talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa

07/05/2010 | 2:37 chiều | 94 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Tôn giáo
Thẻ: >

Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi. Phần lớn những phản hồi này (hơn 200 bài /12 bài) chỉ lặp đi lặp lại ý kiến của vài độc giả về một vài ý niệm của đạo Phật Đại thừa như Vô minh, Vô thức, Vô ngã… hiểu theo chữ Hán, lại mang nhiều tính cách tranh cãi cá nhân, trở thành lạc đề, không giúp ích gì cho những độc giả muốn hiểu biết đạo Phật một cách sâu rộng và chín chắn.

Tôi xin nhắc lại là đạo Phật Đại thừa vào Trung Quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên nhưng lần lần bị Hán hoá khi phải pha trộn với đạo Lão, đạo Khổng. Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế  kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Ra đời một ngàn năm sau đạo Phật Nguyên thủy (khi Phật còn tại thế), Thiền Trung Quốc chỉ còn giữ lại một vài ý niệm triết  học của Phật giáo hiểu theo nghĩa Trung Quốc. Mang sắc thái Trung Quốc, Thiền đạo đã chói sáng trong 2 thế kỷ thứ VII, thứ VIII và trở thành gần như là đại diện duy nhất của Phật giáo Trung Quốc.

Để chứng dẫn, tôi xin kể lại là nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus: “Thiền tông có người cha  Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn  hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.

Thiền đạo vào Việt Nam dưới đô hộ Tàu rất sớm (594?) và giữ nguyên tính cách Thiền Tàu, khác với Cao Ly và Nhật Bản: Khi tới Cao Ly thế kỷ thứ IX, tự sáp nhập vào Phật giáo Cao Ly có từ thế kỷ thứ IV. Thế kỷ thứ XII-XIII, thiền sư Nhật Dogen (Đạo Nguyên) phổ biến thiền Tào động dưới  hình thức Toạ thiền (Zazen).

Thiền đạo với đặc thái Trung Quốc mất dần tính cách đạo giáo theo đúng nghĩa của nó và trở thành một nền triết lí, một nhân sinh quan, một lối tu không tùy thuộc nơi chốn (tu tại gia). Đạo Phật chính thống nay gọi là Nguyên thủy, là đạo Phật ở những nước mà 90% người dân là Phật tử  như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào. Nguồn gốc của đạo Phật là Ấn giáo Vệ đà.  Vì vậy muốn hiểu thấu đáo những ý niệm của đạo Phật bắt buộc phải hiểu theo nghĩa trong kinh Vệ đà của Ấn giáo.

Tôi xin chia bài trình bày dưới đây làm 3 phần:

1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.

2. Lí do Phật tách khỏi Bà La môn giáo.

3. Ý niệm Chúa Sáng tạo của đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của Ấn giáo Vệ đà.

1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo

Ấn Độ, dịch từ chữ Ba Tư Hindu, chỉ sông Indus mà tiếng Phạn gọi là Sindhu, đất 7 nhánh sông (Sapta Sindhu), của người Aryens (phiên âm chữ Hán là Nhã lộ an) mà Đức Quốc Xã  cũng như người Ba Tư (Iran), đều coi là thủy tổ. Đây cũng là một điểm rất quan trọng giải thích một phần nào nguồn gốc chủng tộc, tiếng nói, văn hoá, đạo giáo của người Âu Châu.

Ấn giáo là đạo cổ xưa nhất của Ấn Độ. Gọi theo tiếng Phạn là Sanatana dharma (Pháp trường tồn) hay “Trật tự vũ trụ trường tồn”. Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống, một lối suy nghĩ dựa trên Vệ đà Thiên thư (Rig Veda). Nền tảng của Ấn giáo là kinh Vệ đà nên cũng được gọi là Vệ đà giáo. “Trật tự vũ trụ” trong Vệ đà giáo có lẽ đã gợi cho Einstein ý tưởng về đạo Vũ trụ (Religion Cosmique với nghĩa Kosmos là Trật tự trong tiếng Hi Lạp).

Ấn Độ giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa.

Đây là định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966:

1) Chấp nhận những ý niệm Vệ Đà là thẩm quyền cao hơn hết trong mọi lãnh vực đạo giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ.

2) Phải có óc khoan dung và thiện tâm thiện ý vì Sự thật có nhiều hình thức biểu lộ.

3) Chấp nhận 6 hệ thống (Lục hệ) trong triết học Ấn Độ và nhịp điệu thế giới diễn tiến theo nhiều chu kỳ gọi là du già (yuga). Mỗi chu kỳ qua từng thời, sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt, tiếp nối nhau không bao giờ ngừng (luân hồi).

4) Chấp nhận sự tin tưởng là có tái sinh và có đời sống trước.

5) Công nhận là có rất nhiều phương cách đi đến giải thoát (Moksha).

Căn bản của Ấn giáo là kinh Vệ đà được truyền khẩu từ 5000 năm cho tới 1500 năm trCN. Theo truyền thuyết, Brahman (Phạm Thiên, Chân Như) đã thần khải Kinh Vệ đà cho các vị hiền giả (Rishi). Trời trong Vệ đà Thiên thư là Brahman, Đấng Tuyệt đối tạo ra vạn vật.

Hai ý niệm nòng cốt của Ấn giáo cổ xưa (thời kỳ Vệ đà giáo) là:

1. Đại ngã (ParamAtman) Brahman: là Một, là Hiện thực duy nhất, là Linh hồn tuyệt đối của vũ trụ, là Tuyệt đối, Siêu nghiệm, Bất biến, Vô hình thể, Trường tồn, Vĩnh hằng, Quán thông mọi chuyện, có mặt mọi nơi chốn, là nguyên lí của vũ trụ không có khởi đầu không có tận cùng. Là Sự Thật tuyệt đối, thế giới chỉ là hư huyền.

2. Tiểu ngã (atman), một phần đồng nhất của Bản thể Brahman. Không có linh hồn cá biệt phải được hiểu là sau vòng luân hồi tiểu ngã sẽ trở về đồng nhất với Bản Ngã Brahman.

2. Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn

– Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như

Để trả lời các giáo sĩ Bà La môn muốn chỉ trích Phật là không biết Trời, Phật dạy “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”

Sở dĩ Phật ít nhắc tới Brahman là vì Phật muốn mọi người hiểu Brahman theo nghĩa Vệ đà kinh để xa lánh các giáo sĩ Bà La môn đã phân Brahman ra làm 33 vị thần mà 3 vị thần chính là Brahma, Visnou và Shiva, để lôi kéo tín đồ đem lợi lộc và đặc quyền thờ phụng cho đẳng cấp Bà la môn. Tôi cũng xin nhắc lại là Bà la môn giáo chỉ ra đời trước Phật chừng khoảng 100 năm (thế kỷ thứ VI-V trCN).

