Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa
07/05/2010 | 2:37 chiều | 94 Comments
Category: Tôn giáo
Thẻ: Ấn giáo > kinh Vệ đà
Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi. Phần lớn những phản hồi này (hơn 200 bài /12 bài) chỉ lặp đi lặp lại ý kiến của vài độc giả về một vài ý niệm của đạo Phật Đại thừa như Vô minh, Vô thức, Vô ngã… hiểu theo chữ Hán, lại mang nhiều tính cách tranh cãi cá nhân, trở thành lạc đề, không giúp ích gì cho những độc giả muốn hiểu biết đạo Phật một cách sâu rộng và chín chắn.
Tôi xin nhắc lại là đạo Phật Đại thừa vào Trung Quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên nhưng lần lần bị Hán hoá khi phải pha trộn với đạo Lão, đạo Khổng. Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Ra đời một ngàn năm sau đạo Phật Nguyên thủy (khi Phật còn tại thế), Thiền Trung Quốc chỉ còn giữ lại một vài ý niệm triết học của Phật giáo hiểu theo nghĩa Trung Quốc. Mang sắc thái Trung Quốc, Thiền đạo đã chói sáng trong 2 thế kỷ thứ VII, thứ VIII và trở thành gần như là đại diện duy nhất của Phật giáo Trung Quốc.
Để chứng dẫn, tôi xin kể lại là nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus: “Thiền tông có người cha Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.
Thiền đạo vào Việt Nam dưới đô hộ Tàu rất sớm (594?) và giữ nguyên tính cách Thiền Tàu, khác với Cao Ly và Nhật Bản: Khi tới Cao Ly thế kỷ thứ IX, tự sáp nhập vào Phật giáo Cao Ly có từ thế kỷ thứ IV. Thế kỷ thứ XII-XIII, thiền sư Nhật Dogen (Đạo Nguyên) phổ biến thiền Tào động dưới hình thức Toạ thiền (Zazen).
Thiền đạo với đặc thái Trung Quốc mất dần tính cách đạo giáo theo đúng nghĩa của nó và trở thành một nền triết lí, một nhân sinh quan, một lối tu không tùy thuộc nơi chốn (tu tại gia). Đạo Phật chính thống nay gọi là Nguyên thủy, là đạo Phật ở những nước mà 90% người dân là Phật tử như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào. Nguồn gốc của đạo Phật là Ấn giáo Vệ đà. Vì vậy muốn hiểu thấu đáo những ý niệm của đạo Phật bắt buộc phải hiểu theo nghĩa trong kinh Vệ đà của Ấn giáo.
Tôi xin chia bài trình bày dưới đây làm 3 phần:
1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.
2. Lí do Phật tách khỏi Bà La môn giáo.
3. Ý niệm Chúa Sáng tạo của đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của Ấn giáo Vệ đà.
1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo
Ấn Độ, dịch từ chữ Ba Tư Hindu, chỉ sông Indus mà tiếng Phạn gọi là Sindhu, đất 7 nhánh sông (Sapta Sindhu), của người Aryens (phiên âm chữ Hán là Nhã lộ an) mà Đức Quốc Xã cũng như người Ba Tư (Iran), đều coi là thủy tổ. Đây cũng là một điểm rất quan trọng giải thích một phần nào nguồn gốc chủng tộc, tiếng nói, văn hoá, đạo giáo của người Âu Châu.
Ấn giáo là đạo cổ xưa nhất của Ấn Độ. Gọi theo tiếng Phạn là Sanatana dharma (Pháp trường tồn) hay “Trật tự vũ trụ trường tồn”. Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống, một lối suy nghĩ dựa trên Vệ đà Thiên thư (Rig Veda). Nền tảng của Ấn giáo là kinh Vệ đà nên cũng được gọi là Vệ đà giáo. “Trật tự vũ trụ” trong Vệ đà giáo có lẽ đã gợi cho Einstein ý tưởng về đạo Vũ trụ (Religion Cosmique với nghĩa Kosmos là Trật tự trong tiếng Hi Lạp).
Ấn Độ giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa.
Đây là định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966:
1) Chấp nhận những ý niệm Vệ Đà là thẩm quyền cao hơn hết trong mọi lãnh vực đạo giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ.
2) Phải có óc khoan dung và thiện tâm thiện ý vì Sự thật có nhiều hình thức biểu lộ.
3) Chấp nhận 6 hệ thống (Lục hệ) trong triết học Ấn Độ và nhịp điệu thế giới diễn tiến theo nhiều chu kỳ gọi là du già (yuga). Mỗi chu kỳ qua từng thời, sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt, tiếp nối nhau không bao giờ ngừng (luân hồi).
4) Chấp nhận sự tin tưởng là có tái sinh và có đời sống trước.
5) Công nhận là có rất nhiều phương cách đi đến giải thoát (Moksha).
Căn bản của Ấn giáo là kinh Vệ đà được truyền khẩu từ 5000 năm cho tới 1500 năm trCN. Theo truyền thuyết, Brahman (Phạm Thiên, Chân Như) đã thần khải Kinh Vệ đà cho các vị hiền giả (Rishi). Trời trong Vệ đà Thiên thư là Brahman, Đấng Tuyệt đối tạo ra vạn vật.
Hai ý niệm nòng cốt của Ấn giáo cổ xưa (thời kỳ Vệ đà giáo) là:
1. Đại ngã (ParamAtman) Brahman: là Một, là Hiện thực duy nhất, là Linh hồn tuyệt đối của vũ trụ, là Tuyệt đối, Siêu nghiệm, Bất biến, Vô hình thể, Trường tồn, Vĩnh hằng, Quán thông mọi chuyện, có mặt mọi nơi chốn, là nguyên lí của vũ trụ không có khởi đầu không có tận cùng. Là Sự Thật tuyệt đối, thế giới chỉ là hư huyền.
2. Tiểu ngã (atman), một phần đồng nhất của Bản thể Brahman. Không có linh hồn cá biệt phải được hiểu là sau vòng luân hồi tiểu ngã sẽ trở về đồng nhất với Bản Ngã Brahman.
2. Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn
– Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như
Để trả lời các giáo sĩ Bà La môn muốn chỉ trích Phật là không biết Trời, Phật dạy “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”
Sở dĩ Phật ít nhắc tới Brahman là vì Phật muốn mọi người hiểu Brahman theo nghĩa Vệ đà kinh để xa lánh các giáo sĩ Bà La môn đã phân Brahman ra làm 33 vị thần mà 3 vị thần chính là Brahma, Visnou và Shiva, để lôi kéo tín đồ đem lợi lộc và đặc quyền thờ phụng cho đẳng cấp Bà la môn. Tôi cũng xin nhắc lại là Bà la môn giáo chỉ ra đời trước Phật chừng khoảng 100 năm (thế kỷ thứ VI-V trCN).
Phải hiểu là khi Phật dạy “sinh ra từ Niết bàn” chứ không phải “ở” Niết bàn là Phật có ý nói Niết Bàn không phải là nơi chốn mà Niết Bàn cũng là Chân Như: Niết bàn không thể là nơi chốn được vì Chân Như, Đấng Vĩnh hằng ở ngoài không gian và thời gian, hiện diện khắp mọi nơi.
