talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?

16/03/2010 | 2:06 chiều | 70 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Đời sống, Tổng hợp
Thẻ:

Có lẽ con người khác với con vật ở chỗ ngoài bản năng tự tồn còn có ý thức về sự tồn tại của mình, nghĩa là sự sống chết của mình, nên đã tạo ra đạo giáo và triết học. Đạo giáo dựa trên đức tin, triết học dựa trên lí trí. Các đạo giáo tin con người gồm 2 phần: tinh thần (linh hồn) và thể xác. Triết học từ khi mới khởi đầu, cách đây 2500-3000 năm ở Ấn Độ và ở Hi Lạp, cũng đã chia làm 2 phái: Duy tâm, suy luận là tinh thần có sự sống độc lập với thể xác, tiếp tục tồn tại sau khi thể xác chết. Duy vật, suy luận ngược lại là tinh thần chỉ là vật chất, được cấu tạo như mọi vật chất bởi những nguyên tử kết hợp với nhau. Khi chết các nguyên tử rời rã nhau, tinh thần cũng sẽ tiêu tan.

Từ cuối thế kỷ thứ XIX, khoa học không còn phụ thuộc triết học về phương pháp suy luận nữa và đạt được nhiều tiến bộ nhờ phương pháp thực nghiệm chỉ công nhận sự hiện hữu của những gì có thể quan sát, thử nghiệm và chứng minh được.

Là một ngành của khoa học, Y khoa không có ý kiến gì về sự sống chết của cái phần của con người gọi là linh hồn, vì không thể quan sát và thử nghiệm nó được.

Cho tới cuối thế kỷ thứ XX, Y khoa lấy tiêu chuẩn để định nghĩa sự chết là sự chết của thể xác khi không còn hơi thở và tim ngưng đập. Tình trạng này gọi là chết lâm sàng (mort clinique). Nếu sau một thời gian vẫn không hồi phục được những chức năng hô hấp và tuần hoàn thì người bệnh bị coi là đã chết hẳn.

Những năm gần đây, kỹ thuật hô hấp nhân tạo (respiration artificielle) và hỗ trợ tuần hoàn (assistance circulatoire) có những tiến bộ phi thường, khiến có thể hồi phục được gần như vô hạn định hoạt động của tim, phổi mặc dầu người bệnh vẫn ở trong tình trạng hôn mê. Y khoa thấy cần phải đưa ra một tiêu chuẩn (critère) khác về sự chết, không phải khi tim phổi ngưng hoạt động mà là khi bộ óc không còn biểu lộ một hoạt động nào nữa, gọi là chết não hay hôn mê quá giai đoạn.

Người bệnh bị coi là ở tình trạng Chết não khi điện não ký (électroencéphalographie) không còn ghi nhận được một biến đổi điện thế nào ở vỏ não (cortex), cho một điện não đồ phẳng lặng  (Electroencéphalogramme plat). Chết não được coi là chết hẳn nếu 30 phút sau điện não đồ thứ hai vẫn phẳng lặng. Nhiều nhà khoa học cho đó là một bằng chứng không thể chối cãi được là cái gọi là tinh thần chỉ là sản phẩm của bộ não vì khi bộ não bị coi là chết, không còn một biểu hiện nào của ý thức nữa.

Thời gian gần đây, khoa hồi sức (Réanimation) và khoa giải phẫu lập ra những kỳ công không thể tưởng tượng nổi, có thể coi là những phép lạ: nhiều bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng hay chết não được hồi sinh.

Và kỳ lạ hơn nữa là nhiều người được “cải tử hoàn sinh” nhớ và kể lại những nhận thức và những cảm nhận của mình trong thời gian bị coi là chết, như trở về từ một thế giới khác. Khoa học gọi những hiện tượng này là: NDE (near death experiences), tiếng Anh, hay EMI (experiences de mort imminente), tiếng Pháp. Dịch ra tiếng Việt là Kinh nghiệm cận tử.

Những kinh nghiệm cận tử này chứng tỏ Ý thức, biểu hiện của Tinh thần có đời sống độc lập với bộ óc tất nhiên là không phải từ bộ óc mà ra. Nhiều trung tâm khoa học trên thế giới được thành lập để nghiên cứu và tìm hiểu những kinh nghiệm cận tử này như American for the Advancement of Science (AAAS), Đại học Virginia Mỹ và Đại học Northampton Anh v.v… Đó cũng là đề tài của cuộc hội thảo năm 2006, ở tỉnh Martigues (Pháp) với hơn 2000 nhà khảo cứu đến từ nhiều nước.

Hiện tượng DNE đầu tiên được giới khoa học nghiên cứu là trường hợp cô ca sĩ Pam Reynolds 35 tuồi bị Túi phình mạch não (anévrisme artérielle) phải giải phẫu với rất ít hi vọng sống được vì năm đó là năm 1991, kỹ thuật mổ “túi phình mạch não” còn mới mẻ và đầy bất chắc. Cô Pam bị đặt vào tình trạng chết lâm sàng (mort clinique): nhiệt độ xuống còn 15,5°C. Khi bác sĩ giải phẫu bắt đầu cắt da đầu thì cô Pam thấy mình ra khỏi thân xác. Người ngược trở lại 180°, từ trên cao cô thấy tóc mình bị cạo sạch và cái cưa bác sĩ dùng có nhãn hiệu là Midas Rex. Cô nghe các bác sĩ giải phẫu trả lời nhau và sai người phụ mổ. Cũng vẫn ở tình trạng trầm bổng (lévitation), cô thấy mình xuyên qua một hầm tối trước khi đến một nơi đầy ánh sáng và rất ấm cúng. Cô có cảm tưởng gặp lại bà con bạn bè đã chết và cô nhận diện được một ông cậu chết trước đây và ông cậu đem cô lại chỗ xác chết giá lạnh của ông. Cô Pam kể khi tỉnh lại làm cả ê kíp bác sĩ đều ngạc nhiên vì trong tình trạng chết lâm sàng, máu ngưng luân chuyển, máy điện tử (monitoring) ghi nhận óc ngưng hoạt động, làm sao cô có thể kể lại một cách mạch lạc những sự kiện đã xảy ra.