Phải hiểu là khi Phật dạy “sinh ra từ Niết bàn” chứ không phải “ở” Niết bàn là Phật có ý nói Niết Bàn không phải là nơi chốn mà Niết Bàn cũng là Chân Như: Niết bàn không thể là nơi chốn được vì Chân Như, Đấng Vĩnh hằng ở ngoài không gian và thời gian, hiện diện khắp mọi nơi.

Hiểu theo đạo Phật Nguyên thủy Chân Như, Niết Bàn, Phật tính, chỉ là Một.

– Đạo Phật Nguyên thủy không phủ nhận ý niệm tiểu ngã của kinh Vệ đà:

Đạo Phật cấm sát sinh vì mọi sinh vật đều là anh em cả, đều mang trong mình tiểu ngã (soi, self, selbst) một phần của Đại Ngã (le Soi). Ý niệm “tiểu ngã” cũng là ý niệm về phần Phật tính bất biến trong mỗi sinh linh, sợi dây kết tụ nghiệp quả của mỗi sinh linh qua vòng luân hồi để trở về với Bản thể Phật tính hay Đại Ngã Chân Như (Atman, Brahman). Theo trường phái triết học Vệ đà Vedanta, tiểu ngã là nguyên lí tự tại, siêu nghiệm (principe  immanent et transcendant) độc nhất của mỗi sinh linh đi từ kiếp này qua kiếp khác. Theo định nghĩa  này, tiểu ngã có thể được hiểu là sinh linh mỗi con người trong vòng luân hồi trước khi nhập vào Đại Ngã hay Vô ngã (cái Ngã chân thật, không riêng biệt). Tiểu ngã khác với “cái tôi” (le moi) mà nhiều triết gia Tây phương cũng coi là không có thực chất, phiến diện, hay thay đổi (vô thường) vì phụ thuộc vào những trạng thái tâm lí, cảm xúc, hoàn cảnh và sự vật.

Bản thể Phật tính cũng là Bản thể Brahman nên có sự nhất tính giữa Phật và chúng sinh như băng đá với nước trong thuyết “Vạn vật đồng nhất thể” của Ấn giáo.

Tôi cũng xin nhắc lại là Hội Nghị Phật giáo thế giới năm 1956 công nhận đạo Phật Tiểu thừa là thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy và như vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.

3. Có thể suy luận là những ý niệm về Trời Sáng tạo của các đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của kinh Vệ đà

Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) ít nhất là 1000 năm, nên có thể coi Ấn Độ giáo là đạo xưa nhất.

Ý niệm Trời Brahman cũng là ý niệm Trời (Éternel) trong Thánh kinh (Bible) của Do Thái giáo. Đứng về phương diện lịch sử, Ki tô giáo và Hồi giáo cùng tin ở Thánh kinh, nên có thể coi 2 đạo này chỉ là tông phái của một đạo Thiên Chúa duy nhất là Do Thái giáo. Brahman, Jehovah, Phạm Thiên, Chân Như, Chúa, Allah… chỉ là cách gọi Trời khác nhau.

Theo cuốn Giáo lí (Catéchisme) được soạn thảo sau Hội nghị các giám mục toàn thế giới kỳ 2, Công giáo định nghĩa về Trời như sau: “Trời là Nguyên nhân đầu tiên Tự tạo, Tự tại, Tự tồn tạo ra không gian thời gian nên lúc nào, chỗ nào cũng có Trời (Dieu est universel).” Như vậy Trời cũng là Thiên Đàng và trở về Thiên Đàng là trở về Tình yêu của Chúa, trở về Lòng Chúa như những người Ki Tô giáo mong ước, và cũng là mong ước của những người Phật tử muốn được giải thoát khỏi vòng luân hồi để trở về Niết Bàn hay Bản thể Phật tính Từ bi hỉ xả vậy. Brahman vô hình vô thể nhưng cũng có thể biểu hiện dưới hình thức một Trời có ngã vị (un dieu personnel) gọi là Ishvara và sau này trong Bà La môn giáo, dưới biểu hiện Brahma, Visnou, Shiva mà theo Dumézil (1898-1986), đó cũng là biểu hiện Tam thể Trimourti, trong Ấn Độ giáo, “Ba thân” trong đạo Phật, “Ba Ngôi” (Trinity) trong Ki Tô giáo.

Trong cuốn Sáng tạo và giao lưu, do nhà xuất bản Giáo dục in tháng 12- 2007, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư, tác giả nhiều bài tham luận về văn học và về nhà khoa học nhân văn Nga Bakhtin đăng trên talawas bộ cũ, người mới được giải thưởng Phan Châu Trinh về dịch thuật, có nói nhiều về luận thuyết Thần – Nhân loại (Divino-Humanité, Théandricité) của nhà hiền triết Nga Vladimir Solowiev (1853-1900). Nhà thần học Kitô giáo và hiền triết lớn nhất nước Nga này bị quên lãng dưới thời cộng sản Liên Xô, nay là niềm tự hào của nước Nga trên trường quốc tế. Những trước tác của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt của Phạm Vĩnh Cư. Tôi xin nói qua về quan niệm Thiên Chúa của Solowiev qua cuốn sách của Phạm Vĩnh Cư:

Theo thuyết Thần-Nhân loại của Solowiev, Chúa Trời sáng tạo tất cả để cuối cùng vì Tình yêu, hoá thần tất cả khiến thế giới trở thành một tha thể (thể khác) của Thiên Chúa mà không có nó thì Chúa không tồn tại vì Chúa sống trong nó và vì nó. Không còn sự khác biệt ngay cả về bản chất giữa Đấng Sáng tạo với tạo vật đồng nhất thể với Chúa (vsejedinstvo, tiếng Nga), khiến Tạo hoá và tạo vật không còn là hai bản thể riêng biệt như theo thuyết nhị nguyên luận của Descartes: bản thể quảng tính (Res extensia) vật chất và bản thể tư duy (Res cogitans) tinh thần. Quan niệm của Solowiev về Chúa, Đấng Sáng tạo vì tình yêu này tương đồng với quan niệm Đấng Tuyệt đối Brahman “Vạn vật đồng nhất thể” trong Ấn Độ giáo, nên Solowiev hồi ấy bị những người Ki tô giáo đạo Chính Thống (orthodoxes) trách cứ là sa vào thuyết Phiếm thần (Panthéisme) và cùng một tư tưởng với Spinoza (1632 – 1677), người đã đồng nhất Thượng đế với thiên nhiên. Những người này đã tỏ ra không hiểu “Thần – Nhân” là giáo thuyết đẹp nhất trong Ki Tô giáo: Giêsu Kitô con của Chúa Trời đã nhập thể thành người để chuộc tội cho loài người. Đó cũng là ý tưởng Bồ Tát trong đạo Phật.