Hiểu theo đạo Phật Nguyên thủy Chân Như, Niết Bàn, Phật tính, chỉ là Một.
– Đạo Phật Nguyên thủy không phủ nhận ý niệm tiểu ngã của kinh Vệ đà:
Đạo Phật cấm sát sinh vì mọi sinh vật đều là anh em cả, đều mang trong mình tiểu ngã (soi, self, selbst) một phần của Đại Ngã (le Soi). Ý niệm “tiểu ngã” cũng là ý niệm về phần Phật tính bất biến trong mỗi sinh linh, sợi dây kết tụ nghiệp quả của mỗi sinh linh qua vòng luân hồi để trở về với Bản thể Phật tính hay Đại Ngã Chân Như (Atman, Brahman). Theo trường phái triết học Vệ đà Vedanta, tiểu ngã là nguyên lí tự tại, siêu nghiệm (principe immanent et transcendant) độc nhất của mỗi sinh linh đi từ kiếp này qua kiếp khác. Theo định nghĩa này, tiểu ngã có thể được hiểu là sinh linh mỗi con người trong vòng luân hồi trước khi nhập vào Đại Ngã hay Vô ngã (cái Ngã chân thật, không riêng biệt). Tiểu ngã khác với “cái tôi” (le moi) mà nhiều triết gia Tây phương cũng coi là không có thực chất, phiến diện, hay thay đổi (vô thường) vì phụ thuộc vào những trạng thái tâm lí, cảm xúc, hoàn cảnh và sự vật.
Bản thể Phật tính cũng là Bản thể Brahman nên có sự nhất tính giữa Phật và chúng sinh như băng đá với nước trong thuyết “Vạn vật đồng nhất thể” của Ấn giáo.
Tôi cũng xin nhắc lại là Hội Nghị Phật giáo thế giới năm 1956 công nhận đạo Phật Tiểu thừa là thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy và như vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.
3. Có thể suy luận là những ý niệm về Trời Sáng tạo của các đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của kinh Vệ đà
Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) ít nhất là 1000 năm, nên có thể coi Ấn Độ giáo là đạo xưa nhất.
Ý niệm Trời Brahman cũng là ý niệm Trời (Éternel) trong Thánh kinh (Bible) của Do Thái giáo. Đứng về phương diện lịch sử, Ki tô giáo và Hồi giáo cùng tin ở Thánh kinh, nên có thể coi 2 đạo này chỉ là tông phái của một đạo Thiên Chúa duy nhất là Do Thái giáo. Brahman, Jehovah, Phạm Thiên, Chân Như, Chúa, Allah… chỉ là cách gọi Trời khác nhau.
Theo cuốn Giáo lí (Catéchisme) được soạn thảo sau Hội nghị các giám mục toàn thế giới kỳ 2, Công giáo định nghĩa về Trời như sau: “Trời là Nguyên nhân đầu tiên Tự tạo, Tự tại, Tự tồn tạo ra không gian thời gian nên lúc nào, chỗ nào cũng có Trời (Dieu est universel).” Như vậy Trời cũng là Thiên Đàng và trở về Thiên Đàng là trở về Tình yêu của Chúa, trở về Lòng Chúa như những người Ki Tô giáo mong ước, và cũng là mong ước của những người Phật tử muốn được giải thoát khỏi vòng luân hồi để trở về Niết Bàn hay Bản thể Phật tính Từ bi hỉ xả vậy. Brahman vô hình vô thể nhưng cũng có thể biểu hiện dưới hình thức một Trời có ngã vị (un dieu personnel) gọi là Ishvara và sau này trong Bà La môn giáo, dưới biểu hiện Brahma, Visnou, Shiva mà theo Dumézil (1898-1986), đó cũng là biểu hiện Tam thể Trimourti, trong Ấn Độ giáo, “Ba thân” trong đạo Phật, “Ba Ngôi” (Trinity) trong Ki Tô giáo.
Trong cuốn Sáng tạo và giao lưu, do nhà xuất bản Giáo dục in tháng 12- 2007, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư, tác giả nhiều bài tham luận về văn học và về nhà khoa học nhân văn Nga Bakhtin đăng trên talawas bộ cũ, người mới được giải thưởng Phan Châu Trinh về dịch thuật, có nói nhiều về luận thuyết Thần – Nhân loại (Divino-Humanité, Théandricité) của nhà hiền triết Nga Vladimir Solowiev (1853-1900). Nhà thần học Kitô giáo và hiền triết lớn nhất nước Nga này bị quên lãng dưới thời cộng sản Liên Xô, nay là niềm tự hào của nước Nga trên trường quốc tế. Những trước tác của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt của Phạm Vĩnh Cư. Tôi xin nói qua về quan niệm Thiên Chúa của Solowiev qua cuốn sách của Phạm Vĩnh Cư:
Theo thuyết Thần-Nhân loại của Solowiev, Chúa Trời sáng tạo tất cả để cuối cùng vì Tình yêu, hoá thần tất cả khiến thế giới trở thành một tha thể (thể khác) của Thiên Chúa mà không có nó thì Chúa không tồn tại vì Chúa sống trong nó và vì nó. Không còn sự khác biệt ngay cả về bản chất giữa Đấng Sáng tạo với tạo vật đồng nhất thể với Chúa (vsejedinstvo, tiếng Nga), khiến Tạo hoá và tạo vật không còn là hai bản thể riêng biệt như theo thuyết nhị nguyên luận của Descartes: bản thể quảng tính (Res extensia) vật chất và bản thể tư duy (Res cogitans) tinh thần. Quan niệm của Solowiev về Chúa, Đấng Sáng tạo vì tình yêu này tương đồng với quan niệm Đấng Tuyệt đối Brahman “Vạn vật đồng nhất thể” trong Ấn Độ giáo, nên Solowiev hồi ấy bị những người Ki tô giáo đạo Chính Thống (orthodoxes) trách cứ là sa vào thuyết Phiếm thần (Panthéisme) và cùng một tư tưởng với Spinoza (1632 – 1677), người đã đồng nhất Thượng đế với thiên nhiên. Những người này đã tỏ ra không hiểu “Thần – Nhân” là giáo thuyết đẹp nhất trong Ki Tô giáo: Giêsu Kitô con của Chúa Trời đã nhập thể thành người để chuộc tội cho loài người. Đó cũng là ý tưởng Bồ Tát trong đạo Phật.
Trong cuốn sách tiếng Anh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Living Buddha, living Christ dịch tiếng Việt là Bụt trong ta, Chúa trong ta do nhà xuất bản Riverhead Booking in năm 1995, thày Thích Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm với Solowiev là Trời, Phật ở trong ta: “Chúa Ki Tô vừa là con Trời vừa là con Người (Le fils de l’homme) và Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bất nhị nên con người cũng là một với Thượng đế… Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như và sẽ quy về với Chân Như.”
Khi Solowiev phân tích phạm trù “Cái Tuyệt đối” (Thiên Chúa), ông xác định ý niệm “hư không” trong đạo Phật: “Cái Tuyệt đối vừa là cái thoát li mọi thứ, lại vừa là cái mang mọi thứ trong mình. Nó vừa là cái tịnh không, vừa là hữu thể viên mãn nhất, hoàn bị nhất, toàn vẹn nhất… Nó là thể thống nhất của mình với cái phủ định mình“.
