talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?

16/03/2010 | 2:06 chiều | 70 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Đời sống, Tổng hợp
Thẻ:

Có lẽ con người khác với con vật ở chỗ ngoài bản năng tự tồn còn có ý thức về sự tồn tại của mình, nghĩa là sự sống chết của mình, nên đã tạo ra đạo giáo và triết học. Đạo giáo dựa trên đức tin, triết học dựa trên lí trí. Các đạo giáo tin con người gồm 2 phần: tinh thần (linh hồn) và thể xác. Triết học từ khi mới khởi đầu, cách đây 2500-3000 năm ở Ấn Độ và ở Hi Lạp, cũng đã chia làm 2 phái: Duy tâm, suy luận là tinh thần có sự sống độc lập với thể xác, tiếp tục tồn tại sau khi thể xác chết. Duy vật, suy luận ngược lại là tinh thần chỉ là vật chất, được cấu tạo như mọi vật chất bởi những nguyên tử kết hợp với nhau. Khi chết các nguyên tử rời rã nhau, tinh thần cũng sẽ tiêu tan.

Từ cuối thế kỷ thứ XIX, khoa học không còn phụ thuộc triết học về phương pháp suy luận nữa và đạt được nhiều tiến bộ nhờ phương pháp thực nghiệm chỉ công nhận sự hiện hữu của những gì có thể quan sát, thử nghiệm và chứng minh được.

Là một ngành của khoa học, Y khoa không có ý kiến gì về sự sống chết của cái phần của con người gọi là linh hồn, vì không thể quan sát và thử nghiệm nó được.

Cho tới cuối thế kỷ thứ XX, Y khoa lấy tiêu chuẩn để định nghĩa sự chết là sự chết của thể xác khi không còn hơi thở và tim ngưng đập. Tình trạng này gọi là chết lâm sàng (mort clinique). Nếu sau một thời gian vẫn không hồi phục được những chức năng hô hấp và tuần hoàn thì người bệnh bị coi là đã chết hẳn.

Những năm gần đây, kỹ thuật hô hấp nhân tạo (respiration artificielle) và hỗ trợ tuần hoàn (assistance circulatoire) có những tiến bộ phi thường, khiến có thể hồi phục được gần như vô hạn định hoạt động của tim, phổi mặc dầu người bệnh vẫn ở trong tình trạng hôn mê. Y khoa thấy cần phải đưa ra một tiêu chuẩn (critère) khác về sự chết, không phải khi tim phổi ngưng hoạt động mà là khi bộ óc không còn biểu lộ một hoạt động nào nữa, gọi là chết não hay hôn mê quá giai đoạn.

Người bệnh bị coi là ở tình trạng Chết não khi điện não ký (électroencéphalographie) không còn ghi nhận được một biến đổi điện thế nào ở vỏ não (cortex), cho một điện não đồ phẳng lặng  (Electroencéphalogramme plat). Chết não được coi là chết hẳn nếu 30 phút sau điện não đồ thứ hai vẫn phẳng lặng. Nhiều nhà khoa học cho đó là một bằng chứng không thể chối cãi được là cái gọi là tinh thần chỉ là sản phẩm của bộ não vì khi bộ não bị coi là chết, không còn một biểu hiện nào của ý thức nữa.

Thời gian gần đây, khoa hồi sức (Réanimation) và khoa giải phẫu lập ra những kỳ công không thể tưởng tượng nổi, có thể coi là những phép lạ: nhiều bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng hay chết não được hồi sinh.

Và kỳ lạ hơn nữa là nhiều người được “cải tử hoàn sinh” nhớ và kể lại những nhận thức và những cảm nhận của mình trong thời gian bị coi là chết, như trở về từ một thế giới khác. Khoa học gọi những hiện tượng này là: NDE (near death experiences), tiếng Anh, hay EMI (experiences de mort imminente), tiếng Pháp. Dịch ra tiếng Việt là Kinh nghiệm cận tử.

Những kinh nghiệm cận tử này chứng tỏ Ý thức, biểu hiện của Tinh thần có đời sống độc lập với bộ óc tất nhiên là không phải từ bộ óc mà ra. Nhiều trung tâm khoa học trên thế giới được thành lập để nghiên cứu và tìm hiểu những kinh nghiệm cận tử này như American for the Advancement of Science (AAAS), Đại học Virginia Mỹ và Đại học Northampton Anh v.v… Đó cũng là đề tài của cuộc hội thảo năm 2006, ở tỉnh Martigues (Pháp) với hơn 2000 nhà khảo cứu đến từ nhiều nước.

Hiện tượng DNE đầu tiên được giới khoa học nghiên cứu là trường hợp cô ca sĩ Pam Reynolds 35 tuồi bị Túi phình mạch não (anévrisme artérielle) phải giải phẫu với rất ít hi vọng sống được vì năm đó là năm 1991, kỹ thuật mổ “túi phình mạch não” còn mới mẻ và đầy bất chắc. Cô Pam bị đặt vào tình trạng chết lâm sàng (mort clinique): nhiệt độ xuống còn 15,5°C. Khi bác sĩ giải phẫu bắt đầu cắt da đầu thì cô Pam thấy mình ra khỏi thân xác. Người ngược trở lại 180°, từ trên cao cô thấy tóc mình bị cạo sạch và cái cưa bác sĩ dùng có nhãn hiệu là Midas Rex. Cô nghe các bác sĩ giải phẫu trả lời nhau và sai người phụ mổ. Cũng vẫn ở tình trạng trầm bổng (lévitation), cô thấy mình xuyên qua một hầm tối trước khi đến một nơi đầy ánh sáng và rất ấm cúng. Cô có cảm tưởng gặp lại bà con bạn bè đã chết và cô nhận diện được một ông cậu chết trước đây và ông cậu đem cô lại chỗ xác chết giá lạnh của ông. Cô Pam kể khi tỉnh lại làm cả ê kíp bác sĩ đều ngạc nhiên vì trong tình trạng chết lâm sàng, máu ngưng luân chuyển, máy điện tử (monitoring) ghi nhận óc ngưng hoạt động, làm sao cô có thể kể lại một cách mạch lạc những sự kiện đã xảy ra.

Cuốn sách đầu tiên nói về kinh nghiệm cận tử là cuốn best-seller của bác sĩ Raymond Moody, Cuộc sống sau cuộc sống (La vie après la vie) xuất bản năm 1976. Những cuốn sách nổi tiếng mới đây là cuốn của bác sĩ J.J Charbonnier, Những bằng chứng khoa học của cuộc sống sau đời sống (Les preuves scientifiques d’une vie après la vie) và cuốn sách mới xuất bản được mấy tuần đã được The New York Times đưa vào danh sách best-seller là của bác sĩ Jeffrey Long, chuyên khoa Quang tuyến ung thư người Mỹ Evidence of the After-life (Bằng chứng sau cuộc sống), đều kể lại những chuyện tương tự của những người đã ở tình trạng chết lâm sàng hay hôn mê quá giai đoạn (coma dépassé). Những cuốn sách này dành cho đại chúng, còn giới khoa học có thể theo dõi những công trình về kinh nghiệm cận tử qua các tạp chí y khoa.

