talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa

07/05/2010 | 2:37 chiều | 94 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Tôn giáo
Thẻ: >

Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi. Phần lớn những phản hồi này (hơn 200 bài /12 bài) chỉ lặp đi lặp lại ý kiến của vài độc giả về một vài ý niệm của đạo Phật Đại thừa như Vô minh, Vô thức, Vô ngã… hiểu theo chữ Hán, lại mang nhiều tính cách tranh cãi cá nhân, trở thành lạc đề, không giúp ích gì cho những độc giả muốn hiểu biết đạo Phật một cách sâu rộng và chín chắn.

Tôi xin nhắc lại là đạo Phật Đại thừa vào Trung Quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên nhưng lần lần bị Hán hoá khi phải pha trộn với đạo Lão, đạo Khổng. Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế  kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Ra đời một ngàn năm sau đạo Phật Nguyên thủy (khi Phật còn tại thế), Thiền Trung Quốc chỉ còn giữ lại một vài ý niệm triết  học của Phật giáo hiểu theo nghĩa Trung Quốc. Mang sắc thái Trung Quốc, Thiền đạo đã chói sáng trong 2 thế kỷ thứ VII, thứ VIII và trở thành gần như là đại diện duy nhất của Phật giáo Trung Quốc.

Để chứng dẫn, tôi xin kể lại là nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus: “Thiền tông có người cha  Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn  hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.

Thiền đạo vào Việt Nam dưới đô hộ Tàu rất sớm (594?) và giữ nguyên tính cách Thiền Tàu, khác với Cao Ly và Nhật Bản: Khi tới Cao Ly thế kỷ thứ IX, tự sáp nhập vào Phật giáo Cao Ly có từ thế kỷ thứ IV. Thế kỷ thứ XII-XIII, thiền sư Nhật Dogen (Đạo Nguyên) phổ biến thiền Tào động dưới  hình thức Toạ thiền (Zazen).

Thiền đạo với đặc thái Trung Quốc mất dần tính cách đạo giáo theo đúng nghĩa của nó và trở thành một nền triết lí, một nhân sinh quan, một lối tu không tùy thuộc nơi chốn (tu tại gia). Đạo Phật chính thống nay gọi là Nguyên thủy, là đạo Phật ở những nước mà 90% người dân là Phật tử  như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào. Nguồn gốc của đạo Phật là Ấn giáo Vệ đà.  Vì vậy muốn hiểu thấu đáo những ý niệm của đạo Phật bắt buộc phải hiểu theo nghĩa trong kinh Vệ đà của Ấn giáo.

Tôi xin chia bài trình bày dưới đây làm 3 phần:

1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.

2. Lí do Phật tách khỏi Bà La môn giáo.

3. Ý niệm Chúa Sáng tạo của đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của Ấn giáo Vệ đà.

1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo

Ấn Độ, dịch từ chữ Ba Tư Hindu, chỉ sông Indus mà tiếng Phạn gọi là Sindhu, đất 7 nhánh sông (Sapta Sindhu), của người Aryens (phiên âm chữ Hán là Nhã lộ an) mà Đức Quốc Xã  cũng như người Ba Tư (Iran), đều coi là thủy tổ. Đây cũng là một điểm rất quan trọng giải thích một phần nào nguồn gốc chủng tộc, tiếng nói, văn hoá, đạo giáo của người Âu Châu.

Ấn giáo là đạo cổ xưa nhất của Ấn Độ. Gọi theo tiếng Phạn là Sanatana dharma (Pháp trường tồn) hay “Trật tự vũ trụ trường tồn”. Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống, một lối suy nghĩ dựa trên Vệ đà Thiên thư (Rig Veda). Nền tảng của Ấn giáo là kinh Vệ đà nên cũng được gọi là Vệ đà giáo. “Trật tự vũ trụ” trong Vệ đà giáo có lẽ đã gợi cho Einstein ý tưởng về đạo Vũ trụ (Religion Cosmique với nghĩa Kosmos là Trật tự trong tiếng Hi Lạp).

Ấn Độ giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa.

Đây là định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966:

1) Chấp nhận những ý niệm Vệ Đà là thẩm quyền cao hơn hết trong mọi lãnh vực đạo giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ.

2) Phải có óc khoan dung và thiện tâm thiện ý vì Sự thật có nhiều hình thức biểu lộ.

3) Chấp nhận 6 hệ thống (Lục hệ) trong triết học Ấn Độ và nhịp điệu thế giới diễn tiến theo nhiều chu kỳ gọi là du già (yuga). Mỗi chu kỳ qua từng thời, sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt, tiếp nối nhau không bao giờ ngừng (luân hồi).

4) Chấp nhận sự tin tưởng là có tái sinh và có đời sống trước.

5) Công nhận là có rất nhiều phương cách đi đến giải thoát (Moksha).

Căn bản của Ấn giáo là kinh Vệ đà được truyền khẩu từ 5000 năm cho tới 1500 năm trCN. Theo truyền thuyết, Brahman (Phạm Thiên, Chân Như) đã thần khải Kinh Vệ đà cho các vị hiền giả (Rishi). Trời trong Vệ đà Thiên thư là Brahman, Đấng Tuyệt đối tạo ra vạn vật.

Hai ý niệm nòng cốt của Ấn giáo cổ xưa (thời kỳ Vệ đà giáo) là:

1. Đại ngã (ParamAtman) Brahman: là Một, là Hiện thực duy nhất, là Linh hồn tuyệt đối của vũ trụ, là Tuyệt đối, Siêu nghiệm, Bất biến, Vô hình thể, Trường tồn, Vĩnh hằng, Quán thông mọi chuyện, có mặt mọi nơi chốn, là nguyên lí của vũ trụ không có khởi đầu không có tận cùng. Là Sự Thật tuyệt đối, thế giới chỉ là hư huyền.