Cuốn sách đầu tiên nói về kinh nghiệm cận tử là cuốn best-seller của bác sĩ Raymond Moody, Cuộc sống sau cuộc sống (La vie après la vie) xuất bản năm 1976. Những cuốn sách nổi tiếng mới đây là cuốn của bác sĩ J.J Charbonnier, Những bằng chứng khoa học của cuộc sống sau đời sống (Les preuves scientifiques d’une vie après la vie) và cuốn sách mới xuất bản được mấy tuần đã được The New York Times đưa vào danh sách best-seller là của bác sĩ Jeffrey Long, chuyên khoa Quang tuyến ung thư người Mỹ Evidence of the After-life (Bằng chứng sau cuộc sống), đều kể lại những chuyện tương tự của những người đã ở tình trạng chết lâm sàng hay hôn mê quá giai đoạn (coma dépassé). Những cuốn sách này dành cho đại chúng, còn giới khoa học có thể theo dõi những công trình về kinh nghiệm cận tử qua các tạp chí y khoa.

Giáo sư Pim Van Lommel chuyên khoa tim mạch người Hoà Lan trình bày trong tạp chí y học nổi tiếng nhất thế giới Lancet năm 2001, một công trình sưu tập những lời chứng của 344 bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng vì tai biến tim mạch: 18% những người này khẳng định có kinh nghiệm “chết đi sống lại”.

Gần đây nhất, trong số in ngày 25-02-10, tạp chí y học Mỹ Mediscape Medical News nói về những kinh nghiệm cận tử mà bác sĩ Jeffrey Long, tác giả một cuốn sách nói trên, đã sưu tập. Trong vòng 10 năm bác sĩ Long đã nghiên cứu cả thảy hơn 1300 trường hợp trong viện DNE Research Foundation (Tổ chức Nghiên cứu Cận tử), một viện nghiên cứu cận tử được coi là lớn nhất thế giới do ông thành lập. So với những trường hợp cận tử được các trung tâm nghiên cứu khác trên thế giới thâu thập thì những kinh nghiệm cận tử này đều có những điểm giống nhau:

1. Cảm tưởng biết mình đã chết nhưng thấy ý thức mình trở lên trong sáng (crystal clear consciouness).

2. Cảm giác thoát khỏi thân xác (décorporation), bay bồng bềnh (lévitation), nhìn thấy thân thể mình từ cao xuống. Một người kể lại “Tôi thấy tôi từ đằng sau lưng… Tôi thấy gáy cô y tá đang tìm cách hồi sinh tôi bằng phương pháp miệng-miệng (bouche à bouche).

3. Cảm tưởng như mình ở trong một thân thể phi vật chất, di chuyển qua một đường hầm hướng dẫn bởi một luồng ánh sáng (tunnel).

4. Cảm tưởng tới một nơi đầy ánh sáng. Một thứ ánh sáng chan hoà đầy an lành, đầy khoan khoái không bao giờ thấy khi còn sống. Gặp lại những người thân đã chết, có người trước khi mình ra đời, có người mình đã quên hay khi còn quá trẻ để có thể nhớ lại. Thấy những “hình dạng” chan hoà ánh sáng” biểu lộ một Tình thương vô biên.

5. Chỉ trong khoảng khắc hồi tưởng lại cả cuộc đời khiến có cảm tưởng thời gian-không gian bị xóa nhoà.

6. Hối tiếc khi phải trở lại cuộc sống.

Những kinh nghiệm này đều giống nhau dù những người kể lại ở những vùng khác nhau trên thế giới có văn hoá khác nhau. Ngay cả những con nít còn nhỏ tuổi chưa có quan niệm gì về sự chết, về đạo giáo hay chưa bao giờ được nghe kể về NDE, cũng kể lại y hệt.

Có những nhà khoa học cho là những trạng thái ý thức (états de conscience) kể trên đủ để chứng tỏ tinh thần có một cuộc sống độc lập với thể xác (bộ óc) và cho biết có một cõi khác (l’au-delà) hoàn toàn khác lạ với thế giới của cuộc sống hiện tại.

Nhưng có những nhà khoa học hoài nghi đưa ra những giải thích khác:

– Những hiện tượng NDE đó chỉ là những biểu hiện thuần sinh lý do thác loạn tế bào thần kinh (désordre neuronal) tạo ra.

– Có thể là do tác động của những thuốc gây mê như kétamine hay ibogaïne.

– Có nhiều trường hợp  endorphines được tiết ra khi óc bị thiếu oxygène, tạo ra những cảm giác khoan khoái khi tỉnh người bệnh hồi tưởng lại.

– Thiếu oxygène cũng có thể kích thích những vùng (zones) tạo hình và ký ức của bộ não, khiến làm nhớ lại những kỷ niệm xưa.

– Ngay khi ở tình trạng chết lâm sàng, những mẩu ý thức (fragments de conscience) có thể vẫn còn sót lại.

– Vả lại khi óc không còn oxygène, không phải mọi vùng trong óc đều ngưng hoạt động cùng một lúc: Có thể có những vùng trong óc chưa bị tê liệt khi bị kích thích đã tạo ra những cảm giác NDE và người bệnh khi tỉnh lại đã tự nối kết những cảm giác đó với nhau thành có đầu có đuôi.

– Những thử nghiệm kích thích thùy não thái dương (lobe temporal) làm trên những người bị động kinh (épileptique) ở Đại học Bách khoa Lausanne và Viện Karoslinka ở Stockholm cho thấy là có thể tạo ra cảm giác thoát xác.