Giáo sư Pim Van Lommel chuyên khoa tim mạch người Hoà Lan trình bày trong tạp chí y học nổi tiếng nhất thế giới Lancet năm 2001, một công trình sưu tập những lời chứng của 344 bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng vì tai biến tim mạch: 18% những người này khẳng định có kinh nghiệm “chết đi sống lại”.

Gần đây nhất, trong số in ngày 25-02-10, tạp chí y học Mỹ Mediscape Medical News nói về những kinh nghiệm cận tử mà bác sĩ Jeffrey Long, tác giả một cuốn sách nói trên, đã sưu tập. Trong vòng 10 năm bác sĩ Long đã nghiên cứu cả thảy hơn 1300 trường hợp trong viện DNE Research Foundation (Tổ chức Nghiên cứu Cận tử), một viện nghiên cứu cận tử được coi là lớn nhất thế giới do ông thành lập. So với những trường hợp cận tử được các trung tâm nghiên cứu khác trên thế giới thâu thập thì những kinh nghiệm cận tử này đều có những điểm giống nhau:

1. Cảm tưởng biết mình đã chết nhưng thấy ý thức mình trở lên trong sáng (crystal clear consciouness).

2. Cảm giác thoát khỏi thân xác (décorporation), bay bồng bềnh (lévitation), nhìn thấy thân thể mình từ cao xuống. Một người kể lại “Tôi thấy tôi từ đằng sau lưng… Tôi thấy gáy cô y tá đang tìm cách hồi sinh tôi bằng phương pháp miệng-miệng (bouche à bouche).

3. Cảm tưởng như mình ở trong một thân thể phi vật chất, di chuyển qua một đường hầm hướng dẫn bởi một luồng ánh sáng (tunnel).

4. Cảm tưởng tới một nơi đầy ánh sáng. Một thứ ánh sáng chan hoà đầy an lành, đầy khoan khoái không bao giờ thấy khi còn sống. Gặp lại những người thân đã chết, có người trước khi mình ra đời, có người mình đã quên hay khi còn quá trẻ để có thể nhớ lại. Thấy những “hình dạng” chan hoà ánh sáng” biểu lộ một Tình thương vô biên.

5. Chỉ trong khoảng khắc hồi tưởng lại cả cuộc đời khiến có cảm tưởng thời gian-không gian bị xóa nhoà.

6. Hối tiếc khi phải trở lại cuộc sống.

Những kinh nghiệm này đều giống nhau dù những người kể lại ở những vùng khác nhau trên thế giới có văn hoá khác nhau. Ngay cả những con nít còn nhỏ tuổi chưa có quan niệm gì về sự chết, về đạo giáo hay chưa bao giờ được nghe kể về NDE, cũng kể lại y hệt.

Có những nhà khoa học cho là những trạng thái ý thức (états de conscience) kể trên đủ để chứng tỏ tinh thần có một cuộc sống độc lập với thể xác (bộ óc) và cho biết có một cõi khác (l’au-delà) hoàn toàn khác lạ với thế giới của cuộc sống hiện tại.

Nhưng có những nhà khoa học hoài nghi đưa ra những giải thích khác:

– Những hiện tượng NDE đó chỉ là những biểu hiện thuần sinh lý do thác loạn tế bào thần kinh (désordre neuronal) tạo ra.

– Có thể là do tác động của những thuốc gây mê như kétamine hay ibogaïne.

– Có nhiều trường hợp  endorphines được tiết ra khi óc bị thiếu oxygène, tạo ra những cảm giác khoan khoái khi tỉnh người bệnh hồi tưởng lại.

– Thiếu oxygène cũng có thể kích thích những vùng (zones) tạo hình và ký ức của bộ não, khiến làm nhớ lại những kỷ niệm xưa.

– Ngay khi ở tình trạng chết lâm sàng, những mẩu ý thức (fragments de conscience) có thể vẫn còn sót lại.

– Vả lại khi óc không còn oxygène, không phải mọi vùng trong óc đều ngưng hoạt động cùng một lúc: Có thể có những vùng trong óc chưa bị tê liệt khi bị kích thích đã tạo ra những cảm giác NDE và người bệnh khi tỉnh lại đã tự nối kết những cảm giác đó với nhau thành có đầu có đuôi.

– Những thử nghiệm kích thích thùy não thái dương (lobe temporal) làm trên những người bị động kinh (épileptique) ở Đại học Bách khoa Lausanne và Viện Karoslinka ở Stockholm cho thấy là có thể tạo ra cảm giác thoát xác.

– Giáo sư Kevin Nelson khoa Thần kinh Đại học Kentucky Mỹ giảng giải là cảm tưởng bay trong một đường hầm đầy ánh sáng là do thiếu máu võng mạc (mắt).

Mario Beauregard, nghiên cứu sinh về Não học ở Đại học Montréal, tác giả cuốn Từ óc tới Trời (Du cerveau à dieu) phản biện lại và cho những giải thích đó không đủ thoả mãn:

– Khi tim ngưng đập, điện não đồ không còn ghi nhận được một dấu hiệu nào chứng tỏ bộ óc còn hoạt động mà những quá trình tâm thần (processus mentaux) như tri giác, ý thức, ký ức, vẫn diễn tiến để khi người bệnh sống lại có thể kể một cách rất rành mạch có đầu có đuôi những kinh nghiệm trong thời gian óc bị coi là chết, chứ không phải chỉ nhắc lại những ấn tượng rời rạc chớp nhoáng (instatanées) như trong các thử nghiệm kích thích óc kể trên, thì phải đưa ra giả thử là có một cái gọi là tinh thần hoàn toàn độc lập với bộ óc.

– Sự thiếu oxygène cũng không đủ để giải thích những hiện tượng EMI, vì nếu như vậy đa số những bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng thiếu oxygène đều phải trải qua hiện tượng EMI.

Hiện giờ Mario Beauregard đang cùng những nhà khoa học khác đưa ra chương trình thực nghiệm Aware: Một số bệnh viện Anh, Mỹ, Canada, Pháp… đồng ý thực hiện chương trình này. Trong phòng mổ sẽ giấu những đồ vật hay những biểu tượng ở một chỗ mà từ bàn mổ không thể trông thấy được. Nếu bệnh nhân hoàn sinh sau khi chết lâm sàng hay chết não mà nhận ra được nó, thì đó là chứng cớ tinh thần người bệnh đã thoát khỏi thân thể mình.

Nếu những thực nghiệm này đem lại kết quả, sẽ có nhiều người coi đó là chứng cớ hiển nhiên nhất, là có một sự sống khác độc lập với thể xác. Nhưng cũng có người cho là không đủ và cho đó chỉ là những tình cờ hú hoạ.

Chỉ có những người đã tự mình trải qua cuộc “chết đi sống lại” như ông Philippe Labro, một nhà văn nhà báo Pháp được nhiều người biết tiếng, kể lại trường hợp của ông khi bị hôn mê quá giai đoạn trong cuốn La Traversée: “Tôi thấy mình ra khỏi thân thể, tôi có cảm tưởng nhìn thấy tôi trên giường bệnh và quanh tôi là cả một ê kíp bác sĩ…”, mới nhìn sự chết với con mắt khác, không còn sợ hãi nữa.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

70 Comments (bài “Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?”)

  1. Anh Dũng viết:

    Ông Hòa Nguyễn !

    1. “Marx và những người theo ông đã làm được gì?”