Trong cuốn sách tiếng Anh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Living Buddha, living Christ dịch tiếng Việt là Bụt trong ta, Chúa trong ta do nhà xuất bản Riverhead Booking in năm 1995, thày Thích Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm với Solowiev là Trời, Phật ở trong ta: “Chúa Ki Tô vừa là con Trời vừa là con Người (Le fils de l’homme) và Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bất nhị nên con người cũng là một với Thượng đế… Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như và sẽ quy về với Chân Như.”

Khi Solowiev phân tích phạm trù “Cái Tuyệt đối” (Thiên Chúa), ông xác định ý niệm “hư không” trong đạo Phật: “Cái Tuyệt đối vừa là cái thoát li mọi thứ, lại vừa là cái mang mọi thứ trong mình. Nó vừa là cái tịnh không, vừa là hữu thể viên mãn nhất, hoàn bị nhất, toàn vẹn nhất… Nó là thể thống nhất của mình với cái phủ định mình“.

Ý niệm “Vô Ngã” trong đạo Phật cũng được Solowiev hiểu theo nghĩa Siêu Ngã để nói về bản tính Chúa Trời: “Ngài là Sinh linh Siêu Ngã vừa là mình lại vừa là tất cả… Là Một – và – Tất cả”. Ý niệm Siêu Ngã này làm cho ta hiểu ý niệm Tam vị Nhất thể (Trinité) trong Ki Tô giáo.

Vòng sinh tử trong đạo Phật là nghĩa sự phục sinh của Chúa Ki Tô cứu rỗi loài người  thông qua cái chết: Chúa phục sinh là cái hứa hẹn và bảo đảm sự tái sinh của nhân loại trong sự sống hoàn toàn bất tử.

Kết luận

Sự tin tưởng vào một Sinh linh tối cao đều có trong mỗi con người và nằm ở tầng sâu nhất của tâm thức. Đấng sinh linh Tối cao biểu hiện trong các đạo giáo dưới những hình thức khác nhau hay được hiểu khác nhau nhưng tựu chung vẫn chỉ là Một. Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.

Theo kinh sách Vệ đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật. Những người Ki tô giáo đích thực cũng cùng một quan điểm: Giáo hoàng Jean Paul II đã luôn mở cửa nhà thờ mời Đức Đạt lai Lạt ma làm lễ. Có 84 ngàn pháp môn nên những người không theo đạo nào cả cũng có thể mở một cánh cửa đi tới Trời.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

94 Comments (bài “Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa”)

  1. luanle viết:

    Trích từ phản hồi bác Kim Sinh :
    “… hai từ “nhận thức” và “hiểu” của bác tôi viết in lên để nhấn mạnh. Có nghĩa là theo bác: sự giác ngộ của Phật giáo chỉ là vấn đề nhận thức đúng, hiểu đúng bản chất sự vật ?
    Theo tôi không phải vậy. Nhà thiền có câu ” Tri kiến lập tri tức vô minh bổn” Lấy cái nhận thức, hiểu biết mà lập nên cái hiểu biết tức là gốc vô minh !
    Nếu nó không phải là sự nhận thức thì nó là cái gì ?
    Tui bảo đảm ở đây không có ai trả lời được câu hỏi này.”

    Luanle : Bác Kim Sinh đặt ra một câu đố vui để học khá hấp dẫn, tôi xin xung phong thử trả lời trước nhé. Tôi nghĩ nó là cái ‘Ngũ uẩn giai không’ đó bác à. Tôi cũng xin nói rỏ là tôi không biết cái ‘Ngũ uẩn giai không’ này nó ra làm sao, tròn hay méo, tôi biết chắc nó không phải là sự nhận thức như đã nói, nhưng mà nó phá được cái gốc Vô Minh và giải trừ được mọi đau khổ trên thế gian, bởi vì ai đã từng đọc Tâm Kinh thì cũng biết như vậy : ‘Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách’. Có đúng không hở bác KS ?

  2. Trần Lâm viết:

    Nguyen Mai Linh viết:

    “Giá trị của ba mươi đồng bạc, vào thời đó, chắc cũng có thể tương đương với ba triệu đồng Việt Nam thời 1963, sử dụng để các tướng lãnh chia nhau, về khoản thù lao sau đảo chánh từ tay Lucien Conein, để bán đứng và giết chết vị tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm.”

    Chuyện 3 triệu đồng Việt Nam nói trên là chuyện thường được nhắc đến. Điều ít khi được chú ý là việc chính người Mỹ cũng đã từng cấp hàng triệu dollars cho những kẻ có thế lực tại Miền Nam để cũng cố vị thế của ông Diệm trong gia đoạn phôi thai của chế độ do ông lãnh đạo. Vậy xin được chia sẻ với bạn đọc bốn phương sự kiện thường bị bỏ quên này.

    Trong bài phê bình cuốn “In the Midst of War” do tướng E. Lansdale viết, David Chandler cho chúng ta biết việc Mỹ chi dollars như sau, khi Chandler ám chỉ Lansdale đã thiếu thành thật:

    “In ‘The Two Vietnams’, Bernard Fall quotes Lansdale as saying that over 8 millions dollars went to the sect leaders in ‘back pay’ to purchase their loyalty to Diem; in ‘In the Midst of War’, no money changes hands.”

    Nguyễn Kỳ Phong cũng có nói đến việc này. Xem Nguyễn Kỳ Phong, “Vũng Lầy của Bạch Ốc”, Tiếng Quê Hương, 2006, trang 120 và túc chú 115 ở trang 120-121:

    “Theo ước lượng, SMM [Saigon Military Mission, nhóm tình báo của Lansdale] bỏ ra 12 triệu dollars mua chuộc đối lập, trong đó có 3 triệu 6 cho tướng Nguyễn Thành Phương và 3 triệu cho Trần Văn Soái…Năm 1979, Lansdale gửi thư cho Viện Quân Sử Hoa Kỳ chối về chuyện mua chuộc quân đội đối lập. Tuy nhiên nhiều sử liệu sau này cho thấy Lansdale không nói thật hết những gì đã xảy ra.”

    Điều này đặt ra câu hỏi: Liệu chế độ Ngô Đình Diệm có thể vượt qua giai đoạn phôi thai đầy nguy hiểm của nó hay không, nếu không có người Mỹ chi tiền mua lòng trung thành của những thành phần có thế lực tại miền Nam lúc đó?