– Giáo sư Kevin Nelson khoa Thần kinh Đại học Kentucky Mỹ giảng giải là cảm tưởng bay trong một đường hầm đầy ánh sáng là do thiếu máu võng mạc (mắt).

Mario Beauregard, nghiên cứu sinh về Não học ở Đại học Montréal, tác giả cuốn Từ óc tới Trời (Du cerveau à dieu) phản biện lại và cho những giải thích đó không đủ thoả mãn:

– Khi tim ngưng đập, điện não đồ không còn ghi nhận được một dấu hiệu nào chứng tỏ bộ óc còn hoạt động mà những quá trình tâm thần (processus mentaux) như tri giác, ý thức, ký ức, vẫn diễn tiến để khi người bệnh sống lại có thể kể một cách rất rành mạch có đầu có đuôi những kinh nghiệm trong thời gian óc bị coi là chết, chứ không phải chỉ nhắc lại những ấn tượng rời rạc chớp nhoáng (instatanées) như trong các thử nghiệm kích thích óc kể trên, thì phải đưa ra giả thử là có một cái gọi là tinh thần hoàn toàn độc lập với bộ óc.

– Sự thiếu oxygène cũng không đủ để giải thích những hiện tượng EMI, vì nếu như vậy đa số những bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng thiếu oxygène đều phải trải qua hiện tượng EMI.

Hiện giờ Mario Beauregard đang cùng những nhà khoa học khác đưa ra chương trình thực nghiệm Aware: Một số bệnh viện Anh, Mỹ, Canada, Pháp… đồng ý thực hiện chương trình này. Trong phòng mổ sẽ giấu những đồ vật hay những biểu tượng ở một chỗ mà từ bàn mổ không thể trông thấy được. Nếu bệnh nhân hoàn sinh sau khi chết lâm sàng hay chết não mà nhận ra được nó, thì đó là chứng cớ tinh thần người bệnh đã thoát khỏi thân thể mình.

Nếu những thực nghiệm này đem lại kết quả, sẽ có nhiều người coi đó là chứng cớ hiển nhiên nhất, là có một sự sống khác độc lập với thể xác. Nhưng cũng có người cho là không đủ và cho đó chỉ là những tình cờ hú hoạ.

Chỉ có những người đã tự mình trải qua cuộc “chết đi sống lại” như ông Philippe Labro, một nhà văn nhà báo Pháp được nhiều người biết tiếng, kể lại trường hợp của ông khi bị hôn mê quá giai đoạn trong cuốn La Traversée: “Tôi thấy mình ra khỏi thân thể, tôi có cảm tưởng nhìn thấy tôi trên giường bệnh và quanh tôi là cả một ê kíp bác sĩ…”, mới nhìn sự chết với con mắt khác, không còn sợ hãi nữa.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

70 Comments (bài “Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?”)

  1. Anh Dũng viết:

    Không hiểu ông Tôn Nguyễn than vãn “giời ơi” rồi lại “khổ quá” để làm gì ?

    Ông vẫn tự biên tự diễn một cách thảm thương đấy chứ. Tôi thì chưa bao giờ dám to mồm phán ai là “phản động” như ông cả.

  2. Lê Quốc Trinh viết:

    Chào bạn Anh Dũng,

    Tôi đã biết ngay mà ! Bạn đâu có hiểu gì về Đạo Phật chính thống như thế nào, do đó khi tôi đưa vài nhận xét về Đạo Phật Vô Ngã và đạo trí tuệ thì bạn làm sao hiểu nổi.

    Hình ảnh ông chủ tịch nước NMT bày trò tổ chức cầu an cầu siêu cho thanh niên xung phong, xong rồi sai mọi người cầm tấm bảng bìa cứng vẽ chữ Tâm to tướng (bằng tiếng Tàu) giơ lên cho TV quay phim, cái đó không phải là trò “lừa gạt mỵ dân” sao ? Cầu an, cầu siêu, xin xâm, hoá vàng chỉ phát triển trong những chùa chiền theo môn phái Tịnh Độ bên Tàu ảnh hưởng bởi Đạo Lão tôn thờ thần thánh. Tôi dám chắc bạn không trả lời nổi vài câu hỏi sau:”Ngày xưa Đức Thế Tôn có bao giờ ngồi tụng kinh gõ mõ ê a không ? Có bao giờ Ngài ra lệnh tín đồ phải đức tượng thờ phụng Ngài không ? Có bao giờ Ngài cổ xuý chuyện thu tiền bạc công đức thiện nam tín nữ không ?”. Bạn có thực sử hiểu chữ TÂM ra sao chưa ? Bạn hiểu thế nào là NGÃ ?

    Ai ai cũng biết rằng xã hội Ấn Độ cực kỳ phức tạp, mâu thuẫn giai cấp trầm trọng, đến mức độ giai cấp cùng đinh nghèo hèn bị khinh khi phỉ nhổ khắp nơi, cho đến ngày nay ở thế kỷ 21 mà vẫn chưa xoá bỏ nổi. Thế mà chính thái tử Tất Đạt Ta là người dám đi tiên phong làm chuyện giải phóng con người từ 2600 năm trước. Nhưng Ngài không bao giờ tuyên bố xoá bỏ giai cấp, Ngài chỉ chú trọng nhắc nhở mọi người ai ai cũng có khả năng tư duy cải thiện cuộc sống nếu biết vén bức màn Vô Minh đi đến Giác Ngộ. Chủ nghĩa Cộng Sản cũng hô hào giải phóng dân tộc áp bức, nhưng thực tế họ đã gây phân hoá xã hội cực điểm, tạo ra hai giai cấp rõ rệt: giai cấp thống trị độc Đảng, chuyên chế, độc tài, áp bức, và giai cấp bị trị là toàn thể nhân dân. Kinh nghiệm các nước Đông Âu thoát ly khỏi ách Cộng Sản Liên Xô đã chứng tỏ hùng hồn tính không tưởng của chế độ phi nhân này, chắc tôi không cần đi vào chi tiết.