    Câu hỏi này chỉ có thực tế khách quan mới trả lời được. Dù là ai trả lời thì cũng đều là chủ quan cả.

    Nhưng tôi không hiểu ông bảo “Không đặt câu hỏi…” rồi ông lại kể lể tràng giang đại hải ngay sau đó để làm gì.

    2. “Cái khổ nạn “người bóc lột người” nói trên là nói về kinh tế hay về chính trị ?”

    Chính trị do kinh tế quyết định. Đương nhiên, nói đến “bóc lột” là nói đến bóc lột kinh tế, và chính nó đẻ ra sự bất bình đẳng về chính trị.

    3. “nhưng Marx và những người theo Marx trong gấn một thế kỷ đã làm được gì ngoài…”

    Ở bên trên ông hỏi, ở bên dưới thì tự ông lại trả lời. Đó là những việc vô nghĩa, vì ông tự biên tự diễn.

    4. Còn ông bảo Trung Quốc và Việt Nam “bóc lột quyền” này nọ thì đó chỉ là sự bịa đặt.

    Đề nghị ông chỉ ra một ví dụ cụ thể về cái mà ông gọi là “bóc lột quyền, tước đoạt quyền”, tôi sẽ ngay lập tức chỉ ra một sự tương đồng ở các nước phát triển khác.

    5. “Như thế có phải Marx đã đưa ra những khẩu hiệu rỗng tuếch về giải pháp “người bóc lột người”.”

    “người bóc lột người” là một hiện trạng cần xóa bỏ chứ không phải là “giải pháp”.

    Còn những phong trào Cộng Sản, những cuộc đình công, những cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của công nhân,…chính là HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ minh chứng rõ ràng rằng xu hướng tất yếu của nhân loại là xóa bỏ hiện trạng người bóc lột người.

    6. Ngay ở một comment trước tôi đã nói rằng K.Marx chưa bao giờ phê phán Đạo Phật hoặc đánh đồng Đạo Phật với các tôn giáo khác.

    Vì một lẽ dễ hiểu là tư tưởng của K.Marx và tư tưởng của Đạo Phật đều có cùng MỤC ĐÍCH nhân đạo. Nhưng chỉ khác nhau về PHƯƠNG TIỆN: trong khi K.Marx chủ trương đấu tranh thì Đạo Phật chủ trương hô khẩu hiệu kêu gọi bắt tay kết đoàn.

    Tuy nhiên, thực tế là hiện nay cả nhân loại đang sống trong sự kiểm soát của Pháp luật hay Nhà nước – là những công cụ CHUYÊN CHÍNH hay có tính CƯỠNG BỨC thuần túy. Nếu không có xã hội Cộng Sản – một xã hội không cần nhà nước và pháp luật là những công cụ để cưỡng bức và ép buộc nhau, một xã hội tự giác – thì Đạo Phật càng thể hiện sự VÔ NGHĨA vì XA RỜI THỰC TIỄN.

    7. “khi con người xây dựng được môt chế độ xã hội cho là hoàn chỉnh, nhưng nếu lòng tham dục của con người vẩn còn, thì hẳn vẫn còn có những chuyện tham nhũng, tham ô, người ăn cắp của người, của công , và tiếp diễn chuyện “người bóc lột người” dưới nhiều hình thức.”

    Trong xã hội Cộng Sản, nhà nước không có thì không có chuyện “tham nhũng, tham ô, ăn cắp của công”.

    Ngay cả “bóc lột” cũng không có vì “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” cơ mà.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Anh Dũng: “K.Marx chỉ tập trung giải quyết cái khổ nạn “người bóc lột người” thôi”.

    Nhưng Marx và những người theo ông đã làm được gì? Không đặt câu hỏi thách thức là họ đã giải quyết được chưa, hay trong bao lâu nữa thì giải quyết được cái khổ nạn họ nêu lên đó. Và tại sao các chế độ Cộng sản đã sụp đổ, hoặc biến dạng , trở thành cộng sản lai căng tư bản như thấy ở Trung Quốc, Việt Nam (để thành hình các giai cấp giàu nghèo ngày càng rõ rệt) mà sự việc này có lẽ ngoài sức tưởng tượng của Marx, Lenin khi họ còn sống. Hoặc vài chế dộ cộng sản thoái hoá thành phong kiến, cha truyền con nối, anh truyền cho em, như ở Bắc Triều Tiên, Cuba.

    Cái khổ nạn “người bóc lột người” nói trên là nói về kinh tế hay về chính trị ?

    Nếu là về kinh tế thì xóa bỏ hết các giai cấp chứ gì, nhưng Marx và những người theo Marx trong gấn một thế kỷ đã làm được gì ngoài hàng chục triệu người phải chết oan uổng, vô nghĩa ở Liên Xô, Trung Quốc, Kampuchia vì chủ trương, phương cách của họ. Nhưng về chính trị những người Marxist đã bóc lột quyền làm người, quyền sinh hoạt chính trị chính đáng của đông đảo người khác, mà nếu xét ở từng nước thì nhiều hơn số đảng viên tại nước đó. Ở Trung Quốc số đảng viên dưới 100 triệu bóc lột, tước đoạt nhân quyền chân chính của hơn 1, 2 tỷ người khác, còn ở Việt Nam với hơn 3 triệu đảng viên trong số 86 triệu dân. Cái gọi là xóa bỏ giai cấp bóc lột đã tạo ra môt giai cấp mới nắm hết mọi quyền lực trong nước bao gồm hết các mặt chính trị, xã hội , sinh hoạt văn hóa, và nhiều thứ khác. Ai là người Việt Nam dù đang trong nước hay ở ngoài nước đều biết rõ chuyện như thế, không thể che giấu hay tìm cách tuyên truyền ngược lại. Và tất nhiên người ở nhiều nước khác còn có thể biết rõ hơn do kiến thức chung của họ cao hơn dân tộc VN. Như thế có phải Marx đã đưa ra những khẩu hiệu rỗng tuếch về giải pháp “người bóc lột người”.

    Đạo Phật khi mới thành hình đã nêu cao lời kêu gọi coi mọi người (gọi là chúng sinh) đều bình đẳng ngay ỡ trong một xã hôi phân chia giai cấp nghiệt ngã nhất thế giới là Ấn Độ. Ở xứ đó, họ cho cái bóng của một người Ấn thuộc giai cấp tiện nhân cũng là ô uế cần phải tránh ! Vậy mà trong tăng đoàn Phật giáo nguyên thủy có một “tiện nhân” như thế (trước làm nghề đổ phân người) trở thành cao tăng , được trọng vọng và xếp vào hàng đầu về giới hạnh. Tất nhiên đạo Phật cũng thấy sự bất bình đảng của con người là nguyên nhân của nhiều khổ đau, nhưng phương pháp (hành động ) của đạo Phật là bất bạo động (nhất là không giết người, hành hạ người khác bất kể vì mục đích gì), và dựa vào giáo dục, chuyển hoá (qua tu tập) để làm thay đổi bên trong con người và lan dần ra ngoài xã hội. Tại sao có sự bóc lột? Với đạo Phật là do lòng Tham dục, và coi đây là bản chất xấu hàng đầu thấy ở mỗi con người. Muốn được của cải vật chất nhiều hơn phần mính đáng có, được nhiều hơn người khác, muốn chiếm đọat sở hữu của người khác, từ đó sinh ra chuyện người bóc lột nhau bằng hình thức tinh vi hay thô bạo (như hành động ăn cắp, ăn cướp. Phương pháp đạo Phật đề nghị là dùng nhiều cách tu tập, sống, sinh hoạt thích đáng để dần dần làm giảm bớt lòng tham dục, sau cùng tiến tới diệt trừ hẳn.Nhưng phải cần bao lâu để môt cá nhân hay cả loài người hết tham dục ? Không thể trả lời được vì tuỳ thuộc ở bản chất của con người, nhưng dù thế nào đạo Phật đề nghị không dùng bạo động, bạo lực, cưỡng ép kẻ khác đoạn tuyệt với tham dục.