  3. nguyen mai linh viết:

    @Trích từ bài phản hồi của bác Trung Thứ
    Niềm tin là tự nguyện, không kẻ nào có thể bắt ép kẻ khác „phải tin“. Nếu niềm tin chỉ là sự dối lòng thì chẳng ai điên rồ lại tự dối gạt mình suốt cả cuộc đời như thế. Và, khi nói người ta tin cái gì, tin vào ai thì cũng phải có sở nào đó, không ai nhắm mắt tin liều đâu (Ngưng trích)

    Theo tôi thì niềm tin là cơ sở căn bản nhất trong tín lý Thiên Chúa giáo. Nhưng nếu đã tin thì có những điều cũng phải tin liều chứ bác, chứ nếu thấy mới tin thì chắc lòng tin còn non yếu hoặc là quen với lối kiểm chứng thời hiện đại. Tuy nhiên, để kiểm chứng những điều xảy ra cách đây hơn 2000 năm, thì chắc cũng khó phải không bác. Theo thiển nghỉ của tôi, thì những ai đã trót sinh ra trong trần gian này, đều mang bản thể con người, và những điều giảng dạy của họ, chỉ để nhằm giúp cho con người hướng tới cái chân thiện mỹ hay đạt tới giác ngộ mà sống ở đời cho phải đạo làm người. Tuy vậy, đôi khi nhìn bầu trời và hướng về vũ trụ bao la thì mới thấy con người nhỏ bé và thấp hèn của mình, cùng với những cái hạn chế của thế gian này.

  4. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Truong Nu Hoang viết: ” …có bác cho rằng Đức Phật nói “49 năm ta không nói lời nào” là không xác đáng, lại còn thêm: nếu thời đó có máy ghi âm thì… vv và vv… nghe có vẻ lạc điệu”.

    Câu “Đức Phật nói “49 năm ta không nói lời nào”” đã được dẫn ở đây quá nhiều, đến mức như “lạm phát”, dễ làm sai lạc ý nghĩa câu nói khi ra ngoài ngữ cảnh.

    Tôi hiểu câu này từ kinh Đại Thừa, là lời Phật dạy các đại đệ tử, những người đã trải qua nhiều công phu tu hành, và muốn khuyên họ đừng chấp nê vào ngôn từ, đừng ôm chặt những gì đã nghe, cho là đã biết, nhưng phải vượt qua những cách nói ước lệ để nắm bắt những ý tưởng vi diệu mà ngôn từ không thể diễn đạt. Suốt cả đời Thích Ca tuy nói đã nhiều, nhưng thật ra không thể nói đến ý nghĩa rốt ráo của đạo Pháp, đến thị kiến, nhận thức nằm ngoài khả năng truyền đạt của ngôn ngữ, biểu tượng, khái niệm thông thường. Tóm lại, họ đừng tưởng nghe hiểu hết lời Phật đã thuyết, và kinh cũng chưa chắc chép đúng hết ý Phật muốn dạy. Nhưng không thể dựa vào câu nói dẫn trên mà cực đoan xóa bỏ hết lời kinh Phật.

    Ở chỗ khác, trong kinh Nam Tông thấy chép chuyện một hôm Phật bứt một nắm lá cây sala ở ven rừng, đưa lên hỏi các đệ tử: “Lá trong tay ta nhiều hay lá rừng nhiều?” Các đệ tử thưa: Lá rừng nhiều hơn lá trong bàn tay thầy”. Phật nói: “Cũng giống như thế, những điều ta giảng dạy chỉ như số lá trong bàn tay này, còn Phật pháp thì mênh mông, nhiều như lá rừng” (Tôi ghi lại theo trí nhớ, không theo nguyên văn kinh). Cũng là cảnh giác để giúp nhận ra Phật không thể giảng dạy hết những gì ngài sở đắc khi thành đạo, và đừng tưởng đọc hết kinh Phât là hiểu hết Phật pháp. Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói ngài ra đời vì một nhân duyên lớn, và mục đích là để “Khai, Thị, Ngộ , Nhập”, nghĩa là mở rộng, chỉ bày cho chúng sinh hiểu thấu, đi sâu vào chân lý giải thoát.

    Lời kinh Phât chưa phải là chân lý, mà chân lý nằm ở ý nghĩa sâu kín ẩn tàng bên trong lời. Cho nên có câu “đọc kinh cầu lý”, không phải chỉ học thuộc, nhớ nhiều, và cũng có lới khuyên “Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan”, nghĩa: nếu (chỉ) dựa vào lời kinh mà giải thích ý nghĩa Pháp, thì oan cho chư Phật ba đời.

    Nhân đây, nhắc lại chuyện văn thơ có chút gần gũi. Nguyễn Du trong lần đi sứ nhà Thanh, khi đến đài Phân kinh xây từ đời Lương, ông dừng lại xem cảnh đài chứa kinh lúc đó đã đổ nát, và xúc cảm làm bài thơ khá dài, chỉ trích vài câu cuối:

    Ngã độc Kim Cang thiên biến linh
    Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh
    Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ
    Tài tri vô tự thị chân kinh.

    (Tạm dịch nghĩa: Ta đọc kinh Kim Cang hơn ngàn lượt, những ý nghĩa sâu kín trong kinh phần nhiều ta không hiểu rõ. Đến hôm nay tới đài Phân kinh này mới biết rằng kinh Vô Tự mới chính là chân kinh).

    Kinh Vô Tự (không chữ) là muốn nói kinh chứa đựng chân lý tuyệt đối cao siêu mà ngôn ngữ không thể diễn tả nổi, văn tự không thể ghi chép được. Và đó mới là kinh của chánh Pháp. Có lẽ Nguyễn Du mượn cái từ “kinh Vô tự” ở truyện Tây Du. Theo truyện này viết, Phật Tổ, hay ngài A-Nan, ban đầu trao cho Huyền Trang bộ kinh Vô Tự, nhưng khi biết vậy, Huyền Trang xin Phật cho đổi lấy kinh có chữ viết để dễ đọc hiểu (và do đó không hiểu thấu được nghĩa lý siêu tuyệt của Phât pháp mà Như Lai muốn trao truyền). Ở đây ai cũng biết Tây Du là truyện hư cấu, chỉ có chút liên tưởng về từ ngữ: Phật vô ngôn và kinh vô tự.

  5. Kim Sinh viết:

    Bác Trung Nu Hoang nói: “mọi khổ đau trên đời đều do cái gốc Vô Minh (ngu dốt) nên đã NHẬN THỨC sai lạc về “bản chất” của sự vật. Bởi vậy, HIỂU đúng “bản chất” (Tánh) của mọi sự, mọi vật thì vượt khỏi mọi khổ đau triền miên từ kiếp này qua kiếp khác (độ nhất thiêt khổ ách @ Bát nhã Tâm kinh).