    Chuyện khoa học, nếu bạn hiểu rõ vật chất (khối lượng) luôn đi đôi với năng lượng không rời, thì bạn biết rằng kinh Bát Nhã Ba La Mật của Nhà Phật đã từng nhắc đến khái niệm này qua câu: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Sắc bất dị Không Không, Không bất dị Sắc”. Do đó đừng bao giờ đem Đạo Phật ra làm trò bung xung so sánh với chủ nghĩa Cộng Sản. Hãy để cho cái chủ thuyết không tưởng CS này đi vào lãng quên, tốt nhất là vứt nó vào sọt rác là xong chuyện. Những gì bạn cố gắng tuyên truyền tung hô cho CNCS đều là gượng ép và kệch cỡm, mâu thuẫn hoàn toàn với những thực tế trong lịch sử nhân loại suốt 100 năm nay, bạn không thấy sao ?

    Mến chào bạn,

  3. Tôn Nguyễn viết:

    Bạn Anh Dũng,

    Giời ơi, sao bạn lại bảo tôi “tuyệt đối hóa Đảng và lãnh tụ. CNCS hoàn toàn xa lạ với suy nghĩ này”. Bạn lại nói thêm tôi là “cái loa cho Đảng và Bác”.

    Khổ quá, bạn nói vậy hóa ra tôi là kẻ cướp công lao của bạn trên diễn đàn talawas tự hồi nào tới giờ sao?.

  4. Tôn Nguyễn viết:

    Những quí vị độc giả nào muốn hiểu đạo Phật và các liên hệ của nó đến vấn đề đang tranh luận có thể bấm vào http://zerokun.com?p=169 để xem “A BBC film on The Life of Buddha” (with Vietnamese subtitle).

  5. Anh Dũng viết:

    Ông Tôn Nguyễn !

    “bạn là môt kẻ phản động thực sự vì đi ngược lại đường lối Đảng và cách sống tâm linh cao cả của các lãnh tụ ta.”

    Đây là suy nghĩ của riêng ông đấy nhé: tuyệt đối hóa Đảng và lãnh tụ. Chủ nghĩa Cộng Sản hoàn toàn xa lạ với suy nghĩ này.

    “Chính Bác Hồ khi còn sống vẫn mong được gặp lại các Thánh tổ CS như K. Marx, Engels… trên thiên đường CS cơ mà! Bạn đã đi ngược lại đường lối của Bác và Đảng ta không phản động thì là gì. Cần phải xa lánh phản động.”

    Ông tự biến mình thành cái loa cho Đảng và Bác đấy nhé. Không ai ép ông cả.

    “Từ nay những lời ca tụng về CNCS và ĐCSVN của bạn là hoàn toàn giả dối, chống phá cách mạng, là công cốc không ai buồn đọc chứ đừng nói đến tranh luận.”

    Hãy để thực tiễn trả lời !

  6. Anh Dũng viết:

    Ông Quốc Trinh !

    1. Về “lý” thì việc ông lý giải Đạo Phật theo một cách, rồi ông lại nhắc đến việc lãnh đạo đi dâng hương, là những việc làm chẳng ăn nhập gì với nhau cả.

    Vì lãnh đạo không đi “truyền đạo” ( Đạo Phật ), nên nếu có sự khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn giữa lý thuyết nhà Phật và hành động thực tiễn của lãnh đạo thì cũng chẳng có gì khó hiểu.

    Còn những lời kết tội này nọ của ông thì chỉ là sự lặp lại những luận điệu cũ rích và vô nghĩa.

    2. Việc ông cắt nghĩa lại về năng lượng và vật chất thì chẳng nói lên điều gì, vì nó không mâu với cách hiểu của tôi. Tôi luôn khẳng định rằng năng lượng và khối lượng là hai thuộc tính của vật chất cơ mà. Chúng không thể tồn tại độc lập hay tách rời nhau.

    Một vật – cái ghế chẳng hạn – đương nhiên phải có một khối lượng nhất định. Nhưng ngoài ra nó còn nhiều thuộc tính khác như hình dạng, chất liệu,…

    Từ cái ghế ( vật chất ) ông có thể tìm được khối lượng M nào đó, nhưng ngược lại từ khối lượng M ông chưa chắc tìm ra được cái ghế.

    Ông nhắc đến “sức hút trái đất” – rõ ràng là ông không thể nói đến “sức hút” nếu không có “trái đất” ( vật chất ) trước đó. Đó là lực hấp dẫn giữa các vật ( vật chất ) có khối lượng với nhau chứ gì.

    Tóm lại, phần 2 của ông không có gì mâu thuẫn với những khẳng định của tôi.

    3. “Điểm sai lầm cơ bản của chủ nghĩa Cộng Sản là muốn san bằng giai cấp trong xã hội loài người, cho rằng đó là nguồn gốc của bóc lột, đưa đến khổ đau. Giai cấp trong xã hội loài người là sự khác biệt về khả năng, về ngôn ngữ, văn hoá, về nhận thức.”

    Ông đưa ra một khái niệm “giai cấp” hoàn toàn khác so với khái niệm của Chủ nghĩa Cộng Sản. Do vậy, mọi mưu toan dùng Đạo Phật để “chứng minh” sự sai lầm của Chủ nghĩa Cộng Sản của ông chẳng qua chỉ là tôn vinh Đạo Phật, hạ thấp Chủ nghĩa Cộng Sản.

    Tức là ông chẳng chứng minh được gì ngoài cái thiên kiến cố hữu của ông.

    Tôi nhắc lại: khái niệm “giai cấp” của ông hoàn toàn khác so với khái niệm của Chủ nghĩa Cộng Sản. Theo ông thì “giai cấp” chỉ đơn thuần là sự khác biệt giữa người với người. Như vậy, mỗi người có thể là một giai cấp riêng biệt. Còn Chủ nghĩa Cộng Sản chỉ nhắc đến hai giai cấp thôi: bóc lột và bị bóc lột.