    Thử tưởng tượng nhiều ngàn năm sau, khi con người xây dựng được môt chế độ xã hội cho là hoàn chỉnh, nhưng nếu lòng tham dục của con người vẩn còn, thì hẳn vẫn còn có những chuyện tham nhũng, tham ô, người ăn cắp của người, của công , và tiếp diễn chuyện “người bóc lột người” dưới nhiều hình thức.

  3. Anh Dũng viết:

    Ông Hòa Nguyễn !

    1. “Đạo Phật không cho những thứ đó là “bình thường”, nhưng ở đây không bàn đến cách giải quyết của đạo Phật như thế nào (dù sao không phải là chấp nhận,an phận)”

    Ông không muốn bàn hoặc ông không đủ trình độ để bàn thì đừng nói lấy được “dù sao” ở đây.

    2. “thử hỏi K. Marx có những giải pháp gì hữu hiệu về các khổ nạn nêu trên.”

    K.Marx không tham vọng vô biên đến mức giải quyết tất cả các khổ nạn như Đạo Phật, K.Marx chỉ tập trung giải quyết cái khổ nạn “người bóc lột người” thôi. Nhưng Đạo Phật tham vọng vô biên là thế mà chỉ toàn “hô khẩu hiệu” chứ cũng đã giải quyết được cái khổ nạn nào đâu.

    3. “Nếu như xã hội Cộng sản xây dựng thành công, các khổ nạn trên còn tồn tại nữa không?”

    Tôi nhắc lại rằng K.Marx chỉ tập trung giải quyết khổ nạn “người bóc lột người”. Còn giải quyết các khổ nạn khác là việc chung của cả loài người trong sự đoàn kết ( không bóc lột lẫn nhau ).

  4. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Anh Dũng viết : “Đúng là Đạo Phật thấy “khổ đau” của chúng sinh rất “bình thường”, khuyên chúng sinh làm quen rồi chấp nhận ( an phận và cam chịu ); còn K.Marx không có được cái tư tưởng an phận và cam chịu đó của Đạo Phật nên mới hối thúc đấu tranh để xóa bỏ khổ đau.”.

    Đạo Phật nêu ra bốn mối khổ đau lớn: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Thí dụ vế cái khổ của “Sinh”: từ lúc nằm trong bụng mẹ cho đến khi mười mấy tuổi vẫn chưa có thể tự sinh sống, phải nhờ vã, được sự cưu mang, dạy dỗ của nhiều người khác, nên quả là khổ (thử nghĩ đến tình cảnh bị chết cha mẹ lúc còn thơ, như nhiều trẻ con ở VN hiện nay). Còn có cái đau đớn của người mẹ khi sinh con, nỗi nhọc nhằn khi nuôi con. Về “Bệnh” tuy y hoc ngày nay tiến bộ, nhưng ngay tại các nước tiên tiến nhất, Bệnh vẫn còn là khổ nạn lớn. Lão và Tử không ai muốn mà vẫn không thế tránh khỏi. Ngoài ra, còn có những khổ nạn khác trong cuộc sống, chỉ kề hai thứ là “yêu mà không được sống gần nhau hay phải ly biệt” , và “ghét nhau mà phải sống chung, phải đối đầu nhau thường trực” (như các nhà dân chủ đối kháng với công an nhà nước).

    Đạo Phật không cho những thứ đó là “bình thường”, nhưng ở đây không bàn đến cách giải quyết của đạo Phật như thế nào (dù sao không phải là chấp nhận,an phận). Tuy nhiên, thử hỏi K. Marx có những giải pháp gì hữu hiệu về các khổ nạn nêu trên. Nếu như xã hội Cộng sản xây dựng thành công, các khổ nạn trên còn tồn tại nữa không?

  5. Anh Dũng viết:

    Ông/bà Nu Hoang !

    1. “họ rất muốn và luôn luôn nằm lòng câu nói của vị giáo chủ duy vật là Karl Marx: ” Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng bị áp bức”.”

    Ý nghĩa thực sự của câu “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” là gì thì tôi đã giải thích cặn kẽ ở một comment trước rồi. Việc ông/bà hiểu sai hoặc cố tình xuyên tạc thì không ảnh hưởng gì đến tính đúng đắn của K.Marx cả.

    2. “người CS đã khuyến khích các phương tiện thờ cúng, lễ bái .. nhằm làm chệch hướng mục tiêu của các tôn giáo và “hạ thấp” nền tảng triết lý cao đẹp của tôn giáo bằng các trò lễ bái đầy mê tín, dị đoan, cầu xin, bùa ngãi…(như hiện nay nhan nhãn ở trong nước).”

    Ông/bà Nu Hoang lại vu khống giống ông Quốc Trinh rồi.

    3. “Nhà Nước Việt Nam gọi các trò mê tín dị đoan này là “tự do tôn giáo” (phải chăng, đó chính là tự do tôn giáo định hướng XHCN theo ý của họ??) để che đậy dã tâm bóp chết tôn giáo đích thực.”

    Trái lại, nhà nước Việt Nam luôn chống mê tín dị đoan. Việc “gọi” chẳng qua chỉ là cách gọi của bản thân ông/bà Nu Hoang.

    Ông/bà Nu Hoang quảng cáo “tôn giáo đích thực” là vô ích. Tôn giáo chỉ sống được bằng “niềm tin”, “tôn giáo đích thực” chính là bảo người ta phải tin một cách “đích thực mù quáng”.

    4. “Phật giáo, một tôn giáo có triết lý thậm thâm đề cao sự phá vỡ xiềng xích của Vô Minh, Ngu Dốt, Chấp Nhất bằng những công phu, tuyệt kỹ để đạt đến Trí Tuệ đích thực, sự sáng suốt của Chân Trí và thực hiện Hạnh Phúc chân thực ở ngay tự thân mỗi con người, không nương nhờ vào sức mạnh của Thượng đế, Thần linh nào khác ngoài chính mình.”

    CÔNG PHU, TUYỆT KỸ, ĐÍCH THỰC, HẠNH PHÚC CHÂN THỰC,…là những mỹ từ sáo rỗng đi ngược lại sự khiêm tốn của Đạo Phật. Ông/bà Nu Hoang chẳng qua đang cố báng bổ Đạo Phật mà thôi.

    5. “Trong khi nhà Phật phân tích chi ly những khổ đau của chúng sinh gồm 8 loại: cầu mà không được, cầu được rồi mất đi, thương yêu mà phải chia lìa, oán ghét mà phải sống chung, sinh, già, bệnh, chết và các uẫn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) phát triễn bất bình thường, thì K. Marx chỉ thấy một nỗi khổ của nhân loại là: bất công xã hội, giàu nghèo cách biệt, rất đổi hạn hẹp.”