Ý niệm “Vô Ngã” trong đạo Phật cũng được Solowiev hiểu theo nghĩa Siêu Ngã để nói về bản tính Chúa Trời: “Ngài là Sinh linh Siêu Ngã vừa là mình lại vừa là tất cả… Là Một – và – Tất cả”. Ý niệm Siêu Ngã này làm cho ta hiểu ý niệm Tam vị Nhất thể (Trinité) trong Ki Tô giáo.
Vòng sinh tử trong đạo Phật là nghĩa sự phục sinh của Chúa Ki Tô cứu rỗi loài người thông qua cái chết: Chúa phục sinh là cái hứa hẹn và bảo đảm sự tái sinh của nhân loại trong sự sống hoàn toàn bất tử.
Kết luận
Sự tin tưởng vào một Sinh linh tối cao đều có trong mỗi con người và nằm ở tầng sâu nhất của tâm thức. Đấng sinh linh Tối cao biểu hiện trong các đạo giáo dưới những hình thức khác nhau hay được hiểu khác nhau nhưng tựu chung vẫn chỉ là Một. Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.
Theo kinh sách Vệ đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật. Những người Ki tô giáo đích thực cũng cùng một quan điểm: Giáo hoàng Jean Paul II đã luôn mở cửa nhà thờ mời Đức Đạt lai Lạt ma làm lễ. Có 84 ngàn pháp môn nên những người không theo đạo nào cả cũng có thể mở một cánh cửa đi tới Trời.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
94 Comments (bài “Phong Uyên – Muốn hiểu đúng đạo Phật cần phải trở về Ấn giáo Vệ đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa”)
« Trang trước 1 2 3 4 … 7 Trang sau »
Tôi cho rằng bác Phong Uyên đã quá can đảm dám đưa ra những vấn đề thật hóc búa của đạo Phật còn đang trong vòng tranh cãi từ xưa đến nay lên diễn đàn Talawas. Kỳ trước bác đã đưa ra đề tài về sự tồn tại của linh hồn mà rất nhiều học giả lẫn hành giả Phật giáo phủ nhận. Kỳ này bác lại đưa ra đề tài Phật Thích Ca không phủ nhận một đấng Thượng Đế tối cao.
Nếu tôi nhớ không lầm thì quan điểm của Phật Thích Ca là dẫu cho Phật tử đứng trên quan điểm nào, phủ nhận hay chấp nhận hai vấn đề nói trên vẫn không ảnh hưởng đến kết quả tu tập nếu họ hành pháp tinh tấn, cho nên ngài đã giữ im lặng không đi sâu vào đề tài này rắc rối này. Nói đúng hơn, ngài đã chọn một con đường thực nghiệm để giải quyết vấn đề. Ngài đã chọn cách giải đáp bằng thực nghiệm thay vì dùng lý thuyết.
Một cách cụ thể hơn, những vấn đề khó khăn nói trên có thể được ví như là bài toán của cấp đại học mà đưa cho học sinh cấp ba để giải thì làm sao nó tìm ra đáp số? Phật chỉ khuyên hành giả ráng chờ đợi và học tập, khi đến trình độ đại học thì tự nhiên sẽ biết cách giải và tìm ra đáp số. Theo tôi hiểu thì Thượng Đế (hoặc Chân Như theo bác Phong Uyên) là một khái niệm thuộc về cảnh giới không không gian không thời gian thì làm sao cái trí phàm nắm bắt cho được? Trình độ khoa học và con người hiện đại còn chưa làm quen với những vấn đề vượt qua chiều thứ tư. Phải tu tập làm sao cho trí phàm khai mở thành thánh trí và đại trí thì may ra con người mới hiểu được Thượng Đế (hoặc linh hồn), theo luật đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu.
Có lẽ ông Phong Uyên không đủ tài liệu, hoặc không tham khảo đủ tài liệu khi viết bài này. Một bài viết “vơ vào” quá nhiều thứ, làm dáng “hàn lâm”, nhưng chẳng giải quyết được một vấn đề nào đến nơi đến chốn.
Tôi nghi ngờ về cách tìm tài liệu tham khảo và cách tham khảo tài liệu liên quan đến Phật học của các “thức giả” ở diễn đàn này. Cách ông Phong Uyên dẫn sách của H. W. Schumann cho bài viết của ông là một trường hợp. H. W. Schumann dù có viết được một vài đầu sách về Phật giáo, nhưng những tác phẩm của ông này chưa bao giờ được xem là có giá trị về mặt học thuật.
Với cả ông Nguyễn Hữu Liêm, khi giới thiệu cho đọc giả tài liệu về mối liên hệ giữa Ấn giáo-Phật giáo cũng chỉ giới thiệu được cuốn Hinduism and Buddhism của A. Coomaraswamy, một cuốn sách chỉ vỏn vẹn 86 trang, trình bày vấn đề một cách sơ lược, dưới quan kiến của một nhà Hindu.
Muốn hiểu Phật giáo một cách độc lập, cứ đọc thẳng vào các Nikayas và Mahayana sutras xem Phật nói gì trong đó. Đọc một vài tài liệu loại “secondary source” để viết bài, thì đôi khi chỉ là phát biểu lại ý kiến của người khác!
“Theo thiển nghĩ thì những cuộc thảo luận về đạo Phật của các bác ở đây cởi mở (open-minded) đấy chứ vì nếu nhất quyết ăn thua đủ thì chắc ông Phật buồn lắm.”(Tôn Nguyễn)
Tôi cũng nghĩ như bác Tôn Nguyễn, nhưng xin chia sẻ thêm với các bác một vài suy nghĩ như thế này:
1. Nếu một đề tài có sự thảo luận cởi mở và “rôm rả”, thì theo tôi, cái đề tài ấy còn mang nhiều điều “khúc mắc”. Về tôn giáo nói chung, hay đạo Phật nói riêng, chúng ta đang “ra sức” thảo luận, có nghĩa là trong tôn giáo, hay đạo Phật, vẫn còn nhiều “vấn đề” cần phải “bàn cãi” để xem đúng sai thế nào. Hay nói một cách khác là, chúng ta chưa tiếp cận được sự thật, bởi gặp quá nhiều mâu thuẫn trong quá trình tìm hiểu, cụ thể, ví dụ như về đạo Phật chẳng hạn. Bản thân tôi cũng không hiểu lắm về các loại tôn giáo, nhưng có quan tâm và cố tranh thủ tìm tòi học hỏi mỗi khi có dịp. Thời gian vừa qua, phải nói là tôi học được rất nhiều điều bổ ích qua các bài chính và các phản hồi về chủ đề tôn giáo trên diễn đàn talawas này. Một trong các điều học được, đó là: mọi tôn giáo có một điểm chung, là đều do CON NGƯỜI nghĩ ra, chứ không phải do một “đấng” nào đấy từ trên trời rơi xuống tạo ra cả.