2. Tiểu ngã (atman), một phần đồng nhất của Bản thể Brahman. Không có linh hồn cá biệt phải được hiểu là sau vòng luân hồi tiểu ngã sẽ trở về đồng nhất với Bản Ngã Brahman.

2. Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn

– Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như

Để trả lời các giáo sĩ Bà La môn muốn chỉ trích Phật là không biết Trời, Phật dạy “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”

Sở dĩ Phật ít nhắc tới Brahman là vì Phật muốn mọi người hiểu Brahman theo nghĩa Vệ đà kinh để xa lánh các giáo sĩ Bà La môn đã phân Brahman ra làm 33 vị thần mà 3 vị thần chính là Brahma, Visnou và Shiva, để lôi kéo tín đồ đem lợi lộc và đặc quyền thờ phụng cho đẳng cấp Bà la môn. Tôi cũng xin nhắc lại là Bà la môn giáo chỉ ra đời trước Phật chừng khoảng 100 năm (thế kỷ thứ VI-V trCN).

Phải hiểu là khi Phật dạy “sinh ra từ Niết bàn” chứ không phải “ở” Niết bàn là Phật có ý nói Niết Bàn không phải là nơi chốn mà Niết Bàn cũng là Chân Như: Niết bàn không thể là nơi chốn được vì Chân Như, Đấng Vĩnh hằng ở ngoài không gian và thời gian, hiện diện khắp mọi nơi.

Hiểu theo đạo Phật Nguyên thủy Chân Như, Niết Bàn, Phật tính, chỉ là Một.

– Đạo Phật Nguyên thủy không phủ nhận ý niệm tiểu ngã của kinh Vệ đà:

Đạo Phật cấm sát sinh vì mọi sinh vật đều là anh em cả, đều mang trong mình tiểu ngã (soi, self, selbst) một phần của Đại Ngã (le Soi). Ý niệm “tiểu ngã” cũng là ý niệm về phần Phật tính bất biến trong mỗi sinh linh, sợi dây kết tụ nghiệp quả của mỗi sinh linh qua vòng luân hồi để trở về với Bản thể Phật tính hay Đại Ngã Chân Như (Atman, Brahman). Theo trường phái triết học Vệ đà Vedanta, tiểu ngã là nguyên lí tự tại, siêu nghiệm (principe  immanent et transcendant) độc nhất của mỗi sinh linh đi từ kiếp này qua kiếp khác. Theo định nghĩa  này, tiểu ngã có thể được hiểu là sinh linh mỗi con người trong vòng luân hồi trước khi nhập vào Đại Ngã hay Vô ngã (cái Ngã chân thật, không riêng biệt). Tiểu ngã khác với “cái tôi” (le moi) mà nhiều triết gia Tây phương cũng coi là không có thực chất, phiến diện, hay thay đổi (vô thường) vì phụ thuộc vào những trạng thái tâm lí, cảm xúc, hoàn cảnh và sự vật.

Bản thể Phật tính cũng là Bản thể Brahman nên có sự nhất tính giữa Phật và chúng sinh như băng đá với nước trong thuyết “Vạn vật đồng nhất thể” của Ấn giáo.

Tôi cũng xin nhắc lại là Hội Nghị Phật giáo thế giới năm 1956 công nhận đạo Phật Tiểu thừa là thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy và như vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.

3. Có thể suy luận là những ý niệm về Trời Sáng tạo của các đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của kinh Vệ đà

Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) ít nhất là 1000 năm, nên có thể coi Ấn Độ giáo là đạo xưa nhất.

Ý niệm Trời Brahman cũng là ý niệm Trời (Éternel) trong Thánh kinh (Bible) của Do Thái giáo. Đứng về phương diện lịch sử, Ki tô giáo và Hồi giáo cùng tin ở Thánh kinh, nên có thể coi 2 đạo này chỉ là tông phái của một đạo Thiên Chúa duy nhất là Do Thái giáo. Brahman, Jehovah, Phạm Thiên, Chân Như, Chúa, Allah… chỉ là cách gọi Trời khác nhau.

Theo cuốn Giáo lí (Catéchisme) được soạn thảo sau Hội nghị các giám mục toàn thế giới kỳ 2, Công giáo định nghĩa về Trời như sau: “Trời là Nguyên nhân đầu tiên Tự tạo, Tự tại, Tự tồn tạo ra không gian thời gian nên lúc nào, chỗ nào cũng có Trời (Dieu est universel).” Như vậy Trời cũng là Thiên Đàng và trở về Thiên Đàng là trở về Tình yêu của Chúa, trở về Lòng Chúa như những người Ki Tô giáo mong ước, và cũng là mong ước của những người Phật tử muốn được giải thoát khỏi vòng luân hồi để trở về Niết Bàn hay Bản thể Phật tính Từ bi hỉ xả vậy. Brahman vô hình vô thể nhưng cũng có thể biểu hiện dưới hình thức một Trời có ngã vị (un dieu personnel) gọi là Ishvara và sau này trong Bà La môn giáo, dưới biểu hiện Brahma, Visnou, Shiva mà theo Dumézil (1898-1986), đó cũng là biểu hiện Tam thể Trimourti, trong Ấn Độ giáo, “Ba thân” trong đạo Phật, “Ba Ngôi” (Trinity) trong Ki Tô giáo.