    Đúng là Đạo Phật thấy “khổ đau” của chúng sinh rất “bình thường”, khuyên chúng sinh làm quen rồi chấp nhận ( an phận và cam chịu ); còn K.Marx không có được cái tư tưởng an phận và cam chịu đó của Đạo Phật nên mới hối thúc đấu tranh để xóa bỏ khổ đau.

    6. “K.Marx đã xây dựng cả một hệ thống triết lý hành động chứa đầy căm thù, bạo lực để “cầu cho được” nắm chính quyền”

    Nếu “triết lý” của K.Marx là đúng thì dù có cố bôi đen nó bằng đủ các ngôn từ như “căm thù, bạo lực” cũng chẳng có nghĩa lý gì. Chân lý là chân lý, bất kể nó vạch trần cái khổ đau hay hạnh phúc, tàn nhẫn hay tốt đẹp,…vì chân lý chỉ nêu lên SỰ THẬT.

    Còn “cầu cho được” thì vẫn là sự vu khống trắng trợn của ông/bà Nu Hoang thôi. Đấu tranh thực sự để giành chính quyền thì không thể là “cầu cho được”.

    7. “vào lúc sinh thời của K. Marx, hẵn là đạo Phật chưa được Marx đọc đến, biết đến nên đánh đồng Phật giáo cũng như các tôn giáo khác chỉ biết thờ phụng, lễ bái, chứ không biết đạo Phật mnag nhiều đặc tính của một triết thuyết hơn là một tôn giáo như các tôn giáo thờ Thượng Đế, Thần Linh khác.”

    Các tác phẩm của K.Marx không có chỗ nào phê phán Đạo Phật cũng như đánh đồng Đạo Phật với các tôn giáo khác.

    8. “Cũng có thể xem Marx là tị tổ của tôn giáo duy vật vô thần, có đầy đủ đặc tính của một tôn giáo: có giáo chủ là Karl Marx, có giáo pháp là Duy vật biện chứng, Duy vật sử quan, Tư bản luận …. và có hàng ngũ Tăng lữ, Tín đồ là…các cán bộ CS trên khắp thế giới.”

    Chỉ có những người tự ý nâng K.Marx lên thành “giáo chủ” chứ bản thân K.Marx rất khiêm tốn và thường kịch liệt phê phán lối giáo điều, tuyệt đối hóa chính học thuyết của ông ấy. Ông ấy bảo “Tôi không phải là người Marxist”.

    9. “đạo Duy vật của K. Marx chủ trương hận thù, bạo lực, và cố chấp – cho là đỉnh cao trí tuệ loài người, bắt bỏ tù những người có lời nói, thậm chí có ý nghĩ trái ngược mà họ quy chụp là phản động….”

    Đấu tranh để chống lại bọn bóc lột, bọn ăn bám thì không phải là “CHỦ TRƯƠNG hận thù, bạo lực và cố chấp” mà là TỰ VỆ, và tất nhiên là không có tư tưởng an phận và cam chịu như Đạo Phật.

    Ông/bà Nu Hoang liên tục chê bai, đả phá, nhiếc móc chính quyền Việt Nam ( cũng là những con người ) thì không có tư cách rao giảng về Đạo Phật.

    Còn “đỉnh cao trí tuệ” cũng là người khác gán cho học thuyết của K.Marx và V.I.Lenin để tôn vinh các ông ấy, chứ bản thân các ông ấy chưa bao giờ tự nhận như vậy. K.Marx cũng chưa bao giờ kêu gọi “bỏ tù” ai cả.

    10. “Nếu ông AD vẫn còn “mê ngủ” thì thôi, xin quý độc giả talawas hãy để yên cho ông ta…ngủ, nếu còn ngáy pho pho nữa thì cũng tốt thôi. Thưa, mặt trời không thể chiếu vào cái chậu úp được đâu ạ !!”

    Chà, tự phong mình là “mặt trời” cơ đấy !

  6. Trung Nu Hoang viết:

    @ Kính gửi ông Anh Dũng: Người Cộng sản không thể bằng phương tiện “công khai” cấm đoán hay xóa bỏ các tôn giáo, mặc dù họ rất muốn và luôn luôn nằm lòng câu nói của vị giáo chủ duy vật là Karl Marx: ” Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng bị áp bức”. Cũng như họ luôn luôn lo sợ các tổ chức, cá nhân có uy tín có thể quy tụ quần chúng đông đảo, các nhà Sư, các Linh Mục, các Trí thức. Vì liệu không thể xóa bỏ được tôn giáo, sợ sự phản ứng bất lợi khó lường trước được – gương Ngô Đình Diệm, 1963 ở Miền Nam VN – nên người CS đã khuyến khích các phương tiện thờ cúng, lễ bái .. nhằm làm chệch hướng mục tiêu của các tôn giáo và “hạ thấp” nền tảng triết lý cao đẹp của tôn giáo bằng các trò lễ bái đầy mê tín, dị đoan, cầu xin, bùa ngãi…(như hiện nay nhan nhãn ở trong nước). Nhà Nước Việt Nam gọi các trò mê tín dị đoan này là “tự do tôn giáo” (phải chăng, đó chính là tự do tôn giáo định hướng XHCN theo ý của họ??) để che đậy dã tâm bóp chết tôn giáo đích thực. Chủ trương thâm độc này chỉ đánh lừa được những kẻ chẳng có chút hiểu biết nào về các tôn giáo, nhất là Phật giáo, một tôn giáo có triết lý thậm thâm đề cao sự phá vỡ xiềng xích của Vô Minh, Ngu Dốt, Chấp Nhất bằng những công phu, tuyệt kỹ để đạt đến Trí Tuệ đích thực, sự sáng suốt của Chân Trí và thực hiện Hạnh Phúc chân thực ở ngay tự thân mỗi con người, không nương nhờ vào sức mạnh của Thượng đế, Thần linh nào khác ngoài chính mình. Trong khi nhà Phật phân tích chi ly những khổ đau của chúng sinh gồm 8 loại: cầu mà không được, cầu được rồi mất đi, thương yêu mà phải chia lìa, oán ghét mà phải sống chung, sinh, già, bệnh, chết và các uẫn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) phát triễn bất bình thường, thì K. Marx chỉ thấy một nỗi khổ của nhân loại là: bất công xã hội, giàu nghèo cách biệt, rất đổi hạn hẹp. Từ nhận định thô thiễn này, K.Marx đã xây dựng cả một hệ thống triết lý hành động chứa đầy căm thù, bạo lực để “cầu cho được” nắm chính quyền – và khổ đau sẽ tiếp tục, như Liên Xô và các nước Đông Âu tưởng “được rồi”, lại “để mất đi” , đã từng trãi nghiệm trong mấy thập kỷ qua… Đời người cuối cùng không ai qua khỏi cái CHẾT, là cái khổ đau cuối cùng và lớn lao nhất. Đang uy quyền cao tột như Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn ….rồi cũng xuôi hai tay, có đem theo được người thương, tiền tài, uy quyền, danh vọng theo mình đâu? Không ai tự chủ được cuộc đời mình trước cái CHẾT, trừ phi những người đã đạt đạo (tự tại vô ngại). Một điều khác cần nêu lên là vào lúc sinh thời của K. Marx, hẵn là đạo Phật chưa được Marx đọc đến, biết đến nên đánh đồng Phật giáo cũng như các tôn giáo khác chỉ biết thờ phụng, lễ bái, chứ không biết đạo Phật mnag nhiều đặc tính của một triết thuyết hơn là một tôn giáo như các tôn giáo thờ Thượng Đế, Thần Linh khác. Trong ý nghĩa này, Phật giáo có vẻ giống với…đạo vô thần của Karl Marx. Cũng có thể xem Marx là tị tổ của tôn giáo duy vật vô thần, có đầy đủ đặc tính của một tôn giáo: có giáo chủ là Karl Marx, có giáo pháp là Duy vật biện chứng, Duy vật sử quan, Tư bản luận …. và có hàng ngũ Tăng lữ, Tín đồ là…các cán bộ CS trên khắp thế giới.
    Chỉ khác một điều: đạo Phật đề xướng Từ Bi và Trí Tuệ và đặc biệt kêu gọi Phá Chấp qua những tuyên ngôn: “Giáo pháp của Ta như chiếc bè qua sông, đến bờ rồi thì bỏ” – hay ” Trong 49 năm Ta chưa từng nói lời nào” – trong khi đạo Duy vật của K. Marx chủ trương hận thù, bạo lực, và cố chấp – cho là đỉnh cao trí tuệ loài người, bắt bỏ tù những người có lời nói, thậm chí có ý nghĩ trái ngược mà họ quy chụp là phản động….
    Nếu ông AD vẫn còn “mê ngủ” thì thôi, xin quý độc giả talawas hãy để yên cho ông ta…ngủ, nếu còn ngáy pho pho nữa thì cũng tốt thôi. Thưa, mặt trời không thể chiếu vào cái chậu úp được đâu ạ !!