2. Và một khi tôn giáo là do CON NGƯỜI nghĩ ra, và bởi CON NGƯỜI là một vật thể luôn mang “mâu thuẫn nội tại” trong quá trình phát triển của mình, thì nó(tôn giáo) cũng luôn chứa đựng những “mâu thuẫn nội tại” của nó từ khi “ra đời” cho đến… ngày tận thế! Tôi nói thế là bởi cái lô-gich: chính vì sự tồn tại của những “mâu thuẫn nội tạng” ấy, mà từ xưa đến nay, loài người chúng ta vẫn phải “thảo luận” rất hăng say về tôn giáo, hòng “tiếp cận vấn đề”, tiếp cận được sự thật. Tôi đã phát hiện ra, có một “mâu thuẫn chung” của tất cả các tôn giáo trên Trái Đất này, đó là: chỉ có một “Đấng Toàn Năng”, nhưng lại có đến ti tỉ thứ tôn giáo khác nhau, và tôn giáo nào cũng cho rằng, “Đấng Toàn Năng” ấy là của mình, duy nhất của mình! Đấy là tôi chưa kể đến những lời kinh khá trừu tượng, phức tạp, khó hiểu mà tôn giáo nào cũng có, trong khi tín ngưỡng là một thứ gì đấy rất đơn giản, dễ hiểu, (như độc giả dogan đã nói: „Lục Tổ Huệ Năng đâu có biết chữ, đâu có thông kinh bác sử giáo lý. Nhưng ông vẫn là người Ngộ đạo đó ư.”) mà một con người bình thường, ví dụ như một đứa trẻ mới lớn chẳng hạn, vẫn có thể “nhận thức” được.
3. Những ví dụ đơn giản về “mâu thuẫn nội tại” của tôn giáo:
– trong đạo Phật: tôi lấy ví dụ là “Mười bốn điều răn của Phật”. Điều 1 nói: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”. Điều 5 nói: “Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình”. Tôi mới nghĩ: Mình đánh mất cái “kẻ thù lớn nhất” của đời mình là một “sai lầm lớn nhất”, vậy thì cái “đúng đắn lớn nhất” của đời mình là gì? Là giữ lại, là “sống chung” với “kẻ thù lớn nhất” của đời mình? Tôi thấy, trên đời này chưa có ai lại “ngu ngơ” như thế cả!:)
– trong đạo Thiên Chúa giáo: Kinh Thánh “phán”: mọi con người vừa sinh ra là đã mang trên mình “tội lỗi” rồi, đó là cái “tội lỗi nguồn gốc”, và Chúa Giê-su đã phải chết trên Thập tự giá để “rửa tội” cho nhân loại. Tôi lại nghĩ: Chúa Giê-su đã “rửa tội” cho nhân loại rồi thì con người vừa sinh ra còn “mắc” cái tội gì ở đây nữa hè? Rồi tiếp nữa: chưa kể là trong quá trình sống, phải tin vào Chúa, mở lòng đón Chúa thì mới được “lên Thiên Đàng”. Vậy thì tại sao con người chúng ta sinh ra phải sống thêm mấy chục năm nữa làm gì cơ chứ? Sao không “một phát ăn ngay”, chết ngay đi cho rồi (hay đừng „đầu thai làm người” nữa!) để “lên Thiên Đàng” luôn có phải „tiện lợi” hơn không? Và như thế, đời người chúng ta có phải “nhẹ nhõm” đi biết bao nhiêu không?!
4. Tôi có vài suy nghĩ và mạo muội trao đổi với các bác như vậy. Nếu có điều gì không phải, đó là do kiến thức hạn chế của mình, xin các bác bỏ qua và xin được học hỏi thêm. Và tôi cũng xin nhấn mạnh rằng: cũng như bác Phùng Tường Vân, khi bàn đôi lời về tôn giáo, tôi chỉ “trích” các lời kinh của các tôn giáo thôi, chứ không dám “chỉ trích” tí gì các tôn giáo cả!
Ông Nguyên Mai Linh nói:
…”đạo Phật khi thảo luận phải lý luận trên cái nguồn cội, chính là từ những gì đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngộ và truyền dạy lại (dù ông nói là ta không nói gì cả sau bao nhiêu năm giảng dạy các đệ tử), còn lý luận dựa trên các kinh Phật từ Tàu chắc là ta đã không đi đúng đường, e rằng bàn cho lắm chỉ tổ Tẩu hoả nhập ma thôi”…
Ông bạn Nguyên Mai Linh đừng sợ Tẩu Hoả Nhập Ma làm chi, ông cứ ôm mấy cái luận đề khoa học căn bản của Nhà Phật mà tu, mà tìm hiểu qua lăng kính khoa học rồi ông sẽ vô cùng sung sướng. Mấy luận thuyết đó chính là kho tàng trí tuệ siêu việt mà Đức Phật Thích Ca đã cố công tìm kiếm và lưu truyền lại cho thế gian. Chư tăng ít học đâu biết giá trị kho tàng này ra sao, cho nên cứ đem kinh điển bát nháo bí hiểm ra ấn tống bừa phứa, mà càng bí hiểm khó hiếu thì quần chúng càng sợ xanh mặt, và dễ bị đưa vào tròng. Do đó Đức Phật biết trước căn cơ quần chúng chưa đủ sức lãnh hội mà cứ hay tin thần thánh lăng nhăng, tin mà không bao giờ chịu tìm hiểu đến nơi đến chốn, nên Ngài rất ngại bị họ đem tên tuổi ra làm quảng cáo, ngại họ trích dẫn lời Ngài và giảng giải tào lao, cho nên Ngài mới nói “Suốt 45 năm qua, ta chưa hề nói một lời nào”. Ngài nói “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”.
Một bài viết thật công phu và đầy ắp thông tin và tư liệu. Và cũng thật là vô nghĩa (xin lỗi).
Những lý luận và dẫn chứng trong bài viết rất hàn lâm về mặt lý thuyết. Nhưng rất tiếc Đạo Phật là Đạo thực hành, sự hiểu biết và sự thấu ngộ đều có được từ sự trải nghiệm thực hành tu tập của hành giả. Mọi lý luận, mọi lý giải đều trở thành vô nghĩa khi không có sự thực chứng của sự thực hành.
Có thông tận hết tất cả ý nghĩa cao siêu của Ấn Giáo Vệ Đà hay có thuộc làu hết Đại Tạng, Trường A Hàm, hay chiết nghĩa được rõ ràng hết thảy kinh Koran, Tân ước, Cựu ước đi chăng nữa, nhưng không thực hành thì đối với Phật Giáo cũng trở thành vô nghĩa, chắng giúp ích gì cho sự chứng ngộ Phật giáo hết.
Lục Tổ Huệ Năng đâu có biết chữ, đâu có thông kinh bác sử giáo lý. Nhưng ông vẫn là người Ngộ đạo đó ư.
Có lẽ tác giả nên đặt cho đầu bài một cái tên khác, và dành cho bài viết một định hướng khác thì bài viết có giá trị hơn nhiều.
Vài lời mạn đàm, có gì mộ phạm xin thứ lỗi.
Ông Phong Uyên viết :” Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa”.