Trong cuốn Sáng tạo và giao lưu, do nhà xuất bản Giáo dục in tháng 12- 2007, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư, tác giả nhiều bài tham luận về văn học và về nhà khoa học nhân văn Nga Bakhtin đăng trên talawas bộ cũ, người mới được giải thưởng Phan Châu Trinh về dịch thuật, có nói nhiều về luận thuyết Thần – Nhân loại (Divino-Humanité, Théandricité) của nhà hiền triết Nga Vladimir Solowiev (1853-1900). Nhà thần học Kitô giáo và hiền triết lớn nhất nước Nga này bị quên lãng dưới thời cộng sản Liên Xô, nay là niềm tự hào của nước Nga trên trường quốc tế. Những trước tác của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt của Phạm Vĩnh Cư. Tôi xin nói qua về quan niệm Thiên Chúa của Solowiev qua cuốn sách của Phạm Vĩnh Cư:

Theo thuyết Thần-Nhân loại của Solowiev, Chúa Trời sáng tạo tất cả để cuối cùng vì Tình yêu, hoá thần tất cả khiến thế giới trở thành một tha thể (thể khác) của Thiên Chúa mà không có nó thì Chúa không tồn tại vì Chúa sống trong nó và vì nó. Không còn sự khác biệt ngay cả về bản chất giữa Đấng Sáng tạo với tạo vật đồng nhất thể với Chúa (vsejedinstvo, tiếng Nga), khiến Tạo hoá và tạo vật không còn là hai bản thể riêng biệt như theo thuyết nhị nguyên luận của Descartes: bản thể quảng tính (Res extensia) vật chất và bản thể tư duy (Res cogitans) tinh thần. Quan niệm của Solowiev về Chúa, Đấng Sáng tạo vì tình yêu này tương đồng với quan niệm Đấng Tuyệt đối Brahman “Vạn vật đồng nhất thể” trong Ấn Độ giáo, nên Solowiev hồi ấy bị những người Ki tô giáo đạo Chính Thống (orthodoxes) trách cứ là sa vào thuyết Phiếm thần (Panthéisme) và cùng một tư tưởng với Spinoza (1632 – 1677), người đã đồng nhất Thượng đế với thiên nhiên. Những người này đã tỏ ra không hiểu “Thần – Nhân” là giáo thuyết đẹp nhất trong Ki Tô giáo: Giêsu Kitô con của Chúa Trời đã nhập thể thành người để chuộc tội cho loài người. Đó cũng là ý tưởng Bồ Tát trong đạo Phật.

Trong cuốn sách tiếng Anh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Living Buddha, living Christ dịch tiếng Việt là Bụt trong ta, Chúa trong ta do nhà xuất bản Riverhead Booking in năm 1995, thày Thích Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm với Solowiev là Trời, Phật ở trong ta: “Chúa Ki Tô vừa là con Trời vừa là con Người (Le fils de l’homme) và Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bất nhị nên con người cũng là một với Thượng đế… Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như và sẽ quy về với Chân Như.”

Khi Solowiev phân tích phạm trù “Cái Tuyệt đối” (Thiên Chúa), ông xác định ý niệm “hư không” trong đạo Phật: “Cái Tuyệt đối vừa là cái thoát li mọi thứ, lại vừa là cái mang mọi thứ trong mình. Nó vừa là cái tịnh không, vừa là hữu thể viên mãn nhất, hoàn bị nhất, toàn vẹn nhất… Nó là thể thống nhất của mình với cái phủ định mình“.

Ý niệm “Vô Ngã” trong đạo Phật cũng được Solowiev hiểu theo nghĩa Siêu Ngã để nói về bản tính Chúa Trời: “Ngài là Sinh linh Siêu Ngã vừa là mình lại vừa là tất cả… Là Một – và – Tất cả”. Ý niệm Siêu Ngã này làm cho ta hiểu ý niệm Tam vị Nhất thể (Trinité) trong Ki Tô giáo.

Vòng sinh tử trong đạo Phật là nghĩa sự phục sinh của Chúa Ki Tô cứu rỗi loài người  thông qua cái chết: Chúa phục sinh là cái hứa hẹn và bảo đảm sự tái sinh của nhân loại trong sự sống hoàn toàn bất tử.

Kết luận

Sự tin tưởng vào một Sinh linh tối cao đều có trong mỗi con người và nằm ở tầng sâu nhất của tâm thức. Đấng sinh linh Tối cao biểu hiện trong các đạo giáo dưới những hình thức khác nhau hay được hiểu khác nhau nhưng tựu chung vẫn chỉ là Một. Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.

Theo kinh sách Vệ đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật. Những người Ki tô giáo đích thực cũng cùng một quan điểm: Giáo hoàng Jean Paul II đã luôn mở cửa nhà thờ mời Đức Đạt lai Lạt ma làm lễ. Có 84 ngàn pháp môn nên những người không theo đạo nào cả cũng có thể mở một cánh cửa đi tới Trời.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

94 Comments (bài “Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa”)

  1. Lê Quốc Trinh viết:

    WOW ! Lần đầu tiên tôi thấy ông Nguyễn Hữu Liêm tham gia phản hồi trên trang mạng này.

    Nhưng thôi, vì ông Liêm lên tiếng ủng hộ Phong Uyên về sự khác biệt Thượng Đế (Á Châu, Ấn Độ và Âu Châu) tôi đề nghị ông Liêm nên mạnh dạn đứng ra trình bày quan niệm của ông. Ông cũng nghĩ rằng nên đi tìm hiểu Ấn Độ Giáo để hiểu rõ thêm về Đạo Phật, vậy thì đề nghị ông trả lời giùm những nghi vấn mà tôi đã nêu trong hai bài phản hồi mới đây.

    Cám ơn ông Liêm,

  2. P viết:

    Tôi có đôi lần nói chuyện với một vài vị sư Việt Nam và Tây Tạng về đề tài Thượng Đế. Những vị sư này, thoạt đầu, khi nghe nói tới Thượng Đế thì cũng mỉm cười [tuy không im lặng], coi biểu tượng đó là không thực tồn tại dưới cái nhãn quan của Phật giáo.