  7. Anh Dũng viết:

    “ông hãy nhìn kỹ tấm hình ông lãnh tụ tối cao nhà ta đưa hai tay ôm chặt tay ông Hồ Cẩm Đào để biết con người CS VN sống thẳng lưng hay không ?”

    Chuyện bắt tay xã giao chẳng liên quan gì đến việc có sống thẳng lưng hay không. Biết nín nhịn đúng lúc cũng là một trong những điều Đạo Phật truyền bá mà. Đó là một điểm hay của Đạo Phật cần học tập.

    “Chính quyền CSVN có mỵ dân hay ngu dân hay không, hãy vào đọc báo chí VN thường xuyên thì khắc rõ.”

    Chính vì đã rõ nên tôi mới vạch trần những điều bịa đặt của ông đấy chứ.

  8. Lê Quốc Trinh viết:

    Ôi chao ! Ông Anh Dũng lại có can đảm nhắc đến cái website của ĐCS VN nữa sao ? Cái website mà ngày nào năm ngoái đã từng nhượng bộ chủ quyền HS-TS cho thiên triều phương Bắc phải không ? Nếu không có nhân dân sáng suốt nhìn thấy và báo động thì cả toàn bộ BCT ê cả mặt !!!

    Bây giờ ông lại còn hãnh diện tự kỷ ám thị rằng “người cộng sản như cây ngay chẳng sợ chết đứng”, ông hãy nhìn kỹ tấm hình ông lãnh tụ tối cao nhà ta đưa hai tay ôm chặt tay ông Hồ Cẩm Đào để biết con người CS VN sống thẳng lưng hay không ? Chính quyền CSVN có mỵ dân hay ngu dân hay không, hãy vào đọc báo chí VN thường xuyên thì khắc rõ.

    Thôi nhé, chúng ta bàn luận đến đây đã quá xa chủ đề “kinh nghiệm cận tử” do bạn Phong Uyên khởi xướng, tôi xin phép chấm dứt tranh luận một chiều tại đây, bao nhiêu thế đủ rồi, hãy trả lại bầu không khí ôn hoà trong sạch cho Trang Nhà Talawas .

    Xin lỗi bạn Phong Uyên.

  9. Anh Dũng viết:

    Ông Lê Quốc Trinh !

    1. “Hoá ra ông Anh Dũng vẫn chưa hiểu hay cố tình làm bộ không hiểu?”

    Sau “hóa ra” thì ông lại đặt một câu hỏi. Tức là ông chẳng “hóa ra” được cái gì.

    2. “Hình ảnh một ông chủ tịch nước không chăm lo việc hành chánh, để cho đất nước bị điêu đứng vì vấn đề chủ quyền, sông ngòi bị ngăn chặn cạn kiệt, mùa màng bị thất thoát, biển đảo bị xâm chiếm, tài nguyên bị ngoại bang khai thác, vị trí chiến lược hệ trọng trên Tây Nguyên bị chiếm đóng, giáo dục xuống cấp, văn hoá suy đồi…”

    Ông lại vu khống rồi. Việc nước có nhiều. Bố trí thời gian gần dân, hiểu dân, hoà đồng với dân cũng là lo việc nước.

    Chẳng có vị lãnh đạo nào cả nhiệm kỳ cứ quanh quẩn trong văn phòng cả.

    3. “thế mà cứ tiếp tục bày trò tế lễ mê tín cầu an, cầu siêu, đến mức độ hầu như mọi thành phần cán bộ quan chức đều đổ xô đi chùa, xem bói, quay hướng nhà, sửa đổi công sở theo phong thuỷ…”

    Chùa chiền, cúng bái, khấn vái, cầu nguyện,…thì nước nào chẳng có. Ông gào thét rằng “mọi thành phần cán bộ quan chức” đều thế này thế nọ, vậy mời ông đưa ra bằng chứng.

    4. Phong thủy là một lý thuyết riêng, không liên quan gì đến Đạo Phật, mà liên quan nhiều đến khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất – những thứ rất thực.

    Ông lôi Đạo Phật ra, rồi lại lôi cả Kim Dung ra để phán này nọ một cách tùy tiện thì rõ ràng ông đang độc đoán, giáo điều, tuyệt đối hóa.

    Thế mà ông oang oang rằng ông hiểu Đạo Phật. Mà Đạo Phật thì không ép ai phải tin, Đạo Phật đề cao sự tự nguyện, Đạo Phật ôn hòa và nhân đạo,… Nhưng ông lại hùng hổ mang Đạo Phật vào để vu khống cho người khác đủ điều.

    5. “Ông làm sao hiểu được rằng tôn chỉ của Đạo Phật chính thống chính là khai sáng trí tuệ và diệt trừ mê tín. Tôi chưa muốn nói đến các tệ nạn mê tín dị đoan phổ biến trong các chùa chiền VN hiện nay, mức độ có tăng chứ không giảm, một phần vì lẽ do sự hỗ trợ của tập đoàn lãnh đạo CS VN, trong đó người đi tiên phong chính là chủ tịch nước.

    Ông không hiểu bởi lẽ ông bị bả tuyên truyền CNCS thấm vào tận xương tuỷ rồi. Ông vẫn còn cố tình biện hộ cho CNCS, nghĩ rằng XHCN vẫn chỉ là bước quá độ để tiến lên CNCS. Hơn một thế kỷ trôi qua, hàng trăm triệu người ngã gục trong các trại tập trung, học tập cải tạo, chết trên biển cả… chưa đủ để ông thấy rõ thực tế sao? Thế mà ông vẫn còn tin tưởng vào CNCS. Ông cứ mơ mộng vào cái thiên đường CS đó đi, không ai hơi đâu đánh thức ông dậy làm gì!”