    4. Ông Trinh giải thích Đạo Phật để làm gì vậy ?

    “bạn Anh Dũng nên tìm hiểu thêm về Đạo Phật và hãy có can đảm nhìn vào thực trạng XHCN để nhìn lại chính mình trước khi công kích người khác.”

    Tôi vẫn đang thực hành theo đúng lời khuyên của ông đấy chứ.

  7. Tôn Nguyễn viết:

    Bạn Anh Dũng,

    Bạn viết: – CNCS thừa nhận “tự do tôn giáo” là tự nhiên và hợp lý trong mỗi con người (dùng “thuốc phiện tôn giáo” để giảm đau), nhưng mục đích cuối cùng của nó vẫn là thực hiện “hạnh phúc thực sự” (xóa bỏ áp bức bất công – gây ra cơn đau) để làm mất đi nhu cầu thuốc phiện tôn giáo – tức “hạnh phúc giả tạo” của con người…

    …và các lãnh tụ vẫn đi “thắp hương” cùng với nhân dân. –

    Càng ngày càng có nhiều lãnh tụ cao cấp đi lễ, đi liếc, ngược lại bạn là người ra sức phủ nhận linh hồn, tôn giáo, cúng vái…

    Táo gan thật, thì ra bạn là môt kẻ phản động thực sự vì đi ngược lại đường lối Đảng và cách sống tâm linh cao cả của các lãnh tụ ta. Chính Bác Hồ khi còn sống vẫn mong được gặp lại các Thánh tổ CS như K. Marx, Engels… trên thiên đường CS cơ mà! Bạn đã đi ngược lại đường lối của Bác và Đảng ta không phản động thì là gì. Cần phải xa lánh phản động.

    Từ nay những lời ca tụng về CNCS và ĐCSVN của bạn là hoàn toàn giả dối, chống phá cách mạng, là công cốc không ai buồn đọc chứ đừng nói đến tranh luận.

  8. Xin chia sẻ thêm một đoạn trích khác trong cuốn “Nói chuyện với thiên đường”, có nội dung tương tự với đoạn trích trong cuốn “Bàn tay ánh sáng” ở comment trước. Đoạn trích này thú vị theo một cách riêng.
    ——————–

    Trích “Nói chuỵện với thiên đường” – James Van Praagh (trang 147 – 149)

    Là những cá thể sống, chúng ta đựoc tạo thành bởi tất cả những thứ đã trải nghiệm trong quá khứ của các kiếp sống. Nói cách khác, cuộc sống hiện tại của chúng ta là sự sưu tập các suy nghĩ, hành động, việc làm trong quá khứ, cả tích cực lẫn tiêu cực, mà chúng ta mang theo mình. Do thuyết luân hồi, chúng ta lại được tái sinh ra trong một gia đình nhất định với vị thế xã hội và hoàn cảnh kinh tế nhất định, cần thiết để nuôi dưỡng tinh thần cho chúng ta.

    Trước khi được đầu thai xuống trần gian, một linh hồn chuẩn bị cho cuộc sống mới của nó ngay tại thế giới linh hồn. Việc linh hồn trở lại với công việc mà nó đã trải qua hoặc hứng thú trong tiền kiếp là chuyện phổ biến. Ví dụ một inh hồn có kế hoạch trải nghiệm cuộc sống tại trần gian vào năm 2010 bằng nghề bác sỹ y khoa. Nó sẽ dành thời gian với những linh hồn hướng dẫn và giáo viên để hoàn thiện các kỹ năng cần thiết và sẽ nhìn vào những đột phá và công nghệ y khoa sẽ có vào thời điểm đó. Nó cũng có thể nhận biết các bệnh tật hoặc tai họa sẽ ảnh hưởng tới loài người và sẽ học cách để truyền bá các kiến thức cũng như tình yêu cho tất cả mọi người thông qua công việc trong tương lai tại trần gian. Khi một linh hồn đã thấu hiểu được điều này, nó sẽ phải hợp nhất với một nhân cách mới. Quan trọng là linh hồn phải hiểu được giá trị của mình khi tham gia vào tương lai của loài người và nó sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cuộc sống của những người khác.

    Khi là linh hồn, chúng ta học hành, phát triển và tiến hóa mãi mãi. Chúng ta xem xét việc đầu thai vào tương lai như một bản kế hoạch chi tiết để ố gắng hoàn thành và học hỏi khi ở trong cơ thể vật chất. Do đó, chúng ta chọn các cơ hội và trải nghiệm trên cõi trần để mang lại điều kiện tối ưu cho việc phát triển nhận thức và linh hồn. Kiếp trước của chúng ta sẽ quyết định thời điểm cho lần đầu thai kế tiếp và những trải nghiệm của chúng ta trong lần đầu thai đó.

    Cuối cùng thì tất cả chúng ta ở đây để học cách yêu thương. Điều này có vẻ đơn giản, nhưng rút cục lại không hề dễ. Tình yêu có rất nhiều khía cạnh. Một trong những bài học đầu tiên chúng ta cố gắng học là yêu quý bản thân mình. Nếu không biết yêu quý và nhận thức về bản thân thì chúng ta sẽ không thể học được cách yêu người khác. Một khi chúng ta biết yêu mình và yêu người khác một cách vô điều kiện, chúng ta sẽ được khai sáng và tôn trọng quy luật nhân quả của tự nhiên – không phải vì chúng ta muốn có một vị thế tốt hơn trong cuộc sống mà bởi vì chúng ta biết đó là cách duy nhất. Khi hiểu quy luật này và chung sống với nó, chúng ta trở nên tôn trọng sự độc lập của người khác. Rồi từ đó chúng ta có thể sống hòa hợp với những đồng loại khác vì sự tốt đẹp của tất cả.

  9. @ Bạn Anh Dũng:

    Chúng ta dừng lại nhé!