    Tuy nhiên nói chuyện [s][l]âu hơn một chút, chúng tôi thường đi đến một kết luận cuối cùng gần gần như là kết luận của tác giả Phong Uyên hay độc giả Nguyễn Hữu Liêm, rằng Thượng Đế là một khái niệm, cũng như những khái niệm về Tính Không, Niết Bàn, Chân Như.

    Cho nên tôi nghĩ cái sự dị ứng mà độc giả Nguyễn Hữu Liêm nhắc tới chỉ là trên bề mặt, phản ứng lại một khái niệm Thượng Đế phổ thông và phổ biến, đã và đang giết chết hết thảy những con đường tiếp cận chân lý khác. Đây còn là vấn đề xâm lăng văn hóa nữa. Xin dẫn ra một ví dụ: http://phattuvietnam.net/3/9801.html

  3. Bài viết của Phong Uyên rất quan trọng về một đề tài mà giới Phật học Việt Nam vẫn không chịu công nhận. Chúng ta phải nhớ rằng đức Phật là một nhà Ấn giáo cách tân. Ngài muốn có một cuộc cách mạng về khái niệm Thượng đế vốn đã trở thành một đối thể khách quan trong truyền thống Ấn giáo. Đức Phật chưa bao giờ phủ nhận ý niệm hay nguyên lý Thượng đế cả. Ngài chỉ mỉm cười im lặng khi được hỏi về vấn đề này. Những học thuyết của Ngài là một nỗ lực tái cấu trúc trên bình diện khái niệm và ngôn ngữ, với những phương pháp thực hành, để con người có thể cảm nghiệm được, chứ không thể chỉ biết đến trên bình diện tri kiến, thế nào là ý nghĩa Thượng đế.

    Phật tử Việt Nam, kể cả các cao tăng và học giả Phật giáo, vốn bị ảnh hưởng nặng truyền thống Phật học Trung Hoa, thường nhìn vào Tánh Không, Phật Tánh, Như Lai, Niết Bàn, Chân Như… như là những khái niệm về một tính thể tuyệt đối và thường hằng, nhưng không chấp nhận những thuộc tính cơ bản cho khái niệm Thượng đế trong Ấn giáo và các tôn giáo trong truyền thống Abraham (Do Thái, Thiên chúa và Hồi giáo). Một phần nào, tôi nghĩ, là do sự dị ứng với tính cách áp chế và sự giới hạn của khái niệm Thượng đế trong các truyền thống này. Sự dị ứng đó tôi cũng chia sẻ – vì khái niệm Chúa Trời trong Thiên chúa giáo, trên bình diện triết học, vượt qua các nội dung biểu tượng và ẩn dụ, thì quá đơn sơ và nông cạn, nếu không nói là trẻ con.

    Ngắn gọn thì Phật giáo là một cuộc cách mạng đồng thời là một tiếp nối của Ấn giáo. Phong Uyên nói rất chính xác. Nếu không hiểu Ấn giáo, qua truyền thống Veda, thì không hiểu Phật giáo đúng được. Khái niệm Thượng đế, với nhiều tên gọi khác nhau, chỉ là một phần trong sự thông hiểu về hai tôn giáo này.

    Tôi xin phép đề nghị những ai quan tâm về đề tài này hãy nên đọc cuốn sách nhỏ của Ananda K. Coomaraswamy, “Hinduism and Buddhism”.

  4. Lê Quốc Trinh viết:

    …tiếp tục …

    )- Vì tính chất lịch sử bối cảnh xã hội Ấn Độ, trong suốt thế kỷ đầu giáo lý Đạo Phật được truyền khẩu rất nhiều, vì khi Đức Phật chu du thuyết pháp, Ngài chỉ nói và các đệ tử nhập tâm nghe và nhớ, không ai ghi chép (hoặc thu thanh, quay phim, tiếc thật!). Bởi vậy cho nên sau khi Ngài mất, các vị trưởng lão thân tín mới tìm cách ghi nhớ, chép lại những lời Ngài giảng dạy. Từ đó hàng ngũ tăng già bắt đầu phân hoá chia thành nhiều tông phái, cãi nhau kịch liệt. Rồi từ đó Đạo Phật đi vào hình thức tín ngưỡng, tôn thờ thần thánh, xây chùa, đền thờ, đúc tượng, lan tràn dần sang các nước kế cận (Trung Hoa, Tây Tạng, A Phú Hãn, Việt Nam). Vì Đạo Phật cơ bản chính là hướng Tâm (đi vào bên trong) cho nên hoà nhập dễ dàng với phong tục, tập quán, văn hoá xã hội mỗi nơi, từ đó mới thấy bên Trung Hoa tông phái phát triển mạnh mẽ. Đạo Phật chịu ảnh hưởng Đạo Lão chẳng hạn để biến thể thành Tịnh Độ Tông chuyên thờ tụng thần thánh (hàng chục vị Phật, Bồ Tát, A La Hán, Hộ Pháp, vv…).

    10)- Ai nghiên cứu cũng biết rằng kinh sách Đạo Phật nhiều như rừng, như biển, chất cao như núi, nhưng đọc thì mù mờ, chữ nghĩa lùng bùng khó hiểu, văn phạm sai bét, một phần vì dịch qua chữ Phạn và chữ Hán. Thế nhưng đã có ai tự thử đặt câu hỏỉ rằng: “Đức Phật Thích Ca một thân cô độc lê gót đi khắp nơi thuyết giảng, chịu sự đe doạ đàn áp thường xuyên của tín đồ Bà La Môn, bản thân một tên hành khất cùng đinh ăn mặc rách rưới, làm sao có thể nói tràng giang đại hải, liên tu bất tận đến độ kinh sách ghi chép lên đến hàng vạn quyển?”.