Ông Nguyễn Hữu Liêm viết “Bài viết của Phong Uyên rất quan trọng về một đề tài mà giới Phật học Việt Nam vẫn không chịu công nhận. Chúng ta phải nhớ rằng đức Phật là một nhà Ấn giáo cách tân”
Thật sự:
1/ Vào khoàng 3000 năm trước Công Nguyên, người Aryan, vốn cư trú ở vùng Trung Á, sống bằng du mục, vượt qua dãi núí Hindukush di cư xuống vùng Nam Á ở các nước Ấn Độ và Ba Tư ngày nay. Dân Aryan ở Ấn từ khi chiếm lĩnh vùng Panjab, thuộc thượng lưu sông Indus, ngày một phồn thịnh, tư tưởng phát triển, đã chế tác ra bộ kinh điển đầu tiên là Rig Veda, 40 quyển, là nguồn tư tưởng văn hoá ở thời kỳ thứ nhất của đạo Bà La Môn, chỉ trong khoảng 1500-1000 năm trước CN. Cũng nên nhắc lại kinh Thánh của đạo Do Thái, hay Cựu Ước của đạo Thiên Chúa, có lẽ được viết vào thời Môi-se (Moses) dẫn người Do Thái ra khỏi Ai Cập, khoảng năm 1250 năm trước CN, như thế cũng không sau Rig Veda bao lâu.
2/ Giới Phật học Trung quốc (hay Nhật và đương nhiên VN) đã dịch và nghiên cứu kinh điển Bà La Môn, và họ dịch Rig Veda là Lê-câu Phệ-Đà, còn dịch nghĩa là Tán tụng Minh luận. Thật ra kinh điển thời này gồm bốn thứ là Rig Veda ban đầu ca ngợi hiện tượng tự nhiên, rồi dần dần tin tưởng mỗi hiện tượng có thần linh làm chủ, Yajur Veda (Dạ-du Phệ-đà) bày ra các nghi thức cúng tế, Sama Veda (Sa-ma Phệ-đà) thêm nghi lễ, âm nhạc, luật xử đoán, môn bốc toán, và Artharva Veda (A-tát-bà Phệ-đà) ghi chép những bài chú cầu phước tiêu tai, phương thuốc, ma thuật. Trong thời gian này giáo đồ Bà La môn thiên về sùng bái cúng tế, và hình thức chính yếu là đa thần giáo.
Nguồn tư tưởng thứ hai là thờì đại Brahmana (TQ dịch là Phạm Thư) của Bà La Môn giáo trong khoảng từ 1000-800 năm trước CN, lúc người Aryan Ấn tiến về phía Đông chiếm đồng bằng trên bờ sông Hằng, bắt các dân tộc khác làm nô lệ, và chia xã hội ra làm bốn giai cấp, với gia cấp Bà la môn cao nhất chuyên chủ trì nghi lễ, tôn giáo. Nội dung của Brahmana lấy từ bốn Veda thánh điển, nhưng suy diễn rộng đến chỗ huyền vi, hoàn toan có tinh cách thần học. Tín đồ chỉ chọn thờ ba thần là Brahma (hay Brahman, Phạm Thiên), Visnu và Civa, như thế đối tượng tín ngưỡng chuyển dần qua gần với Nhất thân giáo. Tư tưởng triết học thời Phạm thư tiến triển qua ba giai đoạn:
1/ Brahma (Phạm) cũng còn gọi là Prajapati (Sinh chủ) là vị thần tối cao, tạo ra trời đất, vạn hữu.
2/ Phạm là Đại Ngã, bản thể của vũ trụ, có tính cách tuyệt đối
3/ Phạm là Tự ngã (Atman): Phạm và Tự ngã tuy khác nhau nhưng cùng một thể, Tự ngã là phần tâm lý tức linh hồn, Phạm là linh tánh của vũ trụ; khi con người chết, Tự ngã lìa xác quy thuộc về Phạm.
Nguồn tư tưởng thứ ba là thời đại Upanishad (Áo nghĩa thư), thuộc khoảng 800-600 năm trước CN, tức trước thời Thich Ca khoảng 100 năm. Bộ phận chủ yếu của tư tưởng triết học cao siêu này do giai cấp Ksatriya (Sát-đế-lợi,là của vua chúa, chiến sĩ)khai sáng, về sau dòng Bà la môn mới suy diễn rộng thêm. Nội dung chủ trương “Phạm Ngã đồng nhất”, các hiện tượng đều là huyễn pháp (Maya). Lý tưởng giải thoát của Áo nghĩa thư chia làm hai phần:
1/ Giải thoát phải tìm ở chính mình, không phải bên ngoài,và con người sở dĩ bị luân hồi là do Vô minh (Avidya) che lấp sinh ra Ái dục rồi tạo nghiệp, gây ra khỗ trong đường sinh tử. Muốn giải thoát phải hường về Trí Minh (Vidya), là an trụ trong bản tính trong lặng. Khi tâm đã thuần tịnh, tự nhiên được giác ngộ, nảy sinh ra trí tuệ, thấy sự sống chết như chiêm bao. Phạm và Ngã hợp nhất, không còn luân hồi, chứng được Phạm- Niết bàn (Brahma-nirvana).
Phần hai là cach thức tu hành : gồm giữ giới,tu tập theo phép Du già (Yoga).
(đoạn này theo sách giảng của TT Thiền Tâm)
Các nhà nghiên cứu triết học Đông Tây đều tán dương Áo nghĩa thư, cho là tư tưởng cao siêu nhất của nhân loại (thấy ở đây ông Trần Kiêm Đoàn thườnh trích dịch thành thơ vài câu trong kinh này). Về sau, các học già Ấn Độ, nương theo Áo nghĩa thư mà lập ra nhiều giáo phái. Phật giáo cũng nương một phần trọng yếu của Áo nghĩa thư, nhất là thấy ở những giáo lý thường khó hiểu (hay khó chấp nhận) nhất như thuyết luân hồi, nghiệp, niết bàn.
Thật ra, khi ra đời Phật giáo đã tập đại thành những tư tưởng của Bà La môn, và nhiều học phái khác ở Ấn Độ vào thời đó. chứ không phải chỉ từ một nguồn Bà la môn. Còn Ấn giáo (Hinduism) ra đời sau đạo Phật tới 7, 8 trăm năm, đã vay mượn ngược lại nhiều giáo lý từ đạo Phật, và điều nguy hiểm nhất là Ấn giáo đã “phong thần” cho Phật Thích Ca, đưa ngài lên hàng thứ 4 trong hệ thống thần linh của họ. Từ đó nhiều Phật tử Ấn đến chùa Ấn giáo để “lễ Phât” và cầu xin để sau cùng họ chấp nhận hệ thống đa thần của Ấn giáo. Có nhà sử học, như Will Durant gọi đó là vòng ôm (embrace) giết người: xưng tụng. đề cao đạo Phật để rồi giết chết bằng đồng hóa đạo Phật với Ấn giáo.
Sẽ có dịp nói thêm về các học phái, giáo phái khác ở Ấn Độ thời Phật giáo phát sinh.
Đôi lời cùng ông Phong Uyên.
Trong thời gian gần đây, thấy ông thích viết về các đề tài thuộc lãnh vực tôn giáo và triết học đăng trên trang Talawas. Tôi không biết ông hiểu được bao nhiêu về các lý thuyết của các nhà triết học và các Tôn giáo khác, nhưng tôi thấy ông hiểu rất ít, có khi hiểu sai về Phật giáo, mà lại thích viết nhiều về Phật giáo. Phải chăng, vì lý do “Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi.”?
Trong bài này ông đặt vấn đề lớn và to quá, nhưng nội dung chẳng giải quyết gì hết vậy, thưa ông? Trong phần đầu, (chẳng ăn nhập gì với ba ý chính ông muốn trình bày), ông bàn về lịch sử Phật giáo Thiền tông ở Tàu, Nhật, Hàn; rồi ông nói rất quả quyết rằng “phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII.” Tôi không dám quả quyết như ông, mà tôi đoán là ông lấy được ý này trong tác phẩm Thiền luận tập I của D.T. Suzuki hay tác phẩm nào đó nói về thiền tông, chứ thật ra ông chẳng phải là nhà sử học Phật giáo Trung Quốc gì, nên giả thuyết này chẳng phải của ông, mà ông lại viết với giọng văn như là một sử gia Phật giáo Trung Quốc. Và thật ra giả thuyết này vẫn còn nhiều tranh luận, chưa đủ chứng cứ sử liệu để phủ nhận lý thuyết về người sáng lập Thiền Tông Trung Hoa Bồ-đề Đạt-ma xưa nay.
Trong phần chính, tôi cứ hy vọng là sẽ biết thêm một hoặc một số ý tưởng mới về mối quan hệ giữa Ấn giáo và Phật giáo, và Ấn giáo và Thiên Chúa giáo, các đề tài đã tốn nhiều giấy mực của các học giả tôn giáo. Nhưng rồi lại thất vọng, chẳng thấy ý nào ăn nhập với “3 phần” mà ông “chia ra để trình bày”. Ở trên thì ông đặt là “1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.” mà ở dưới ông lại thay đổi thành “1.Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo.” Thôi thì ông muốn thì ông đổi, đó là cái quyền tác giả của ông. Tôi xin thưa với ông ngay là muốn hiểu Phật giáo Ấn Độ, không phải chỉ “hiểu một chút kiến thức về Ấn giáo”, mà phải hiểu nhiều về Ấn giáo, vì Phật giáo khởi nguyên từ Ấn Độ, đã phải tiếp biến hoặc nhiều hoặc ít những văn hóa, “cách sống” tốt đẹp của người Ấn Độ, theo như cách hiểu của ông “Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống…”
Không biết ông đọc được trong tác phẩm nào mà ông cho rằng “Ấn giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa”, nhưng theo chỗ tôi biết thì Ấn giáo (Hinduism) ngày nay là hậu thân Bà-la-môn giáo (Brahmanism) cổ xưa. Và ông lại lấy “định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966”, để định nghĩa về tôn giáo này. Không biết cái định nghĩa của Tóa án Tối cao này được trích từ đâu, chứ thật sự tôi nghi nghi, ngờ ngờ cái định nghĩa này quá. Tòa án tối cao thì lo việc xử án, sao lại đi lo chuyện định nghĩa này nọ không phải chuyên môn của họ.
Phần 2, ông tiếp “Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn”. Sao lại “muốn theo đúng với giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo” mà đức Phật phải “tách khỏi tôn phái Bà La Môn” vậy ông Phong Uyên, trong khi bốn bộ Vệ Đà là thánh điển của Bà-la-môn giáo? Rồi không biết ông tìm đâu ra đoạn thoại giữa đức Phật và một giáo sĩ Bà-la-môn “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó” mà vội cho rằng “Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như.” Theo chỗ tôi biết, mặc dù đức Phật không phủ nhận trời Phạm Thiên (Brahma) nhưng tôi không tìm đâu ra trong kinh điển đức Phật xem “Trời Brahma” là “Chân Như”. Nếu ông mới khai quật được kinh điển Phật giáo có đoạn kinh này, rất mong ông chia sẽ tư liệu quý hiếm này.
Phật cấm đệ tử của Ngài không được sát sanh, là vì lòng từ, vì mọi loài đều được quyền sống, đều ham sống, và đều sợ chết như chính bản thân ta (còn cái gì để ham sống… lại là chuyện khác); chứ Ngài có bảo là trong mỗi chúng sanh có một cái “Tiểu Ngã” đâu? Giáo lý vô ngã là một trong những giáo lý chính yếu của Phật giáo Nguyên Thủy, là đòn chí mạng đánh vào giáo lý Bà-la-môn giáo.
Rồi đến “Hội nghị Phật giáo thế giới năm 1956”: cũng có vấn đề cần thưa với ông. Trong những thập niên đó, Phật giáo tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo thu hút sự tham gia của nhiều tông phái tại nhiều quốc gia là để Tăng ni và thức giả của các tông phái khác nhau có dịp ngồi lại trao đổi nhằm hòa giải những dị biệt giữa các tông phái, tạo sự đoàn kết để phát triển Phật giáo và góp tiếng nói đòi độc lập cho các nước thuộc địa; tuyệt đối không có việc xác nhận tông phái Phật giáo nào là “thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy” cả.
Còn vài điều nữa muốn thưa cùng ông, nhưng thời lượng đã hết, tôi còn phải lo xong việc của ngày hôm nay, nên ngừng thưa chuyện với ông tại đây. Phần 3, bàn về Thiên Chúa giáo, sẽ có các vị am tường về giáo lý Thiên Chúa trao đổi với ông.
Người ta hay nói Thiên Kinh Vạn Quyển khi nói về kinh Phật. Đa phần được viết sau khi đức Phật chết. Nhưng khi qua đến Trung Quốc thì kinh sách được minh giải theo một hướng đi khác biệt với cái gốc ban đầu, chính vì thế mà đạo Phật ở Tàu hoặc ở Ta và các nước lân cận (may ra trừ Nhật bản), lại mang màu sắc mê tín dị đoan khá nhiều. Việt Nam và các nước lân cận là những minh chứng rõ ràng về sự ảnh hưởng đạo Phật nhập vào từ hướng Trung quốc chẳng hạn Phật A di đà, di lặc, Quan Thế Âm bồ tát (mà theo một số nguồn thì Phật Bà Quan Âm nguyên thủy là đàn ông), Đấu chiến thắng Phật Tôn hành Giả etc.
Tôi thì thích hướng thảo luận của bác Lê Quốc Trinh, đạo Phật khi thảo luận phải lý luận trên cái nguồn cội, chính là từ những gì đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngộ và truyền dạy lại (dù ông nói là ta không nói gì cả sau bao nhiêu năm giảng dạy các đệ tử), còn lý luận dựa trên các kinh Phật từ Tàu chắc là ta đã không đi đúng đường, e rằng bàn cho lắm chỉ tổ Tẩu hoả nhập ma thôi.
Hi Hi !!! Dzui thiệt hỉ ?
Ông (bà) XYZ nào đó đã nói như sau:
“…Thưa Sức Mạnh Mềm, chẳng lẽ ông/bà không biết Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng long trọng giới thiệu với đồ chúng về Tịnh Độ Tông với Phật A Di Đà, vốn nổi tiếng với thệ nguyện rằng bất kỳ sinh linh nào trước khi chết mà thành tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì sẽ được Ngài đón, cho vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Ngài sao kìa? Rõ ràng người ta cũng “1 phát ăn ngay” chứ có kém cạnh ai đâu, ông/bà Sức mạnh mềm hỉ?”…
____________________
Ý Chời ! Kinh sách Phật Giáo ấn tống tràn lan từ hơn hai ngàn năm nay, từ truyền khẩu cho đến truyền tai, tín đồ chư tăng cứ việc phóng tay sáng tác, tán dương hết ông Phật này (Phật A Di Đà, Phật Di Lạc) rồi đến Bồ Tát khác (Quan Thế Âm, Đia Tạng Vương, Phổ Hiền) làm gì có cơ quan nào dám đứng ra kiểm tra và kiểm duyệt hở ông (bà) XYZ ?
Bi chừ, tui hứng chí cúng dường xin phép in một cuốn kinh đồ sộ mới ca tụng một vị Phật sắp xuống trần cứu độ nhân loại mang tên XYZ, tui bỏ tiền quảng cáo rầm rộ trên TV, báo chí, tui bày trò phát chẩn miễn phí, dưới danh nghĩa đức Phật XYZ, có bảo chứng tại toà của Ngài Thích Ca Mâu Ni đàng hoàng. Bảo đảm trong vòng vài ba năm ông Phật XYZ của tui sẽ đi vào quần chúng và được xưng tụng “Nam Mô XYZ Phật”, có chi khó đâu, cái trò buôn thần bán thanh đó.
Bị dzậy mà tui phục lăn ông Phật Thích Ca Mâu Ni, ổng biết thế gian lắm kẻ gian manh sẵn sàng đem danh nghĩa ổng ra làm business kiếm cháo, cho nên ổng không bao giờ vỗ ngực tự xưng Giáo Chủ. Ổng còn nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, có điều ổng hy sinh gian khổ, bỏ mất ngai vàng cung điện, ngồi Thiền Định suốt 49 ngày dưới cội bồ đề chịu nắng mưa mới thành Phật. Còn quý vị A Di Đà, Di Lặc sao mà sướng thiệt, tự dưng buông lời thệ nguyện hứa hẹn hàng chục chuyện rồi được mang danh hiệu Phật quá ư dễ dàng. Ông Phật A Di Dà chỉ hứa dẫn dắt linh hồn tín đồ Tịnh Độ chỉ sau khi họ chết mà thôi, chớ lúc còn sống nhăn răng thì “ráng mà chịu cực khổ trăm bề”. Nhưng có ai đã dám thử “chết đi” để kiếm chứng lời hứa hẹn “vãng sanh miền Tây Phương Cực Lạc” không? Internet bây chừ phát triển rộng khắp, vào You Tube là biết liền hà !
Nói chung “No comments”. Chỉ tạt qua để học hỏi thôi vì sợ “tẩu hỏa nhập ma”, bởi nhiều khi tôi vẫn học hỏi và cám ơn rất nhiều ở những phản hồi hơn là ở chủ đề bài.
Cùng ý với ông Lê Quốc Trinh tôi thấy ở đây:
http://www.spaceandmotion.com/albert-einstein-god-religion-theology.htm
Qua mấy cú trích:
/ The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description .. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism. (Albert Einstein)
/ The individual feels the futility of human desires and aims and the sublimity and marvelous order which reveal themselves both in nature and in the world of thought. Individual existence impresses him as a sort of prison and he wants to experience the universe as a single significant whole. The beginnings of cosmic religious feeling already appear at an early stage of development, e.g., in many of the Psalms of David and in some of the Prophets. Buddhism, as we have learned especially from the wonderful writings of Schopenhauer, contains a much stronger element of this. (Albert Einstein, 1930)
/ But science can only be created by those who are thoroughly imbued with the aspiration toward truth and understanding. This source of feeling, however, springs from the sphere of religion. To this there also belongs the faith in the possibility that the regulations valid for the world of existence are rational, that is, comprehensible to reason. I cannot conceive of a genuine scientist without that profound faith. The situation may be expressed by an image: science without religion is lame, religion without science is blind. (Albert Einstein, 1941)
/ One strength of the Communist system … is that it has some of the characteristics of a religion and inspires the emotions of a religion.
(Albert Einstein, Out Of My Later Years, 1950)
Trước khi bàn về nội dung chính của bài viết, tôi xin góp ý về vài chi tiết nhỏ.
Ông Phong Uyên viết :”… vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.”
Đây là lần thứ hai ông Phong Uyên nói về số người theo đạo Phật Đại Thừa (Bắc tông), và riêng ở Trung Quốc. Khi bàn về Đại Thừa phải xét tới nhiều nước như Tây Tạng, Trung Quốc, Nga, Hàn quốc. Nhật, Đài Loan và Việt Nam. Trong đó ờ hai nước TQ và VN (chưa nóí tới Nga, Mông cổ, vài nước Trung Á), trong nhiều chục năm trước đã sống dưới chế độ ngăn cấm và kiểm soát chặt chẽ tôn giáo, mà nhiều người trong Phật giáo coi như gặp pháp nạn, tuy nay đã đỡ hơn trườc nhiều. nhưng chỉ đang trên đường hối sinh.
Theo Poster Stockwell, trong cuốn “Religion in China Today”, in tại Bắc kinh năm 1993 (ông Trần Quang Thuận trích dịch lại), sau Cách mạ.ng Văn hoá ở Trung quốc có 9000 ngôi chùa Phật, số lượng Phật tử trên dưới 100 triệu người, tăng ni khoảng 200 ngàn (82000 người Hán, 110000 Lạt na, 8000 PG Nguyên thủy), Phật tử đi lễ chùa rất nhiều (trích từ “Phât giáo Trung Hoa dưới thời Mao Trạch Đông” của Trần Quang Thuận, in năm 2003 tại Mỹ, trang 345). Trong thời CMVH, chùa bị đóng cữa, chư tăng buộc phải lao động ngoài đồng áng,hay trong nhà ná. Bây giớ tăng nỉ đã trỏ lại các chùa không bị phá hủy.Vào năm 1993, chùa Ngọc ở Thượng Hải có 160 chư tăng cư ngụ, tại các chùa Lạt Ma ở Tây Tạng, Nội Mông và Thanh Hải, số lượng tăng lên đến hàng nghìn.
Nhưng so với thời Cộng hoà Dân quốc Trung Hoa (trước 1949), Trung quốc có 252.866 ngôi chùa, số lượng tăng ni không kể Tây Tạng là 738.000 (sách dẫn, trang 397).