    @ Những bạn đọc khác:

    Đoạn trích sau đây gửi tới những ai tin vào sự tổn tại của linh hồn, hay ít nhất không phủ nhận sự tồn tại của nó.
    ——————–

    Trích “Bản tay ánh sáng” – Barbara Ann Brennan (trang 73, 74)

    Hóa thân

    Quá trình hóa thân chiếm cả cuộc đời. Nó không phải là cái gì đó xảy ra lúc lọt lòng rồi chấm dứt. Để mô tả nó, ta phải dùng các thuật ngữ siêu hình. Hóa thân là chuyển động có tổ chức của linh hồn trong đó những rung động cao hơn, tinh tế hơn, hay những diện mạo linh hồn, không ngừng bức xạ xuống qua các cơ thể hào quang mịn hơn mà đi vào những cơ thể hào quang khác đậm đặc hơn và cuối cùng vào thân thể. Những năng lượng kế tiếp này được cá thể sử dụng trong sinh trưởng suốt cả cuộc đời.

    Mỗi giai đoạn chủ yếu của cuộc đời tương ứng với những rung động mới cao hơn và sự hoạt hoá của các luân xa khác nhau. Vì thế, tại mỗi giai đoạn, năng lượng mới và ý thức mới sẵn sàng được sử dụng cho việc phát triển nhân cách.Mỗi giai đoạn đưa ra những phạm vi trải nghiệm và học hỏi. Được nhìn từ quan điểm này, cuộc đời đầy khám phá lý thú và thách thức đối với linh hồn.

    Quá trình hóa thân được bản ngã cao cấp chỉ đạo. Mô hình cuộc đời được giữ tại vầng thứ bảy của hào quang, mức ketheric mẫu. Nó là mẫu động lực luôn thay đổi vì cá thể tự nguyện lựa chọn trong quá trình sống và sinh trưởng. Do có sinh trưởng, cá thể khai mở khả năng chịu đựng những mức cao hơn của rung động / năng lượng / ý thức đi vào và qua các phương tiện truyền đạt của anh ta, các cơ thể hào quang và luân xa. Như vậy là có thể lợi dụng những thực tại mở rộng lớn hơn trong khi anh ta tiến triển trên đường đời. Vì từng cá thể tiến triển, toàn nhân loại cũng vậy. Mỗi thế hệ thường có khả năng chịu đựng cao hơn thế hệ trước, do đó toàn nhân loại chuyển dịch trong sơ đồ tiến hóa tới những tần số cao hơn và những thực tại mở rộng hơn. Nguyên lý tiến triển này của loài nguời được nói đến trong nhiều văn bản tôn giáo như Kabbalah, Bhagavad Gita, Upanishads và các văn bản khác.

    Quá trình hóa thân trước lúc thụ thai đã được bà Blavatsky luận bàn, và gần đây hơn là Alice Bailey, Phoebe Bendit và Eva Pierrakos. Theo Pierrakos, linh hồn hóa thân gặp gỡ các hướng đạo tâm linh để dự kiến cuộc đời sắp tới. Trong cuộc gặp gỡ này, linh hồn và hướng đạo xem xét những nhiệm vụ mà linh hồn phải hoàn thành trong quá trình sinh trưởng của nó, cái mà nghiệp (căn) đòi hỏi được đáp ứng và quan hệ, cùng những hệ thống niềm tin tiêu cực mà nó phải thanh lọc qua trải nghiệm. Nhiệm vụ cuộc đời này thường được quy là nhiệm vụ cá nhân.

    Chẳng hạn, con người có thể cần phát triển khả năng lãnh đạo. Người đó, khi đi vào cuộc sống thể chất, sẽ tìm thấy bản thân trong những tình thế mà ở đó khả năng lãnh đạo là lối thoát then chốt. Hoàn cảnh từng người sẽ hoàn toàn khác nhau, nhưng trung tâm vẫn là khả năng lãnh đạo. Một người có thể sinh vào một gia đình kế thừa nhiều khả năng lãnh đạo, như một dòng dõi lâu đời các chủ tịch hội được kính trọng, hoặc các nhà lãnh đạo chính trị, trong khi người khác có thể sinh vào một gia đình không ai có khả năng lãnh đạo và tại đó các nhà lãnh đạo bị coi là những nhà chức trách tiêu cực cần đánh đổ hoặc cần nổi lên chống lại. Nhiệm vụ con người là học hỏi để chấp nhận lối thoát đó bằng biện pháp cân bằng và thoải mái.

    Theo Eva Pierrakos, số lần các hướng đạo chỉ bảo cho linh hồn trong việc xác định cuộc đời sắp tới tùy thuộc vào sự thành thực của anh ta. Cha mẹ được chọn làm người cung cấp trải nghiệm cần thiết về môi trường và thể chất. Những lựa chọn này định rõ hỗn hợp năng lượng rốt cuộc sẽ tạo thành cỗ xe thể chất mà linh hồn sẽ hóa thân vào để thực hiện nhiệm vụ của nó. Những năng lượng này rất chính xác và trang bị cho linh hồn đúng cái mà nó cần để thực thi nhiệm vụ. Linh hồn đảm nhiệm cả nhiệm vụ cá nhân là học hỏi (như khả năng lãnh đạo) lẫn “ nhiệm vụ trần gian „ đem lại một tài năng cho đời. Phác họa này duy nhất đến nỗi khi hoàn tất nhiệm vụ cá nhân, con người cũng được chuẩn bị để hoàn tất nhiệm vụ trần gian.

    Thêm vào ví dụ kể trên về khả năng lãnh đạo, cá thể sẽ cần phải học hỏi đức tính hoặc kỹ năng đó trước khi chuyển dịch vào vai trò lãnh đạo trong lĩnh vực công việc đã chọn. Cá thể có thể cảm thấy e sợ trước dòng dõi lâu đời của tổ tiên là những nhà lãnh đạo xuất sắc; phản ứng trước di sản đó có thể lại là một hứng khởi toàn diện muốn tiến lên phía trước trong khả năng lãnh đạo của chính mình. Mỗi trường hợp một khác và rất riêng tư tùy theo tính duy nhất của linh hồn đang đi học hỏi.