    Có thể rằng đến thời điểm 1956 Giáo Hội Phật Giáo thế giới công nhận tông phái Phật Giáo Nguyên Thuỷ (Tiếu Thừa hay Nam Tông) là Phật Giáo chính thống. Bản thân tôi đã có lần tự lần mò đến một thiền viện mang tên Bát Nhã ở Montreal (Canada) để tìm hiểu Phật Giáo nguyên thuỷ ra sao, vì họ tự nhận là vậy. Sau vài giờ trao đổi, đàm luận, tôi mới vỡ lẽ tại sao Phật Giáo Nguyên Thuỷ không thể phát triển rộng rãi như môn phái Đại Thừa (Bắc Tông). Chính ngài Đạt Lai Lạt Ma đương thời còn nhắn nhủ mọi người chớ nên phân biệt tông phái nữa, ngài tránh dùng chữ Tiểu Thừa (chiếc xe nhỏ, chỉ chở được một người đến bờ Giác Ngộ) hay chữ Đại Thừa (cỗ xe lớn chở được nhiều người hơn).

    Tác giả Phong Uyên chắc còn nhớ lời tuyên bố của Đức Phật xưa kia: “Suốt 45 năm qua ta chưa hề nói một lời nào” và “Ai tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Đi vào Đạo Phật là tìm hiểu thâm sâu chi tiết, hiểu ý nghĩa bên trong chứ không phải thuộc lòng câu chữ, từ lý thuyết hiểu qua cuộc sống thực tại để thấy Đạo Phật rất ư gần gũi với cuộc sống thường nhật ra sao. Đức Phật Thích Ca có bao giờ vỗ ngực tự xưng Giáo Chủ đâu, Ngài còn nói:” Ta là Phật đã thành (đã giác ngộ) chúng sinh là Phật sẽ thành (sẽ giác ngộ)”, chắc chắn không có một tôn giáo nào dám tuyên bố như vậy, ngay cả Ấn Độ Giáo. Đạo Phật là thế đó, tác giả Phong Uyên đã tìm hiểu kỹ chưa mà muốn đánh đồng Đạo Phật với Thiên Chúa Giáo?

    Kết luận:

    Theo tôi nghĩ, ngày nào Phật tử còn chú trọng đến nghi lễ, hình thức, vật chất xa hoa bóng bẩy, bám lấy hình tượng bên ngoài mà quên đi vào bên trong (tu Tâm sửa Tánh, phát triển Trí Tuệ và Tình Thương tiến đến Giác Ngộ) thì ngày đó chưa đích thực đi theo con đường Trung Đạo của Nhà Phật. Nghiên cứu Đạo Phật chính thống là đi tìm hiểu và áp dụng vào cuộc sống, những luận đề giáo lý căn bản như: Nhân Duyên, Nhân Quả, Trùng Trùng Duyên Khởi, Vô Thường, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Vô Ngã, Sắc Sắc Không Không, Luân Hồi, Từ Bi Hỷ Xả. Bao nhiêu đó đủ làm nên một kho tàng trí tuệ giúp cho hành giả đủ căn bản mà tự định đoạt hướng đi và hành sự chín chắn chuẩn mực trong xã hội hàng ngày.

    Le Quoc Trinh, Canada

  5. Trung Nu Hoang viết:

    @ Anh Dũng (08/05/2010)
    Có lẽ bác Sức Mạnh Mềm vô ý quên chứ chuyện này quá thường, ai cũng có thể nhận biết, đúng như bác Anh Dũng đã chỉ.

  6. Trung Nu Hoang viết:

    @ nguyen mai linh (NML) 08/05/2010 lúc 3:31 sáng:
    ..”” Ở diễn đàn chung này, khi thảo luận về tôn giáo, sẽ nảy ra những tư tưởng đối nghịch nhau, dễ dẫn đến xung đột dù chỉ trên phương diện bàn, thảo luận khi nhiều người không có cái nhìn khách quan về tôn giáo. Vì thế, khi thảo luận về tôn giáo nên thảo luận trên một diễn đàn riêng cho tôn giáo, thì hay hơn là bàn luận trên Talawas.”” (NML).

    Theo tôi, chẳng riêng “diễn đàn tôn giáo” mà bất cứ diễn đàn nào khác (chính trị, kinh tế, văn hóa…) đều cũng có thể có các ý kiến khác biệt nhau, thậm chí đôi lúc quá sôi nổi nên mất bình tĩnh, đã có những lời lẽ thiếu “văn hóa”. Vấn đề là ở chỗ BBT cần nên gọt bớt coi như vai trò của một “moderator” những câu, những chữ thiếu “văn hóa” để diễn đàn được “đẹp” hơn. [Trước đây mấy tuần, có một PH với nhà văn Đỗ Kh., tôi đọc mà thấy quá xấu hỗ, dù rất ngắn!]. Khổ nỗi, BBT talawas chỉ làm việc “vác ngà voi” cho thiên hạ trong khi nhân sự ít oi mà công việc thì nặng nề. Bởi thế, xin quý vị thức giả nên tự mình “kiểm duyệt” những câu, chữ “thiếu văn hóa” để cho diễn đàn talawas giữ được vẻ đẹp mà nó cần phải có. Xin xem PH này chỉ là một mong mỏi “chủ quan” của tôi thôi!

  7. Lê Quốc Trinh viết:

    TÌM HIỂU ĐẠO PHẬT

    Cám ơn tác giả Phong Uyên đã có một bài diễn giảng khá dài nói về nguồn gốc Đạo Phật (hay Hiểu đúng thế nào về Đạo Phật). Tuy nhiên cách phân tích có tính chủ quan như bài viết đã lộ rõ nhiều luận điểm mù mờ, tôi xin phép được góp ý như sau:

    1)- Trước hết đề nghị tác giả cho một định nghĩa rõ ràng về chữ PHẬT. Thiết nghĩ tìm hiểu Đạo Phật mà bỏ quên không hiểu PHẬT là gì thì tự mình đánh mất khả năng Giác Ngộ rồi. Chẳng khác gì bỏ qua tiểu học, trung học để nhảy sổ vào đại học lấy bằng Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, hay chức vị Giáo Sư.

    2)- Vấn đề nguồn gốc Đạo Phật từ đâu ra, thiết nghĩ không quan trọng, bởi lẽ đã qua 2500 năm, chuyện xưa tích cũ có nhắc lại chỉ là giả thuyết phần nào, tin hay không tin chẳng có gì hệ trọng. Vấn đề quan trọng là Đạo Phật đã đóng góp được gì trong lịch sử tiến hoá của nhân loại? Vì sao nội bộ Đạo Phật tuy có phân hoá nhưng không hề gây ra thánh chiến đổ máu như các tôn giáo khác? Đề nghị tác giả giải thích sự kiện này.

    3)- Tác giả đưa ra một luận cứ chắc nịch: “Đạo Phật xuất phát từ nguồn gốc Đạo Ấn Độ (kinh Vệ Đà), muốn tìm hiểu Đạo Phật thì nên đi tìm hiểu kinh Vệ Đà trước tiên”. Dựa vào luận cứ này, nếu thuyết tiến hoá Darwin cho rằng thuỷ tổ loài người là “con khỉ”, và muốn tìm hiểu loài người thì có lẽ tác giả nên đi vào rừng sâu “sống trên cây, ăn hoa quả và tìm hiểu con cháu nhà họ Tôn trước”, phải chăng là thế?

    4)- Tác giả quên rằng thái tử Tất Đạt Ta là người kế thừa ngai vàng, địa vị vương quyền rất bảo đảm và kết hợp với thần quyền (giáo phái Ấn Độ đang phát triển mạnh trong xã hội, nhất là tầng lớp quý tộc), tương lai của Ngài xáng lạn vô cùng. Nhưng vì lý do gì Ngài phải đang đêm rời bỏ cung điện, thoát ly ra đi? Điều gì đã thúc đẩy Ngài hành động như vậy? Ngài có thể ngồi lại trong cung cấm học tập giáo lý Ấn Độ Giáo và thực hành Thiền Định để giác ngộ được cơ mà? Trân trọng mời tác giả cho ý kiến.

    5)- Hầu hết những ai quan tâm đến triết thuyết Nhà Phật đề biết rằng thái tử Tất Đạt Ta bắt đầu ưu tư thắc mắc về những hiện tượng “đau khổ” trong thế gian, sau khi Ngài được cho phép đi dạo ngoài cung cấm. Lẽ đương nhiên Ngài có biết bao nhiêu giáo sĩ Bà La Môn kề cận bên cạnh để giải thích tường tận vấn đề theo giáo lý Ấn Độ giáo, nhưng tại sao Ngài không tin mà phải rời bỏ cung cấm đi tìm chân lý một mình? Nhờ tác giả giải thích dùm. Đề nghị tác giả giải thích thêm sự khác biệt giữa Ấn Độ Giáo và đạo Bà La Môn.

    6)- Tác giả chỉ chú trọng trên phần tín ngưỡng, tôn giáo mà quên đi phần Trí Tuệ, cốt tuỷ của giáo lý Nhà Phật. Chỉ cần hiểu thâm sâu ý nghĩa thuyết Nhân Duyên, Nhân Quả, Trùng Trùng Duyên Khởi là thấy ngay bản chất triết lý khoa học trong đó, bao nhiêu đó thôi cũng đủ xóa bỏ tính chất tín ngưỡng “Duy Ngã, Duy Thần” căn bản của mọi tôn giáo (lấy niềm tin bên ngoài làm điểm tựa). Đề nghị tác giả giải thích Luân Hồi theo giáo lý Kinh Vệ Đà để thử so sánh với Luân Hồi Nhà Phật ra sao. Những hiện tượng “tái sinh” mà chúng ta thường nghe trên báo chí, chỉ là một mặt của Luân Hồi. Kinh Vệ Đà giải thích tại sao có Luân Hồi, tôi thực tâm muốn tìm hiểu.

    7)- Tác giả dẫn chứng hai luận thuyết về Đại Ngã và Tiểu Ngã từ kinh Vệ Đà để dẫn nhập ý nghĩa Vô Ngã trong Đạo Phật. Đề nghị tác giả giải thích chữ “ngã” như thế nào trước khi đề cập đến chữ “vô ngã”. Tôi nhớ không lầm trong diễn đàn Talawas này đã có người muốn phân biệt NGÃ (viết hoa) và ngã (viết thường). Trên căn bản trí tuệ, Đạo Phật lý luận mạch lạc vững chắc, bao trùm vũ trụ quan và nhân sinh quan, phù hợp tinh thần khoa học, đâu có lý gì nghiên cứu nguồn gốc Đạo Phật mà không hiểu thâm sau những luận đề chính yếu. Hiểu được “ngã” thì hiểu được Vô Ngã, hiểu được Vô Thường rồi thì Niết Bàn hay Sắc Sắc Không Không cũng không có gì phức tạp, khoa học ngày nay đã dẫn giải hết rồi, vởi hàng vạn chứng cớ xảy ra hàng ngày trong nội tâm và môi trường xung quanh.

    8)- Tác giả cũng không thể giải thích tại sao có con số tròn trịa 84000 pháp môn, mà không là một con số nào khác, dựa trên kinh Vệ Đà? Thực sự tôi không mấy tin tưởng vào những con số đặc biệt, ngoại trừ có một công trình nghiên cứu nghiêm túc nào đó đầy đủ cơ sở lý luận vững chắc. Tác giả kết luận rằng Phật Giáo và ngay cả Thiên Chúa Giáo cũng chỉ là hai trong tám vạn bốn ngàn pháp môn của Ấn Độ Giáo, tôi không đến độ mê tín để phải bực mình vì nhận định đó vì tôi quan niệm Đạo Phật không là tôn giáo, chỉ biết tảc giả có vẻ “cuồng tín” khi muốn đem tất cả mọi tôn giáo, tín ngưỡng quy về một mối, đây chính là đầu mối nguyên nhân đưa đến thánh chiến đổ máu trong lịch sử nhân loại suốt hai ngàn năm nay.

  8. nguyen mai linh viết:

    [Chuyện cấm cản, bóp nghẹt thảo luận về tôn giáo, khi thảo luận không phải là để phê phán, bài bác tôn giáo, thường chỉ thấy ở chế độ độc tài (Hoà Nguyễn)]

    Như tôi đã nói ở phản hồi trước. Bàn luận về tôn giáo ở một diễn đàn tự do như Talawas. Ở diễn đàn chung này, khi thảo luận về tôn giáo, sẽ nảy ra những tư tưởng đối nghịch nhau, dễ dẫn đến xung đột dù chỉ trên phương diện bàn, thảo luận khi nhiều người không có cái nhìn khách quan về tôn giáo. Vì thế, khi thảo luận về tôn giáo nên thảo luận trên một diễn đàn riêng cho tôn giáo, thì hay hơn là bàn luận trên Talawas.

  9. Anh Dũng viết:

    Ông “Sức mạnh mềm” viết: “…Darwin nghiên cứu và phát minh ra luật hấp dẫn từ 1 sự tình cờ bởi 1 sự kiện khách quan…”

    Theo tôi biết thì Newton đã phát hiện ra lực hấp dẫn sau khi ông ấy bị quả táo tình cờ rơi vào đầu. Còn Darwin nổi tiếng với thuyết tiến hóa.

    Cho nên, mong ông “Sức mạnh mềm” vui lòng cung cấp tài liệu làm rõ lời phát biểu của ông.

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Thưa ông Phùng Tường Vân, tôi xin rút lại cái từ đã dùng chắc là không chính xác và cũng không đúng ý tôi muốn nói. Và nếu từ đó đã làm ông không hài lòng thì cho tôi xin lỗi.

    Đọc góp ý của ông Nguyễn Mai Linh, tôi thấy người đọc hiểu ông PTV cũng theo nhiều cách khác nhau. Điều này tất nhiên, vì xét cho cùng vẫn có sự không sáng tỏ , chưa kể còn có ngộ nhận trong ngôn ngữ, trong cách nói, cách viết.

    Tôi nghĩ tín ngưỡng và tôn giáo (kể cả dị đoan , mê tín) vẫn là vấn đề lớn ở VN. Cứ để nhiều người nêu lên và góp ý, ai quan tâm sau cùng sẽ thấy “con đường” riêng cho mính về vấn đề tìm hiểu. Chuyện cấm cản, bóp nghẹt thảo luận về tôn giáo, khi thảo luận không phải là để phê phán, bài bác tôn giáo, thường chỉ thấy ở chế độ độc tài.

    Dù sao, số người theo một tôn giáo, hay có niềm tin ở tôn giáo, hiện cũng là phân nửa nhân loại hay còn cao hơn.

  11. Phùng Tường Vân viết:

    Đôi Lời Thưa Lại

    …Đã vài lần ông Phùng Tường Vân nhân danh mối ưu tư lớn và chính đáng về chuyện quốc gia dân tộc để chỉ trích bằng lời thơ xa gần cuộc tranh luận về Phật Giáo ở đây…” (Hòa Nguyễn)

    Tôn Giáo, chuyện nghiêm chỉnh, thâm viễn, tặng phẩm tâm linh cực kỳ cao quý của một hai vĩ nhân gửi tặng cho nhân loại đời đời, tôi không bao giờ dám khinh xuất đề cập đến với một thái độ thiếu tôn nghiêm, thận trọng. Những lời nhắc nhở của ông Hoà Nguyễn nhẹ nhàng hòa nhã, có ta có người, điều này không có gì lạ vì ông vốn không những là một học giả Phật Học uyên bác mà như tôi biết còn là một hành giả có nhiều kinh nghiệm thực chứng, tôi xin ghi nhận. Tuy nhiên chỉ có hai chữ nghiêm trọng ông cáo buộc cho tôi, tôi xin được gửi lại ông, đó là hai chữ chỉ trích, văn tự còn rất rành rành ra đó, mong được ông cùng độc giả xa gần chứng giám cho.

    Trân trọng

  12. nguyen mai linh viết:

    Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bác Phùng về vấn đề này. Theo kinh nghiệm của tôi, tôi thấy tôn giáo, đối với người dân Việt, là mầm mống, cội nguồn của sự chia rẽ dân tộc. Người Việt, đặc biệt hơn, khi bàn về tôn giáo thường không có cái đầu lạnh, cái nhìn khách quan, mà thường ra nổi nóng hơn thua, khi tôn giáo của mình bị đem ra mổ xẻ theo hướng nghịch. Chính vì điều này, qua những biến cố gần đây, nhất là ở Việt Nam, tôn giáo đã gây ra không biết bao nhiêu hiềm khích, chia rẽ giữa người trong một nước. Không chỉ dừng lại ở mâu thuẫn giữa lời nói, bàn luận mà nó còn lan ra thành bạo động, phá hoại gây hận thù sâu sắc. Vì thế, theo tôi, mặc dù Talawas là diễn đàn tự do, có thể bàn luận mọi vấn đề, nhưng khi đưa ra vấn đề về tôn giáo thì nên cân nhắc, hoặc chỉ nên đăng ở những diễn đàn đặc biệt cho tôn giáo đó, để người trong cùng tôn giáo có thể đóng cửa bàn luận, dạy với nhau thì có thể bớt đi những lời lẽ xúc phạm dễ gây chia rẽ dân tộc. Như bác Phùng đã nói, hiện giờ chúng ta có những quốc nạn đáng quan tâm hơn nhiều, và rất cần sự đoàn kết trong lòng dân tộc để giải quyết các vấn đề quốc nạn đó, hơn là chia rẽ hơn thua về các tôn giáo được du nhập từ các nước khác vào.