    Ngoài việc đi “chôm”, rồi phán, rồi vu khống người khác thì ông không còn việc gì làm nữa sao ?

  10. Lê Quốc Trinh viết:

    Hoá ra ông Anh Dũng vẫn chưa hiểu hay cố tình làm bộ không hiểu?

    Hình ảnh một ông chủ tịch nước không chăm lo việc hành chánh, để cho đất nước bị điêu đứng vì vấn đề chủ quyền, sông ngòi bị ngăn chặn cạn kiệt, mùa màng bị thất thoát, biển đảo bị xâm chiếm, tài nguyên bị ngoại bang khai thác, vị trí chiến lược hệ trọng trên Tây Nguyên bị chiếm đóng, giáo dục xuống cấp, văn hoá suy đồi… thế mà cứ tiếp tục bày trò tế lễ mê tín cầu an, cầu siêu, đến mức độ hầu như mọi thành phần cán bộ quan chức đều đổ xô đi chùa, xem bói, quay hướng nhà, sửa đổi công sở theo phong thuỷ… những hiện tượng đó không là mỵ dân ngu dân thì là gì hở ông Anh Dũng? Ông có cần tôi trích ra đây tất cả những bằng chứng điển hình cho vấn nạn Dân Trí xuống cấp hay không? Ông có biết nhà văn Kim Dung từng nói rằng trò cầu an cầu siêu đó chỉ để trấn an người sống, chứ người chết rồi họ làm sao hiểu được (trích Cô Gái Đồ Long)?

    Ở đây tôi bàn thẳng về Đạo Phật trí tuệ và khoa học để ông hiểu rõ tại sao Đạo Phật chính thống của ngài Thích Ca Mâu Ni lại được nhiều nhà khoa học lừng danh thán phục, trong đó có ông A. Einstein. Ông làm sao hiểu được rằng tôn chỉ của Đạo Phật chính thống chính là khai sáng trí tuệ và diệt trừ mê tín. Tôi chưa muốn nói đến các tệ nạn mê tín dị đoan phổ biến trong các chùa chiền VN hiện nay, mức độ có tăng chứ không giảm, một phần vì lẽ do sự hỗ trợ của tập đoàn lãnh đạo CS VN, trong đó người đi tiên phong chính là chủ tịch nước.

    Ông không hiểu bởi lẽ ông bị bả tuyên truyền CNCS thấm vào tận xương tuỷ rồi. Ông vẫn còn cố tình biện hộ cho CNCS, nghĩ rằng XHCN vẫn chỉ là bước quá độ để tiến lên CNCS. Hơn một thế kỷ trôi qua, hàng trăm triệu người ngã gục trong các trại tập trung, học tập cải tạo, chết trên biển cả… chưa đủ để ông thấy rõ thực tế sao? Thế mà ông vẫn còn tin tưởng vào CNCS. Ông cứ mơ mộng vào cái thiên đường CS đó đi, không ai hơi đâu đánh thức ông dậy làm gì!

    Mến chào ông,

  11. Anh Dũng viết:

    Các trước tác của K.Marx đều được công khai trên Website của ĐCSVN, ai cũng có thể truy cập và nghiên cứu. Ngay cả cái phần mà ông Trinh chôm chỉa về cũng thế.

    Đó là sự thể hiện bản chất CÂY NGAY KHÔNG SỢ CHẾT ĐỨNG của những người Cộng Sản chân chính mà. Và vạch trần luận điệu vu khống rằng Chính quyền ngu dân, mỵ dân.

    Tất nhiên, những người chỉ biết “có lẽ”, “thiết nghĩ” ( đoán mò ) rồi vu khống người khác “mỵ dân, ngu dân” như ông Trinh thì chỉ quanh quẩn tìm cách “chôm” mà thôi.

  12. Lê Quốc Trinh viết:

    Xin trích lại một lần nữa:

    Chỉ có báo chí bị kiểm duyệt mới có tác dụng làm suy đồi đạo đức. Tệ lớn nhất – tệ giả dối – gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt. Tệ xấu căn bản này của nó là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó, trong đó cả mầm mống của mỹ đức cũng không có. Tệ đó là nguồn gốc của tệ đáng ghét nhất – thậm chí xét theo quan điểm mỹ học cũng thế – tệ tiêu cực.

    Chính phủ chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình. Chính phủ cũng biết chính phủ chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, tuy vậy chính phủ vẫn duy trì sự tự dối mình, làm như thể nghe thấy tiếng nói của nhân dân, và cũng đòi nhân dân ủng hộ sự tự lừa dối đó. Còn về phía mình thì nhân dân hoặc giả rơi vào tình trạng mê tín về chính trị, một phần rơi vào chỗ ngờ vực chính trị, hoặc giả hoàn toàn tách ra khỏi đời sống chính trị và trở thành đám người chỉ sống với cuộc sống riêng tư.”

    (Những cuộc tranh luận quanh hội nghị dân biểu khóa 6 tỉnh Ranh – K.Marx – 04/1842).
    _________________________________________________

    WOW! Thành thật cám ơn bạn Anh Dũng đã giải thích tường tận câu danh ngôn của K. Marx, ít ra tôi lại học được thêm vài điều mới mẻ bổ ích. Hoá ta khi còn trẻ ông Marx “có thiện tâm” nên mới nhìn thấy trước được một vấn nạn trầm trọng của XHCN, sau này khi “về già” có lẽ do cọ sát với nhiều thành phần bất hảo, “mất hết thiện tâm”, nên ông sáng tác cuốn Tư Bản Luận làm tiền đề cho CNCS sau này, tôi thiết nghĩ là thế!

    Bây giờ quan sát kỹ tình hình hiện nay ở nước nhà, nhất là chiến dịch tôn giáo “mỵ dân, ngu dân” do ngài Chủ tịch NMT cầm đầu, và báo chí bị cưỡng ép đi lên “lề phải”, tôi thấy sao mà chính xác thế, một câu tuyên bố của Marx từ năm 1842 sao mà ứng đúng ngay vào thời điểm VN năm 2010, úi chà! Thế thì mọi người lo ngại cho nguy cơ mất nước trước nạn bành trướng phương Bắc, họ đâu có sai, hở ông Anh Dũng. Nếu không có khoa học hiện đại để mọi người biết ra vào Internet giao lưu và chia sẻ tin tức thì giờ này toàn cõi đất nước VN đã trở thành một tỉnh bang TQ, hay là một đặc khu tự trị nào đó giống như Hồng Kông.

    Đề nghị ông Anh Dũng nên gửi câu danh ngôn của Marx về VN nhắc nhở các ngài lãnh tụ CSVN, càng sớm càng tốt.

    Thân chào,

  13. Anh Dũng viết:

    Ông Quốc Trinh !

    1. “Tôi đã biết ngay mà ! Bạn đâu có hiểu gì về Đạo Phật chính thống như thế nào, do đó khi tôi đưa vài nhận xét về Đạo Phật Vô Ngã và đạo trí tuệ thì bạn làm sao hiểu nổi.”

    Vì ông tự huyễn hoặc rằng ông “biết”, ông “hiểu” nên ông cứ phán ầm ầm rằng người khác không hiểu, không biết. Chuyện này dễ hiểu thôi mà.

    2. “Hình ảnh ông chủ tịch nước NMT bày trò tổ chức cầu an cầu siêu cho thanh niên xung phong, xong rồi sai mọi người cầm tấm bảng bìa cứng vẽ chữ Tâm to tướng (bằng tiếng Tàu) giơ lên cho TV quay phim, cái đó không phải là trò “lừa gạt mỵ dân” sao ?”

    Ông chỉ mô tả sự kiện, rồi ông phán rằng đó là trò “lừa gạt mỵ dân”. Nhưng lý do tại sao sự kiện đó lại cho thấy tính chất ấy thì ông không chỉ ra được.

    3. “Cầu an, cầu siêu, xin xâm, hoá vàng chỉ phát triển trong những chùa chiền theo môn phái Tịnh Độ bên Tàu ảnh hưởng bởi Đạo Lão tôn thờ thần thánh.”

    Tôi đã nói rõ trong comment trước đây rồi: việc làm của lãnh đạo nếu có mâu thuẫn, không ăn nhập với Đạo Phật thì cũng là chuyện bình thường. Vì họ có theo tư tưởng Đạo Phật đâu, họ có truyền bá Đạo Phật như ông Trinh đâu.

    Cho nên, việc ông kể lể này nọ về hành động của lãnh đạo rồi lại rao giảng về triết lý nhà Phật là hoàn toàn vô nghĩa.

    3. Tôi đã thừa nhận rằng tôi vẫn đang tìm hiểu Đạo Phật, tức là thừa nhận tôi chưa hiểu hết, biết hết Đạo Phật. Vì tôi không phải thánh thần mà có thể biết hết, hiểu hết mọi tri thức.

    Nhưng chuyện tôi còn hạn chế về Đạo Phật thì có liên quan gì đến ông Trinh mà làm ông hò hét “Tôi biết ngay mà !” như vừa lập chiến công lừng lẫy vậy nhỉ ?

    4. “Kinh nghiệm các nước Đông Âu thoát ly khỏi ách Cộng Sản Liên Xô đã chứng tỏ hùng hồn tính không tưởng của chế độ phi nhân này”

    Chẳng có chế độ nào gọi là “chế độ Cộng Sản” cả. Chỉ có “xã hội Cộng Sản” – không nhà nước, không đảng phái, không giai cấp.

    Cái “kinh nghiệm” của ông chỉ là thời kỳ quá độ, đấu tranh để xây dựng “xã hội Cộng Sản” – nó vẫn còn nhà nước, đảng phái, giai cấp. Do đó, những khuyết tật tồn tại là dễ hiểu. Không có gì mâu thuẫn với CNCS cả.

    Nếu ông bảo “xã hội Cộng Sản” hoặc CNCS là phi nhân thì rõ ràng ông không những lộn ngược trắng đen đối với CNCS, mà ông còn làm điều đó với cả tư tưởng nhà Phật nữa cơ. Vì mục tiêu xóa bỏ áp bức, bất công, bóc lột của CNCS và tư tưởng nhà Phật lại rất trùng khớp.

    5. “Chuyện khoa học, nếu bạn hiểu rõ vật chất (khối lượng) luôn đi đôi với năng lượng không rời, thì bạn biết rằng kinh Bát Nhã Ba La Mật của Nhà Phật đã từng nhắc đến khái niệm này qua câu: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Sắc bất dị Không Không, Không bất dị Sắc”.”

    Khoa học là khoa học, Đạo Phật là Đạo Phật. Chẳng có lý do gì để dùng triết lý Đạo Phật để thay cho khoa học cả.

    6. “Hãy để cho cái chủ thuyết không tưởng CS này đi vào lãng quên, tốt nhất là vứt nó vào sọt rác là xong chuyện. Những gì bạn cố gắng tuyên truyền tung hô cho CNCS đều là gượng ép và kệch cỡm, mâu thuẫn hoàn toàn với những thực tế trong lịch sử nhân loại suốt 100 năm nay, bạn không thấy sao ?”

    Tôi không thấy điều gì ở CNCS mà ông Trinh gọi là “mâu thuẫn hoàn toàn với thực tế”.

    Còn việc ông có thiên kiến cố hữu đến mức tuyệt đối hóa tư tưởng Phật Giáo và phủ định sạch trơn CNCS thì vô nghĩa nhưng dễ hiểu đối với tôi.

  14. Anh Dũng viết:

    Ông Quốc Trinh lầm to rồi. Cái phần ông “chôm” về chẳng liên quan gì đến CNCS cả, mặc dù chúng cùng một tác giả. Bản thân K.Marx cũng không phải người duy vật, người có tư tưởng Cộng Sản ngay từ đầu. Mà lúc trẻ, K.Marx thậm chí vẫn là người duy tâm, chưa có tư tưởng Cộng Sản.

    Cái phần ông “chôm” đó là K.Marx viết khi trẻ, và bản thân K.Marx đã thừa nhận đó là lúc mà: “thiện ý muốn “tiến lên” vượt quá xa SỰ AM HIỂU vấn đề”.

    ( Góp phần phê phán khoa Kinh tế Chính trị – K.Marx – 01/1859 )

    Cái phần ông “chôm” được về chỉ là phần rất nhỏ trong:

    “Chỉ có báo chí bị kiểm duyệt mới có tác dụng làm suy đồi đạo đức. Tệ lớn nhất – tệ giả dối – gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt. Tệ xấu căn bản này của nó là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó, trong đó cả mầm mống của mỹ đức cũng không có. Tệ đó là nguồn gốc của tệ đáng ghét nhất – thậm chí xét theo quan điểm mỹ học cũng thế – tệ tiêu cực.

    Chính phủ chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình. Chính phủ cũng biết chính phủ chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, tuy vậy chính phủ vẫn duy trì sự tự dối mình, làm như thể nghe thấy tiếng nói của nhân dân, và cũng đòi nhân dân ủng hộ sự tự lừa dối đó. Còn về phía mình thì nhân dân hoặc giả rơi vào tình trạng mê tín về chính trị, một phần rơi vào chỗ ngờ vực chính trị, hoặc giả hoàn toàn tách ra khỏi đời sống chính trị và trở thành đám người chỉ sống với cuộc sống riêng tư.”

    ( Những cuộc tranh luận quanh hội nghị dân biểu khóa 6 tỉnh Ranh – K.Marx – 04/1842 ).

  15. Lê Quốc Trinh viết:

    Tôi muốn nhân dịp này thân tặng ông bạn Anh Dũng một câu nói của K. Marx, như sau:

    “Khi một chính phủ lừa dối (nghĩ một đằng, nói một nẻo, làm theo lối khác…) thì dân chúng hoặc trở thành một lũ mê tín chính trị, hoặc quay ra chỉ lo lấy cái tư riêng của mình, không lý gì tới quốc gia xã hội nữa!”

    Tôi không phải là một nhà tư tưởng triết học nhưng thấy câu này hay tuyệt vời trong một Trang Mạng nào đó (X-CafeVN thì phải) nên vội vàng “chôm” ngay để gửi cho những ai còn mê tín CNCS. Ngồi quan sát tình hình nuớc nhà tôi thấy ít ra ông Marx cũng có lý phần nào ….

    Chào thân ái,

1 2 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>