    Dự kiến cuộc đời chứa đựng nhiều thực tại có khả năng xảy ra, cho phép lựa chọn rộng rãi một cách tự nguyện. Hòa trộn vào trong kết cấu cuộc đời này là tác động nhân quả. Ta sáng tạo ra thực tại của riêng mình. Sáng tạo này nảy sinh từ nhiều phần khác nhau trong bản chất của ta. Sáng tạo không phải lúc nào cũng dễ hiểu từ một mức nhân quả giản đơn, mặc dầu phần lớn trải nghiệm của ta có thể được hiểu theo quan niệm đó. Bạn sáng tạo ra theo đúng nghĩa của từ, cái mà bạn muốn. Cái mà bạn muốn sẽ được giữ trong ý thức, vô thức, siêu thức và ý thức cộng đồng. Tất cả các lực sáng tạo này hòa trộn lại để sáng tạo ra trải nghiệm tại nhiều mức tồn tại của ta khi ta tiến triển qua cuộc đời. Cái được mệnh danh là nghiệp (căn) đối với tôi là nhân quả dài lâu, cũng từ nhiều mức tồn tại khác nhau của ta. Do đó ta sáng tạo từ nguồn gốc cá nhân và nguồn gốc nhóm, dĩ nhiên là có những nhóm nhỏ giữa các nhóm lớn, tất cả cộng thêm vào kết cấu to lớn trải nghiệm sáng tạo về cuộc đời. Từ quan điểm này sẽ dễ dàng nhìn vào tính phong phú của cuộc đời bằng nỗi ngạc nhiên trẻ thơ.

    Sau khi “đặt kế hoạch”, linh hồn đi vào một quá trình mất dần ý thức của thế giới tâm linh. Lúc thụ thai, một mắt xích năng lượng hình thành giữa linh hồn và trứng đã thụ tinh. Vào lúc đó, một dạ con etheric cũng hình thành, bảo vệ cho linh hồn nhập khỏi bị ảnh hưởng từ bên ngoài ngoại trừ ảnh hưởng của người mẹ. Trong khi thai lớn lên trong bụng mẹ, linh hồn dần dà bắt đầu cảm thấy nó “ lề mề „ và dần dà trở nên liên kết có ý thức với thân thể. Tới một thời điểm nào đó, đột nhiên linh hồn nhận thức được mối liên kết này; có một tia năng lượng ý thức rất mạnh lóc xuống đi vào thân thể đang hình thành. Lúc nầy linh hồn lại mất ý thức lần nữa , và chỉ tỉnh lại từ từ vào trong thế giới thể chất. Tia sáng mạnh ấy của ý thức phù hợp với thời điểm người mẹ thấy thai đạp trong bụng.

  10. Anh Dũng viết:

    1. Ông Trung Thứ oang oang rằng: “Trong hiện tượng cận tử, tin hay không là chuyện của mỗi người nhưng nhân danh khoa học để phủ định nó là một sự ăn gian. Nếu ngon thì mời quý vị tới trạng thái đó kiểm chứng.”

    Khoa học liên tục đưa ra những khẳng định và những phủ định khác nhau, miễn là đủ căn cứ. Nếu đủ căn cứ bác bỏ sự tồn tại của “linh hồn” thì khoa học không ngần ngại tuyên bố lời bác bỏ đó. Khẳng định rằng “linh hồn” chỉ đơn thuần là niềm tin, là sản phẩm TƯỞNG TƯỢNG của con người cũng là một nhiệm vụ của khoa học nếu có đủ căn cứ để khẳng định.

    2. Nếu “có linh hồn” để mà “đến đó” thì đã chẳng cần phải “kiểm chứng”.

    Ông Trung Thứ có một lời thách thức vô nghĩa, ngớ ngẩn, và “ăn gian”.

    3. “Trả lời cho câu hỏi: “Ngoài phần thể xác vật chất thuần túy, con người còn có gì khác (tạm gọi tên là linh hồn) nữa không?” rõ ràng phụ thuộc nơi niềm tin mỗi người nhưng chắc chắn không thuộc thẩm quyền khoa học.”

    Chẳng ai có thể cấm khoa học bác bỏ một điều phi lý cả. Ông Trung Thứ khẳng định rằng: có “linh hồn” hay không là tùy vào “niễm tin” của mỗi người. Trong khi phải có “mỗi người” ( vật chất ) trước đã rồi mới có thể có “niềm tin của mỗi người” ( ý thức ) được.

    Tức là ông Trung Thứ lại khẳng định tính đúng đắn của thuyết duy vật.

    4. Câu chuyện còn lại của ông Trung Thứ thì chẳng ăn nhập gì ở đây cả. Vì vấn đề không phải người ta tranh cãi rằng con người xác thịt ( kẻ giết người ) có ý thức ( lương tâm ) hay không, mà người ta đang tranh cãi xem có một thế giới ý thức ( linh hồn ) tồn tại hoàn toàn độc lập, tách rời phần vật chất xác thịt của con người hay không.

    Bạn Trang Nhung đang cố chứng minh rằng: ý thức ( lương tâm của kẻ giết người trong câu chuyện của ông Trung Thứ ) có thể bay lượn đâu đó, có thể tồn tại mà không phụ thuộc vào phần vật chất ( xác thịt, não bộ của kẻ giết người ), và rằng: không cần có kẻ giết người thì vẫn có thể có lương tâm cắn rứt vì đã giết người.

    Cái “khoa học” của ông Trung Thứ và bạn Trang Nhung lại mâu thuẫn nhau rồi.