  13. Hoà Nguyễn viết:

    Xin có lời trực ngôn để góp ý với ông Phùng Tường Vân.

    Đã vài lần ông Phùng Tường Vân nhân danh mối ưu tư lớn và chính đáng về chuyện quốc gia dân tộc để chỉ trích, bằng lời thơ xa gần, cuộc tranh luận về vấn đề Phật giáo ở đây (mà có thể chỉ một số ít người nêu lên và góp ý). Tôi nghĩ ngay từ đầu talawas đã là diễn đàn của học thuật, đề cập nhiều vấn đề mà nhiều người tham dự muốn trình bày và thảo luận, từ chuyện kinh tế, chính trị, thời sự, văn học, thơ ca, sáng tác, hồi ký, lịch sử, triết học, tôn giáo, v.v. Chưa bao giờ BBT talawas công khai đặt vấn đề giới hạn đề mục thảo luận (tuy bên trong tôi nghĩ những người chủ trương có thể vẫn có “định hướng” riêng). Chuyện tôn giáo, dù về đạo nào ở VN hiện nay, cũng có liên quan đến quốc gia dân tộc nói chung, và xét về mặt đó cũng đáng bàn đến.

    Vậy nên coi đây là diễn đàn mở rộng cho các vấn đề mà một số người quan tâm và muốn chia sẻ với những ai cũng quan tâm như họ. Còn những người khác tất không cần để ý tới.

  14. Phùng Tường Vân viết:

    Đôi Lời Ngu Trực

    “Vệ Đà”… nguồn gốc bao la
    Khẳng quyết vội vã qua loa đôi hàng
    Mong gây thảo luận tràng giang
    “Khế Cơ” “Khế Lý” lỡ làng cả hai !
    Nước non đau những chuyện đời
    Hoàng Thành bị phá, Sòng bài đang xây…
    Mong sao “thư giãn” chuyện này
    Nhường các tôn giả giãi bầy sâu xa .
    Vài hàng ngu khẩn trình qua
    Cũng là thành ý tâm hoà đó thôi .

  15. Không như Darwin nghiên cứu và phát minh ra luật hấp dẫn từ 1 sự tình cờ bởi 1 sự kiện khách quan, bài viết này ra đời trên cơ sở nghiên cứu có sự đính hướng của 1 ý đồ tập hợp Tôn giáo, cải đạo rất nguy hiểm, hay ít ra cũng là hưởng ứng lời kêu gọi Liên tôn chống Cộng đặt mọi tôn giáo khác dưới trướng của Vatican, do giáo hoàng J.Paul đệ nhị khởi xướng.

    Vì vậy thiếu thuyết phục khi đánh đồng những điểm giống nhau về ngữ nghĩa, nhưng xét góc độ NGỘ thì hoàn toàn sai.

    -Thái tử Tất Đạt Đa kiếp trước là người ở cung trời Đâu Xuất, mà trời trong đạo Phật có nhiều trời ; vẫn là vòng sanh diệt, chưa phải là Niết bàn. Giải thoát không phải chỉ là Trời, mà là Niết bàn.

    -Đức Phật trước chưa ngộ đạo khi tu theo các phương pháp tu khác, sau tu Thiền 49 ngày đắc đạo. Những pháp môn khác ngài truyền giảng là tuỳ vào căn cơ, hoàn cảnh, văn hoá của từng vùng miền…. Như vậy, Thiền là 1 pháp môn của Phật, không phải là Trung Hoa.

    -Một người qua sông lên bờ thì ướt, lội qua đầm lầy thì bùn, qua cánh đồng thì thơm hương lúa, nhưng người đó vẫn là người đó.

    Đạo Phật cũng vậy, khế lý khế cơ, qua Trung Hoa hoà đồng với Văn hoá Trung Hoa, qua Giao Châu thì đổi màu mang sắc thái Việt ( Pháp Vân, Pháp Vũ ….vì người Việt cổ thờ hiện tượng thiên nhiên ), nhưng đạo Phật vẫn là đạo Phật.

    Lục tổ Huệ Năng là người cuối cùng được truyền bình bát của Đức Phật, sau không truyền cho ai, như vậy Lục tổ là chính Tông, và là Thiền tông.

    Thiền có mặt khắp nhiều tông phái của Đạo Phật chứ không riêng Thiền, trừ bọn đầu trọc mượn danh Phật để kinh doanh chính trị tự nhận là Thiền đích thực.

    – Đạo Do thái, Thiên Chúa, Hồi, Chính thống, Tin lành không công nhận thuyết đầu thai như Ấn giáo, Phật giáo ; tin vào CẦU NGUYỆN và PHÓ THÁC, mà Phật chỉ tin ở nội lực tự tâm.

    Tin rằng từ khi sinh ra, được làm các lễ Thánh, tin và cầu nguyện Chúa thì sẽ lên Thiên đàng ngay sau khi chết ( 1phát ăn ngay ), đạo Phật thì không, cho là phải có quá trình vô lượng kiếp.

1 2 3 … 7
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>