    KIM SINH: hai từ “nhận thức” và “hiểu” của bác tôi viết in lên để nhấn mạnh. Có nghĩa là theo bác: sự giác ngộ của Phật giáo chỉ là vấn đề nhận thức đúng, hiểu đúng bản chất sự vật ?
    Theo tôi không phải vậy. Nhà thiền có câu ” Tri kiến lập tri tức vô minh bổn” Lấy cái nhận thức, hiểu biết mà lập nên cái hiểu biết tức là gốc vô minh !
    Nếu nó không phải là sự nhận thức thì nó là cái gì ?
    Tui bảo đảm ở đây không có ai trả lời được câu hỏi này 🙂

  6. nguyen mai linh viết:

    @Trích từ phản hồi của bác Trung Thứ
    – Theo tôi, Giuđa không phải vì 30 đồng bạc mà phản Chúa. Anh ta là một kẻ yêu dân tộc, muốn giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của La Mã. Và, Giuđa biết rõ về Chúa nhưng thấy Chúa chẳng chịu làm gì hơn với ba phép lạ lẻ tẻ, cùng với việc suốt ngày giao du với bọn thu thuế, kẻ tội lỗi. Việc Giu-đa nộp Chúa cũng chỉ là mưu chước ép Chúa phải tỏ mình, ra tay giải phóng dân Israel khỏi ách đô hộ ngoại bang theo quan niệm của ông ta mà thôi. (Ngưng trích)

    Bác Trung Thứ chắc đã biết qua về Phúc âm của Giuđa, nên có thể có những suy nghĩ thật độc lập như thế. Tuy nhiên, theo thiển ý của nhà cháu, thời nào cũng có những người tham danh hám lợi, lớn hay nhỏ, ít hay nhiều. Thử điểm qua một vài sự kiện mà nhà cháu đã thấy qua cho bác thử xem nhé. Để thấy sự kiện Giuđa bán Chúa theo động cơ nào?

    Giá trị của ba mươi đồng bạc, vào thời đó, chắc cũng có thể tương đương với ba triệu đồng Việt Nam thời 1963, sử dụng để các tướng lãnh chia nhau, về khoản thù lao sau đảo chánh từ tay Lucien Conein, để bán đứng và giết chết vị tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm. Và số tiền ba mươi đồng bạc đó, chắc cũng tương đương tiền lót tay với các vị lãnh đạo Việt Nam hiện nay nhận từ Trung Cộng, trong việc im lặng về những lộng hành quá quắt, đối với đất nước và dân tộc Việt Nam bây giờ.

    Cả ba sự kiện trên, đều liên quan đến máu của người vô tội, trực tiếp hay gián tiếp. Tuy nhiên, hai sự kiện đầu thì có những cuốn hồi ký cải chính của người trong cuộc, còn sự kiện sau cùng thì người trong cuộc dửng dưng, trước máu đổ của những người anh em ruột thịt

  7. Lê Quốc Trinh viết:

    Mục đàm luận về Đạo Phật này đã kéo dài hơn một tuần lễ với số lượng tham gia đông đảo (hơn 50 bài phản hồi) khá phong phú và đa dạng, tôi rất vui khi tham dự trong bầu không khí cởi mở và văn hoá như vậy.

    Tuy nhiên cho đến giờ, vẫn chưa thấy ông chủ sự Phong Uyên lên tiếng, ít ra để giải thích xem ông định nghĩa danh tự PHẬT ra sao khi ông cầm bút viết một bài chủ đề dài tràng giang đại hải chứa chất khá nhiều chi tiết mâu thuẫn và mù mờ, khiến cho mọi người phải lên tiếng phê phán.

    Tôi mong chờ phản hồi của ông Phong Uyên trên topic Đạo Phật này, cũng như chờ đợi câu trả lời của ông Nguyễn Hữu Liêm trong bài viết về “Vụ án chất độc da cam”.

  8. Trung Nu Hoang viết:

    Đề tài về Phật giáo (như bài này) hoặc liên quan đến đạo Phật (như chùm ảnh chùa Bái Đính) đã thu hút nhiều sự chú ý với nhiều PH sôi nổi, biến cuộc thảo luận thành .. tranh luận. Cũng nhờ vậy, nó đã tạo nên không khí hào hứng đối với một số khá đông bạn đọc. Muốn làm khách bàng quan theo dõi cuộc tranh luận, nhưng rốt cuộc rồi cũng bị cuốn hút vào cuộc “loạn bàn” này. Âu cũng là duyên, là dục (nghiệp) vậy.
    Trước hết, theo tôi nghĩ, lời một bậc đại trí như Đức Phật nói thường là cao thâm, sâu kín không thể và chẳng nên hiểu theo nghĩa “đen thui” mà những kẻ thiểu đức, trí đoản (như chúng ta, các chúng sinh thời mạt thế này) thường đem ra luận bàn, phê phán. Đừng vội trách mặt trời sao không sáng mà hãy xem lại đôi mắt của chính mình có “vấn đề” không? Kinh Phật thường nhắc nhỡ : “Theo nghĩa mà hiểu kinh, đừng y theo chữ” và: “Y theo Trí đừng theo thức” (cái biết thế gian). Ngôn ngữ của thế gian không thể diễn tả được Chân Lý vốn vượt khỏi bình diện của ý thức. Loài cá chỉ sống dưới nước, làm chi biết được chuyện trên cạn như rùa – biết cả hai – ?
    Nói chuyện gần gũi hơn, như những ca từ đẹp đẽ, đầy biểu tượng của Trịnh Công Sơn mà dùng ý tưởng loại “dùi đục chấm mắm nêm” để phê phán: cái gì mà lại “Hàng Cây Thắp Nến”, sao lại có thứ “Mưa Hồng” … thì xin vui lòng mời đến chiếu khác để chung vui, có lẽ sẽ hợp khẩu vị hơn. Những lời này, tôi xin gửi đến quý bác rất sắc bén khi bàn những vấn đề.. chính trị, kinh tế nhưng vì ít có duyên tìm hiểu đạo lý Phật nên có bác cho rằng Đức Phật nói “49 năm ta không nói lời nào” là không xác đáng, lại còn thêm: nếu thời đó có máy ghi âm thì… vv và vv… nghe có vẻ lạc điệu.
    Bởi vậy thường nghe nói, chỉ Phật mới “hiểu” được Phật. Các bậc dù đã tu chứng cao, nhưng chưa đạt tới chỗ rốt ráo như Phật, cũng chưa hiểu được Phật. Điều này xét cũng phải thôi. Radio tần số thấp không thể nghe được các đài có tần số cao, cũng như không có khả năng bắt được hình ảnh phát ra từ các đài Tivi.
    Sau nhiều năm tìm đạo, Đức Phật ngộ ra rằng tất cả mọi loài chúng sinh đều khổ và mong muốn hết khổ, được hạnh phúc. Giải quyết cái KHỔ không phụ thuộc vào vấn đề con người có là “vật tạo sinh” của Thượng đế, Trời, Jehovah, hay Allah, hoặc Phạm Thiên hay không, mà chính ở tự thân mỗi người, và rằng mọi khổ đau trên đời đều do cái gốc Vô Minh (ngu dốt) nên đã nhận thức sai lạc về “bản chất” của sự vật. Bởi vậy, hiểu đúng “bản chất” (Tánh) của mọi sự, mọi vật thì vượt khỏi mọi khổ đau triền miên từ kiếp này qua kiếp khác (độ nhất thiêt khổ ách @ Bát nhã Tâm kinh).
    * Phật Học Tinh Hoa của Thu Giang Nguyễn Duy Cần có nêu ví dụ người đi đường trong đêm tối lờ mờ, thấy đoạn dây thừng nằm ngang giữa đường ngỡ là rắn, sợ quá nên lớn tiếng kêu làng xóm đập rắn. Khi đuốc sáng được mang ra (dụ cho Bát nhã trí), thì thấy rõ chỉ là đoạn dây thừng. Mọi lo sợ chấm dứt ngay lập tức, vừa khi nhìn thấy rõ bản chất sự vật. Vì vậy theo đạo Phật, cần thấy sự vật như “Nó Là” (Như Thị), không bị méo mó, biến dạng bởi lăng kính “ngã chấp”, với si mê, lầm lạc … do tập quán qua nhiều đời kiếp un đúc mà hình thành.
    * Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói về bậc đạt đạo như sau:
    “Phàm phu đang sống sợ chết, vừa no lo đói, mê hoặc làm sao. Còn những người đích thực là Người – những bậc chí nhân – chẳng tính việc trước, chẳng lo việc sau, chẳng náo động ở hiện tại nên không lúc nào là chẳng thuận đạo” (Sáu Cửa Thiền Thất – Trúc Thiên dịch, PHV). Cũng có nghĩa là bậc đạt đạo thì sạch hết lo âu, phiền não, đau khổ. Chữ Phật trong hán tự cũng có nghĩa là người đã rủ sạch phiền não.
    Để được cái thấy biết như vậy, phải trải qua nhiều công năng tu tập gian khổ, chứ không phải lý thuyết suông mà được.
    Bởi vậy, đạt Trí Tuệ rốt ráo là mục đích cốt tử của sự tu chứng theo đạo lý Phật, đồng thời chấm dứt vĩnh viễn mọi khổ đau. Có thể nói mà không sợ lầm lẫn: cốt tủy của đạo Phật nằm ở 2 chữ Trí Tuệ và Từ Bi. Trí Tuệ giúp soi sáng để thấy rõ bản chất sự việc và chấm dứt mọi khổ đau. Từ Bi để đem thương yêu, an vui hạnh phúc cho người khác cũng được như mình (tự giác, giác tha). Tuy chia làm hai mà thực ra chỉ là một như 2 mặt của đồng xu; tức là Trí Tuệ bao gồm cả Từ Bi và ngược lại, bởi lẽ một người có Trí Tuệ theo đạo lý Phật thì không thể hành xử thiếu Từ Bi.
    Thêm một kẻ mù sờ voi, cùng với các bác… trong diễn đàn cho “xôm” thôi!