  11. Lê Quốc Trinh viết:

    ĐẠO PHẬT VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

    Vai lời góp ý với bạn Anh Dũng,

    Đọc những lời phản hồi gay gắt của bạn trong topic này, tôi thực sự buồn bã ngao ngán, nó không khác gì những luận điệu tuyên truyền rẻ tiền của Cộng Sản thời kỳ phồn thịnh ngày xưa. Bạn đã cố tình lèo lái chuyện Phật Pháp sang lãnh vực chính trị và suy tôn chủ thuyết Cộng Sản (K. Marx). Tôi thực tâm không ngại gì đối thoại để học hỏi, nhưng khi nghe bạn công kích những người khác, tôi bó buộc phải lên tiếng:

    1)- Trước hết chuyện CS tôn trọng tôn giáo, các vị lãnh tụ CS VN sẵn sàng dự lễ “dâng hoa hành hương” với thiện nam tín nữ để chứng tỏ hoà đồng. Sai lầm to rồi bạn.

    Ngược lại, đó chính là một chính sách “ngu dân và mỵ dân” không hơn không kém. Đạo Phật chính thống do Ngài Thích Ca Mâu Ni truyền bá tuyệt đối dựa trên cơ sở phát triển trí tuệ trong chiều hướng từ bi hỷ xả để tự giải thoát, hiểu rõ KHỔ là gì thì mới diệt được KHỔ. Đạo Phật mang đầy đủ tính chất khoa học, tuyệt đối không là một tôn giáo thuần tuý như những tôn giáo khác, Đạo Phật đựa trên căn bản VÔ NGÃ để tìm hiểu sự vật, các tôn giáo khác dựa trên tinh thần DUY NGÃ (hữu thần) để tự ru ngủ. Cộng Sản Việt Nam hơn nửa thế kỷ nay đã và đang hình thành một loại tôn giáo duy ngã cùng cực, tôn thờ cá nhân, thờ phụng xác chết, lấy giáo điều (chủ nghĩa CS) làm cơ sở tuyên truyền một chiều, sợ lý luận đa nguyên. Do đó rất dễ hiểu khi thấy tình trạng dân trí, giáo dục xuống cấp trầm trọng suốt 34 năm qua. Để duy trì vị trí lãnh đạo, các vị lãnh tụ sẵn sàng đi tiên phong trong những buổi lễ càu an cầu siêu (chủ tich Nguyễn Minh Triết), thực chất chính là ru ngủ nhân dân, nôm na là mỵ dân.

    2)- Bạn công kích Nguyễn Trang Nhung trên cơ sở khoa học, chủ đề năng lượng và vật chất, nhưng bạn đã hiểu sai vấn đề.

    Khối lượng (mass) là biểu tượng của vật chất, tất cả những gì gọi là vật chất đều có khối lượng, ngay cả không khí chúng ta đang hít thở cũng là vật chất (trạng thái khí, gas). Khi là vật chất, ngay dù nhỏ bé đến mức thấp nhất (electron hay proton hay hạt nguyên tử) cũng có khối lượng. Và vật chất (khối lượng) chịu ảnh hưởng của năng lượng (energy), ví dụ điển hình là định luật hấp dẫn vũ trụ Newton, trên trái đất này là súc hút trái đất (gravity) qua công thức F= m X a (ma là khối lượng, a là gia tốc, hay g =9.81m/sec2). Chỉ có năng lượng (energy) là không có khối lượng (không có mass), đơn vị đo lường của energy là joule, calorie, BTU. Năng lượng theo khoa học định nghĩa đơn thuần là khả năng làm di chuyển hay biến đổi trạng thái vật chất. Ví dụ điển hình: nhiệt lượng (một biểu hiện dễ cảm nhận nhất) có khả năng đun sôi nước (chất lỏng) thành hơi nước (khí), hoặc đưa nước trở lại thành nước đá (chất rắn), hoặc sử dụng để chạy máy hơi nước (turbine nhiệt điện). Năng lượng hiện hữu khắp nơi trong vũ trụ, tiềm tàng ẩn nấp trong vật chất, ví dụ chất đốt (than đá, củi, xăng, khí đốt). Ngay trong cơ thể sinh vật đã có năng lượng tiềm tàng. Năng lượng hiểu theo Nhiệt Động Học là cái không sinh không diệt, do đó nó luôn luôn hiện hữu, độc lập với thời gian và không gian. Trong triết lý Nhà Phật đó là Tính Không vậy (không sinh, không diệt, không mùi, không vị, không thiếu, không thừa). Dẫu cho khoa học có tiến triển đến mức độ tìm ra được những hạt quarks rất ư phức tạp, nhưng nguyên lý bảo tồn năng lượng hãy còn chính xác, chúng ta còn sống trên trái đầt này thì phải chịu ảnh hưởng của sức hút trái đất (gravity).

    3)- Điểm sai lầm cơ bản của chủ nghĩa Cộng Sản là muốn san bằng giai cấp trong xã hội loài người, cho rằng đó là nguồn gốc của bóc lột, đưa đến khổ đau. Giai cấp trong xã hội loài người là sự khác biệt về khả năng, về ngôn ngữ, văn hoá, về nhận thức. Sự khác biệt (Đạo Phật gọi là Vô Thường) này chính là động lực thúc đẩy xã hội đấu tranh không ngừng, hoặc đưa xã hội tiến lên, phát triển theo chiều hướng tốt, hoặc đưa nhân loại đến hiểm hoạ chiến tranh máu lửa nếu không biết giải quyết với nhau. Nhưng xoá bỏ giai cấp, đồng nghĩa diệt trừ động cơ phát triển thì nhân loại sẽ bị đưa trở lại thời kỳ đồ đá, nguyên thuỷ cách đây hàng triệu năm. Trong lãnh vực khoa học, sức sống hay năng lượng sinh ra khi có sự mất cân bằng vật chất, ví dụ nước chảy liên tục từ độ cao chênh lệch (energie potentielle) sinh ra sức đẩy để chạy máy turbine, sinh ra điện năng. Dòng điện chