mắt / thấy, muĩ/ ngửi, lưỡi /nếm…tức là giai đoạn thu nạp dữ liệu – như đi chợ mua rau quả, thịt cá … Còn “Hiểu” thì sâu hơn một bậc, tức là ở giai đoạn của “ý phân biệt”, sau khi xào nấu rau cải, thịt cá … để thành ra món ăn (lại biến dạng thêm nữa với mắm muối, ớt tỏi…do tập quán, nghiệm sinh). Cùng những thức mua về, nhưng Tây nấu ra kiểu Tây, VN ta nấu ra kiểu Ta, Nhật ra món khác, Tàu ra món khác….
Tuy vậy, khi “hiểu đúng” thì sợi dây thừng không còn là con rắn đáng sợ nữa – khi hiểu sai (thiếu ánh sáng của Trí) thì sợi dây thành con rắn. Cũng một CÁI BIẾT đó thôi, nhưng hiểu lầm, biết lầm thì gọi là Thức mà hiểu đúng, biết đúng thì gọi là Trí (TÂM, Chân Như, Tự Tánh…). Người ở tù là cô Lê Thị Công Nhân, phụ nữ, có 2 tay 2 chân mà ra khỏi tù cũng là Lê Thị Công Nhân, phụ nữ, với 2 tay 2 chân, chứ có ai khác vào đó? Chỗ khác nhau là bị tù hay được Tự Do thôi.
* …””Sự giác ngộ của Phật giáo chỉ là vấn đề nhận thức đúng, hiểu đúng bản chất sự vật..””(KS) Đại khái là như thế, bởi vì “hiểu đúng” cũng có nhiều cấp độ. Hiểu sợi dây thừng chứ không phải rắn, là hiểu đúng. Nhưng hiểu sợi dây thừng do chất sợi gì làm thành, bằng gai hay bằng nylon, nylon đó làm bằng chất gì…lại là một bình diện “hiểu đúng” cao hơn. Bởi vậy, TRÍ cũng chia ra 4 bậc: thành sở, diệu quan, bình đẳng và Nhất thiết, tức là Trí tột cùng của chư Phật. Cái biết về thành phố Paris của du khách đi tham quan kiểu cỡi ngựa xem hoa hẵn là không chi tiết, rõ ràng so với dân địa phương sống lâu năm ở đó.
* Còn câu “Tri kiến lập Tri tức vô minh bổn” trong nhà Thiền theo tôi hiểu là để nhắc nhở thiền sinh đừng sa đà trong lý thuyết, suy luận của thế gian (thức) mà phải vượt qua ý thức như nhảy khỏi “đầu sào trăm trượng” mới mong được Tự Do thực sự. Ý thức khi còn bị kẹt cứng trong thế tương đối của tai/nghe, mắt/thấy, ý/phân biệt…với sự “can dự“ của ngã chấp thì vẫn còn gọi là nhị thị,là mê lầm. Chỉ trừ khi phá vỡ, bứt ra khỏi thế kẹt đó thì mới đạt được Trí tức là phải phá ngã chấp, điều kiện tối yếu trên hành trình Giác ngộ (ngã không và pháp không) của hành giả tu Phật.
Xin bác KS hiểu cho, ngôn ngữ vốn có cái hạn chế của nó, nên tôi không biết dùng chữ nào đúng hơn thay cho chữ “hiểu”. Thay bằng chữ “Ngộ” được chăng? Tôi thấy có vẻ cao quá trong trường hợp này. Dù sao, xin coi đây cũng chỉ là … thêm một lần nữa “sờ voi” mà thôi.
Nguyễn Mai Linh nói:” Giá trị của ba mươi đồng bạc, vào thời đó, chắc cũng có thể tương đương với ba triệu đồng Việt Nam thời 1963, sử dụng để các tướng lãnh chia nhau, về khoản thù lao sau đảo chánh từ tay Lucien Conein, để bán đứng và giết chết vị tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm”.
Ngay thời đại này, ở ngoài này, còn một số người cố tình lặp đi lặp lại từ năm này qua năm nọ những điều không đúng với lịch sử , để vài người không phương tiện hay thì giờ tra cứu sau cùng cho đó là sự thật. Ở các trang 210 và 211 trong quyển “Việt Nam Nhân Chứng” của Trần Văn Đôn (môt trong những tướng chủ trương đảo chính và liên lạc với toà đại sứ Mỹ) cho biết: trước đảo chính 3 ngày, Conein hỏi ông Đôn có cần tiền cho việc tổ chức đảo chính không, ông Đôn trả lởi không cần. Conein hỏi ngày giờ đảo chính, ông Đôn từ chối không cho biết. Cuộc đảo chính xảy ra từ lúc 1 giờ 15 ngày 1-11-63 sau lời tuyên bố của Dương Văn Minh, và Conein khi được báo tin vào bộ Tổng Tham Mưu lúc 1giờ 30 mang theo máy truyền tin và bao bạc 3 triệu đồng nói là để giúp binh sĩ và gia đình gặp nạn khi đảo chính xảy ra. (Tôi biết ba triệu đồng VN vào thời đó phải đựng trong một bao rất lớn, và không thể mang tiền như thế khi muốn mua chuộc hay hối lộ ai một cách “công khai”). Sau đảo chính, tướng Đôn dùng số tiền đó để uỷ lạo các đơn vị tham gia đảo chính, và một số biên nhận chụp in lại ở cuối quyển sách. Trong đó tường Trần Thiện Khiệm nhận 500 ngàn, Tôn Thất Đính nhận 550 ngàn (hai ông này hiện còn sống ở Mỹ), thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu nhận 100 ngàn…