  9. Trung Thứ viết:

    @ Bác Trương Đức viết: „trong đạo Thiên Chúa giáo: Kinh Thánh “phán”: mọi con người vừa sinh ra là đã mang trên mình “tội lỗi” rồi, đó là cái “tội lỗi nguồn gốc”, và Chúa Giê-su đã phải chết trên Thập tự giá để “rửa tội” cho nhân loại. Tôi lại nghĩ: Chúa Giê-su đã “rửa tội” cho nhân loại rồi thì con người vừa sinh ra còn “mắc” cái tội gì ở đây nữa hè? Rồi tiếp nữa: chưa kể là trong quá trình sống, phải tin vào Chúa, mở lòng đón Chúa thì mới được “lên Thiên Đàng”. Vậy thì tại sao con người chúng ta sinh ra phải sống thêm mấy chục năm nữa làm gì cơ chứ? Sao không “một phát ăn ngay”, chết ngay đi cho rồi (hay đừng „đầu thai làm người” nữa!) để “lên Thiên Đàng” luôn có phải „tiện lợi” hơn không? Và như thế, đời người chúng ta có phải “nhẹ nhõm” đi biết bao nhiêu không?!“

    Giả sử chúng ta có phạm tội đi nữa là chuyện của chúng ta. Thiên Chúa có khả năng tha thứ tội lỗi của chúng ta là chuyện của ổng. Tuy nhiên, muốn tha tội thì tối thiểu Ông ấy cũng phải hỏi chúng ta một câu xem liệu chúng ta có đồng ý hay không đã chứ. Đâu phải cậy làm Chúa rồi nhân danh tình yêu để muốn là chi ai cũng được. Con người dù là loài thụ tạo, dễ mắc sai lầm (vì không phải là toàn năng) nhưng con người cũng có tự do ngay cả trước Thiên Chúa chứ. Đâu phải kiểu nhân danh đem hạnh phúc đến cho người khác mà đè con người ta xuống hiếp. Theo quan niệm tự do trong Ki-tô giáo thì con người có quyền chấp nhận hay từ chối ngay cả đối với Thiên đàng hay Hỏa ngục. Lưu ý, quan niệm về tự do của Jean-Paul Sartre còn nghê gớm hơn, theo ông con người không chỉ có tự do, tự quyết những chọn lựa trong cuộc sống mà còn có khả năng thiết lập mọi chuẫn mực giá trị, chân lý. Theo đó, chẳng hạn, nếu con người xem việc giết cha là có hiếu thì đích thị giết cha là một chuẫn mực hiếu thảo. Tuy nhiên, thử ngẫm xem liệu trong thực tế con người có thật có sự tự do (thậm chí là toàn năng) như vậy hay không? Còn theo tôi, các giá trị nhân bản, nhân quyền, tự do phổ quát của nhân loại trong thời đại này có nguồn gốc từ Ki-tô giáo mà ra.