Ngày nay, đạo Phật ở Trung Quốc trên đà hồi phục, theo số liệu mới nhất có chừng 600 triệu tín đồ, phần đông theo Tịnh Độ và Thiền Tông, không kể theo Lat Ma giáo (một số it gần biên giới Miến Điện theo Nguyên Thủy. Xin trích đoạn sau đây trên Wikipedia ”
Today the most popular form of Buddhism in China is a mix of the Pure Land and Chán schools. More recent surveys put the total number of Chinese Buddhists between 660 million (50%) and over 1 billion (80%),[20][54] thus making China the country with the most Buddhist adherents in the world, followed by Japan. However, it was difficult to estimate accurately the number of Buddhists because they did not have congregational memberships and often did not participate in public ceremonies.[28]. It should be noted that many Chinese Mahayanists identify themselves as Taoist.
(http://en.wikipedia.org/wiki/Religion_in_China#Buddhism )
Tôi nhớ có lần ông Phong Uyen viết HT Hư Vân bị Hồng vệ binh giết chết, và từ đó đó Phật ở Trung quốc suy sụp,coi như không còn gì. Thật sự ngài Hư Vân là danh tăng thời cận đại cùa Trung quốc, thọ 120 tuổi (sinh măm 1940), cư trú ở chùa Vân Môn , Quảng Đông. Năm 1951, ngài bị bắt, đánh đập, tra tấn gần chết, nhưng may được một trong 6 phó chủ tịch chính quyền nhân dân Trung quốc tên Chu Teh can thiệp, nên ngài được thả cùng năm và được đối xử tử tế. Chu Teh trước kia khi chỉ huy quân đội đánh với Quốc Dân đảng bị thảm bại tại Vân Nam, được HT Hư Vân giúp đỡ, cho ần núp trong chúa Hua Ting, Vân Nam. Năm 1959, HT Hư Vân viên tịch, tin này được Tân Hoa xã thông báo, và lễ cầu siêu được tổ chức tại trụ sở Phật giáo Trung Hoa ở Bắc kinh (theo sách của TQT trang 253). Cuộc Cách mạng Văn hóa chỉ bùng nổ ở TRung quốc năm 1966.
Ở Nhật, có từ 85 – 95% dân số cho là họ theo đạo Phật ( Đại thừa) chung với Thần đạo, đa số thuộc tông pháí Tịnh Độ, Nhật Liên và Zen (Thiền tông. Nói chung, người Nhât khi cưới hỏi làm lễ tại đền Thần đạo, và khi chết họ theo nghi lễ Phật giáo (91% người Nhật làm tang lễ theo nghi thức Phât giáo). Nam Hàn hiện có 10 ngàn ngôi chùa và 20 ngàn sư tăng, với 15 triệu người cho la họ theo đạo Phật (Đại thừa).
Về vài điểm khác thuộc nội dung bài này, tôi sẽ góp ý sau. Nhưng đã thấy hai ông Phong Uyên và Nguyễn Hữu Liêm không nói gì tới chuyện phủ định Atman (Tiểu ngã) trong thuyết Vô ngã được nêu cao trong Phật giáo Nguyên Thủy. Hay là để biện minh cho sự gần gủi giữa Ấn giào và Phật giáo, người ta bây giờ muốn làm thay đổi quan niệm lúc đầu về Atman. Cái này gọi là đánh tráo khái niệm chăng ?
H
Theo thiển nghĩ thì những cuộc thảo luận về đạo Phật của các bác ở đây cởi mở (open-minded) đấy chứ vì nếu nhất quyết ăn thua đủ thì chắc ông Phật buồn lắm.
1. Sức mạnh mềm nói: “…Darwin nghiên cứu và phát minh ra luật hấp dẫn từ 1 sự tình cờ bởi 1 sự kiện khách quan,…” Wow ! “cứng” như đinh đóng cột vậy. Xin hãy coi lại sách, và “mềm” hơn chút nữa.
2. Cũng lại nói: “…lời kêu gọi Liên tôn chống Cộng đặt mọi tôn giáo khác dưới trướng của Vatican, do giáo hoàng J.Paul đệ nhị khởi xướng” với thái độ kỳ thị Công Giáo La mã ? Cũng bởi kỳ thị nên tiếp tục “cứng” hơn: “… Tin rằng từ khi sinh ra, được làm các lễ Thánh, tin và cầu nguyện Chúa thì sẽ lên Thiên đàng ngay sau khi chết (1 phát ăn ngay), đạo Phật thì không, cho là phải có quá trình vô lượng kiếp”. Cái này mới thật “cứng”, khó nuốt dữ đây. Thưa Sức mạnh mềm, chẳng lẽ ông/bà không biết Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng long trọng giới thiệu với đồ chúng về Tịnh Độ Tông với Phật A Di Đà, vốn nổi tiếng với thệ nguyện rằng bất kỳ sinh linh nào trước khi chết mà thành tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì sẽ được Ngài đón, cho vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Ngài sao kìa? Rõ ràng người ta cũng “1 phát ăn ngay” chứ có kém cạnh ai đâu, ông/bà Sức mạnh mềm hỉ? Mà nè, ông/bà đừng có biểu tui Tịnh Độ Tông không phải là Phật Giáo nghe, họ chiếm tỉ lệ áp đảo (85-90%) số tín đồ Phật giáo xưa nay lận đó. Xin ông/bà chịu khó mở sách thêm lần nữa nghe.
Ông bạn P. lại đưa ra thêm một nhận định khác:
“…việc thuyết phục họ niềm tin có vô số con đường để tiếp cận Thượng Đế, hay Chân Lý, trong đó con đường Khoa Học cũng là một con đường, thì thường khó khăn hơn [nhiều] – nói chính xác là hầu như tôi chưa bao giờ thành công cả.” (Quote)
___________________
Thế thì mời ông P. dẫn chứng và phân tích xem “con đường Khoa Học nào sẽ đưa nhân loại tiếp cận Thượng Đế”? Thượng Đế hay Chân Lý, giống nhau ở chỗ nào? Ông P. hiểu sao về hai chữ Thượng Đế?
Tôi nhớ không lầm nhà bác học A. Einstein từng tuyên bố rằng “tôn giáo tín ngưỡng giống như một trò chơi trẻ con”, tôi vô tình đọc được trên Internet cách đây một năm, nhưng quên không giữ lại reference, ai biết xin cho link dẫn chứng.
Ngược lại [và điều này tôi cũng trải qua khá nhiều lần], khi tôi nói chuyện với một tín đồ đạo Thiên chúa [Catholic, Protestant, Pentecostal], việc thuyết phục họ niềm tin có vô số con đường để tiếp cận Thượng Đế, hay Chân Lý, trong đó con đường Khoa Học cũng là một con đường, thì thường khó khăn hơn [nhiều] – nói chính xác là hầu như tôi chưa bao giờ thành công cả.
Sự khác biệt giữa 2 sự tiếp nhận hẳn có nguyên do nằm sâu trong truyền thống văn hóa, tôn giáo. Nó cũng có thể cho thấy những người theo truyền thống Phật giáo vốn thực sự không phủ nhận một khái niệm Thượng Đế có tính siêu việt, nên họ dễ dàng đi đến kết luận chung hơn.
***
Ngoài lề: trang Phattuvietnam.net đáng ra không nên khi là “truyện tranh Ky-tô giáo”, như vậy là quá tổng quát hóa. Đây là truyện tranh viết bởi những người fundamentalist ở Mỹ, mà những người này bị phản đối bởi những người Thiên chúa giáo khác cũng không ít.