    Niềm tin là tự nguyện, không kẻ nào có thể bắt ép kẻ khác „phải tin“. Nếu niềm tin chỉ là sự dối lòng thì chẳng ai điên rồ lại tự dối gạt mình suốt cả cuộc đời như thế. Và, khi nói người ta tin cái gì, tin vào ai thì cũng phải có sở nào đó, không ai nhắm mắt tin liều đâu. Chẳng hạn, chuỗi những sự kiện sau có thể là một trong những cơ sở của niềm tin:
    – Các ngôn sứ trong thời cựu ước đã loan báo về một đấng Mêsia sẽ đến thế gian cứu độ nhân loại.
    – Những việc làm lạ lùng của thợ mộc anh Giêsu, sống trong xã hội Do Thái bị La mã đô hộ, dưới thời tổng trấn Philatô, khiến cho đám Phi-ri-siêu của Do thái giáo không thể phủ nhận nhưng lý giải rằng tên này mượn uy quỷ vương để trừ quỷ nhằm hạ bện uy tín Chúa trước đám đông dân chúng đi theo Ngài.
    – Theo tôi, Giuđa không phải vì 30 đồng bạc mà phản Chúa. Anh ta là một kẻ yêu dân tộc, muốn giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của La Mã. Và, Giuđa biết rõ về Chúa nhưng thấy Chúa chẳng chịu làm gì hơn với ba phép lạ lẻ tẻ, cùng với việc suốt ngày giao du với bọn thu thuế, kẻ tội lỗi. Việc Giu-đa nộp Chúa cũng chỉ là mưu chước ép Chúa phải tỏ mình, ra tay giải phóng dân Israel khỏi ách đô hộ ngoại bang theo quan niệm của ông ta mà thôi.
    – Những nhắn gửi Chúa Giêsu để lại trước khi chịu chết đã xãy ra đúng như vậy.
    – Những môn đệ Chúa là chứng không những chẳng được lợi lộc gì mà còn phải đổ máu vì nó thì ít nhiều cũng đáng tin chứ.
    Một lối tiếp cận vấn đề theo mang tính sử học như thế cũng là một trong những phương thức lý giải cho niềm tin. Còn nếu ai lập luận rằng những sự là Chúa làm, Chúa phán như thế không thể tin được. Nhưng lật ngược lại, nếu quả ông Giêsu là Thiên Chúa toàn năng giáng trần thì những điều ông ta làm chỉ thường thôi, không có chi là lạ hết cả.

    @ Ông Nguyễn Hữu Liêm viết: „Một phần nào, tôi nghĩ, là do sự dị ứng với tính cách áp chế và sự giới hạn của khái niệm Thượng đế trong các truyền thống này. Sự dị ứng đó tôi cũng chia sẻ – vì khái niệm Chúa Trời trong Thiên chúa giáo, trên bình diện triết học, vượt qua các nội dung biểu tượng và ẩn dụ, thì quá đơn sơ và nông cạn, nếu không nói là trẻ con.“

    Theo tôi, nếu là một người „ngoại đạo“ đối với việc nghiên cứa triết hay không am hiểu về tôn giáo nhưng vẫn nhân danh „trên bình diện triết học“ mà viết vậy thì chẳng phải quan tâm. Nhưng nếu một người là giáo sư triết hay triết gia (ngoại trừ tự phong hay bị gán ghép) được cơ quan giáo dục có thẩm quyền của một đất chứng nhận thì nó khiến tôi phải nghi ngờ về chất lượng tối thiểu đối với chuyên ngành triết học (thậm chí đối với cả lĩnh vực khoa học nhân văn) trong hệ thống giáo dục quốc gia đó, nếu không thì phải nghi ngờ về tính nghiêm minh trong việc cấp phát văn bằng, chứng nhận.

  10. Trung Thứ viết:

    @ Sức mạnh mềm viết:
    „- Đạo Do thái, Thiên Chúa, Hồi, Chính thống, Tin lành không công nhận thuyết đầu thai như Ấn giáo, Phật giáo ; tin vào CẦU NGUYỆN và PHÓ THÁC, mà Phật chỉ tin ở nội lực tự tâm.
    Tin rằng từ khi sinh ra, được làm các lễ Thánh, tin và cầu nguyện Chúa thì sẽ lên Thiên đàng ngay sau khi chết ( 1phát ăn ngay ), đạo Phật thì không, cho là phải có quá trình vô lượng kiếp.“

    Nếu bác nào tự mình nỗ lực tu trì mà trở nên được bậc chính quân, quân tử hay thành tiên, thành phật thì quả tôi rất lấy làm ngưỡng mộ, cảm thấy rất vinh dự vì đồng loại của tôi đã làm được những việc phi thường. Ngược lại, đám Ki-tô hữu bị các vị chê bai thì cũng đáng đời thôi. Nếu tôi được như các vị thì e tôi cũng cóc cần trở thành người Ki-tô giáo làm gì, như Chúa Giêsu nói: „Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau khổ mới cần. …. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi“ (Mt 9,12-13). Tuy nhiên, các vị hiểu thông cảm cho một diều rằng: người theo Ki-tô giáo cũng là người. Mà sự nghiệp làm người sao cho ra giống người thì không còn cách nào khác là tu thân. Bản thân tôi đây cũng cố gắng đánh vật với một kiếp người như ai. Tuy nhiên, giả sử tôi cũng lẫn vào đám người Do Thái đến trước mặt Chúa Giêsu hỏi Ngài rằng: „Chúng tôi nên ném đá người đàn bà ngoại tình này theo luật Môi-sen để sáng danh Thiên Chúa hay tha cho mụ?“. Và, tôi sẽ là người xấu hổ lủi đi đầu tiên nếu Ngài bảo: „Ai trong các ông sạch tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi“. Kẻ theo Chúa trước hết tối thiểu thì cũng có chút thiện chí tu thân, mặt khác họ ý thức những giới hạn của mình có thể ngăn cản thiện chí ấy nên cần đến ơn Chúa để mong sao sống một kiếp người xứng với nhân phẩm và đáp lại lời mời gọi trở nên trọn lành như Cha trên trời.

  11. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Thưa bác Phùng,

    Giận thì nói giận, đau thì nói đau, bế tắc thì nói bế tắc. Phật cũng đơn giản vậy thôi, bác Phùng.

    Tôi cũng như bác!

  12. nguyen mai linh viết:

    @Bác Trình

    Chữ Duyên của nhà Phật nó rộng lắm chứ đâu phải quanh quẩn ở chữ Duyên nợ đâu Bác. Tôi biết bác uyên thâm lắm, chưa dám hạ đao vì sợ làm thái giám thì uổng cả một đời sống ở trần gian phải không bác. Tôi nghĩ, mọi điều đau khổ, mọi hệ lụy thế trần này đều từ chữ Duyên mà ra, mà đã là Duyên thì đâu thể cưỡng cầu. Cứ để mọi chuyện xuôi theo dòng đời mà sống cho khoẻ, cho tốt. Chứ cứ mãi đâm sầm vào chữ nghĩa, vào thuyết, vào triết há lại chẳng phí đời ư. Nhân đây, cũng xin cảm ơn bác Phùng lần nữa, để cố gắng học biết nhìn đời bằng những nụ cười.

  13. Hoà Nguyễn viết:

    Thích Ca khi tại thế tuy đối đáp, trả lời những câu hỏi đạo, mà thực chất nhiều khi là chất vấn, tranh luận, của nhiều người thuộc đạo Bà la môn, hay từ các giáo phái, học phái khác, nhưng ngài từng tránh đi sâu vào các vấn đề ngày nay gọi là siêu hình. Một câu chuyện được dẫn là trong một lần ngài đưa ra thí dụ về một người bị trúng tên độc, nhưng nhất định không chịu để cho rút tên ra ngay , rịt thuốc chữa trị, trườc khi được biết rõ ai đã bắn tên, tại sao lại làm thề, và chất độc như thế nào, v.v… Hiển nhiên là Thích Ca muốn nói phải chữa trị tên độc trước đã, còn các nguyên nhân khác sẽ tìm hiểu sau khi đã lành khỏi. Tứ thời đó đến nay, đã 2500 năm, các triết gia đủ khuynh hướng, các nhà tôn giáo ở khắp nơi, nhiều đời cũng chưa giải thích thỏa đáng những thắc mắc siêu hình, như thế giới này do đâu mà có, con người tại sao xuất hiện, sống để làm gì, và chết đi về đâu. Vào thời Phật (và trước đó) những câu hỏi như thế đã được đặt ra và đã có những cố gắng giải thích. Ngoài thuyết Brahma, Atman của Bà la môn và các tông phài hữu thần khác nối tiếp (như Yoga, Vedanta), còn nhiều thuyết có quan điểm nằm ngoài truyền thống Bà la môn đến mức đối nghịch, như thuyết Duy vật của Ajtakesa-Kambali (sách Phật ngoài dịch âm còn gọi ông này là Vô Thắng tử) cho con người do tứ đại (tức vật chất) tạo thành, chết rồi là hoại diệt, thân tứ đại trả lại chất tứ đại, và mục đích nhân sinh là hưởng thụ thú vui vật chất, còn luân lý, đạo đức là những điều khắc khe vô lý (không khác lắm với chủ nghĩa duy vật ngày nay). Cùng thời Phật có 62 giáo phái như thế, và sau khi Phật giáo ra đời không bao lâu lên tới 96 giáo phái. Giữa những khuynh hướng, quan điểm phức tạp như thế, Phật giáo đã chọn con đường gọi là Trung Đạo, và không để bị lôi cuốn, lún sâu vào những “không đàm, hý luận” thường thấy ở các học phái, các “triết nhân”.

    Kinh Phật (như Phạm Võng, Sa môn) viết nhiều về Lục đại học phái (khuynh hướng Bà la môn hay Veda),Lục sư ngoại đạo (khuynh hướng phản Veda), 62 phái “ngoại đạo”, nhưng xếp gọn lại chia làm hai khuynh hướng lớn:’
    1/ Thường kiến luận: chủ trương vũ trụ, thần ngã, tự ngã trường tốn (hữu thần).
    2/ Đoạn kiến luận: chủ trương chết là đoạn diệt, mọi hiện tượng đều ngẫu nhiên phát sinh, không liên quan đến nhân quả(vô thần).

    Giáo lý Vô thường của Phật giáo Nguyên thuỷ được đưa ra giảng rất sớm, dẫn đến thuyết Vô ngã đã phá vỡ ý niệm về thần ngã, tự ngả trường tồn, nhưng đồng thời không phài cho vạn vật ngẫu nhiên phát sinh, mà là do Duyên sinh, và Phât giáo cũng giữ lại thuyết nhân quả, Nghiệp. Nên gọi đó là Trung đạo.

    Từ lâu, ngay tại Ấn Độ, nhiều cố gắng tổng hợp các tôn giào, muốn đưa tất cả về một “mối đạo” (không nói là cho vào cùng môt “rọ”) nhưng không thể thành công khi,theo quan điểm đạo Phật, vạn pháp vốn vô thường, do duyên sinh, nên rất linh hoạt, biến chuyển khôn lường, ngay trong địa hạt đạo giáo.

    Tôi chia sẻ lời bàn của ông Lee Can vể tín ngưỡng Phật A Di Đà, hay về Brahman, Thượng đế, Chúa, Allah. Ngài Dalai Lama khuyên người theo tôn giáo khác dù ngưỡng mộ đạo Phật của ngài cũng nên sống và giữ theo tôn giáo truyền thống của mính (tôi nghĩ như thê là dể được nhiều lợi lạc). Theo ngôn ngữ Mật tông, đó là những “phương tiện thiện xảo” (và chỉ là phương tiện, như chiếc bè dùng qua sông) giúp đưa người tu theo đến cảnh giới (hiểu là trạng thái tâm linh) cao hơn, sau cùng đạt đến mức an lạc, thanh tịnh, thuần khiết trong tâm. Tôi cảm thấy các tôn giáo lớn nào cũng đưa người hành đạo chân chính đền cái chỗ đó, nếu không đã không tồn tại sau thời gian thử thách vài ngàn năm, tuy dùng nhiều phương tiện khác nhau, như về đối tương thờ kính, thánh ca, cầu kinh, chiêm ngưỡng, niệm chú, thiền định. Tất nhiên, nói như thế vẫn không làm mọi người ở các tôn giáo thỏa mãn, nhưng đó là chuyện khác.

  14. Lê Quốc Trinh viết:

    Bác Nguyen Mai Linh,

    Tôi có phần hơi ghen tỵ với bác và hơi buồn.

    Ghen tỵ bởi lẽ bác tu hành đắc đạo nhanh thật, mới sáng hôm qua bác còn đề cập đến hai chữ Dục và Duyên xem như là cốt tuỷ của Đạo Phật, tôi chưa kịp viết bài chia sẻ kinh nghiệm với bác. Đến xế chiều bác đã diệt hẳn chữ Dục, và chỉ còn nghĩ đến chữ Duyên mà thôi. Công nhận chỉ trong vài giờ mà đã bác tận diệt dứt khoát hẳn với DỤC vọng, tôi xin giở mũ chào bác. Tôi cũng tu tại gia suốt mấy chục năm trời, cứ bị chữ DỤC to tướng nó ám ảnh mãi, muốn cắt đứt cho rồi mà không dám hạ dao xuống, khổ thật!

    Giờ đây bác chỉ còn vương vấn với DUYÊN nợ mà thôi, chừng nào bác thoát ly, ký giấy giải quyết xong cái thòng lọng DUYÊN nợ rồi, bác nhớ báo cho mọi người biết nhé. Kẻo không bác chứng ngộ được chữ KHÔNG, không còn gì! (không còn DỤC vọng, dứt hẳn DUYÊN nợ) bác bỏ mọi người ở đây để đi vào cõi Chân Như Hư Vô thì tôi buồn lắm!

    Vài hàng đùa giỡn một tý với bác cho thư giãn gân cốt, mong bác đừng giận,

  15. nguyen mai linh viết:

    Cảm ơn bác Phùng tường Vân, bác đã nói hộ những gì nhà cháu suy nghĩ. Bài phản hồi của bác là tuyệt diệu. Hoàn toàn đồng ý với bác

1 … 3 4 5 6 7
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>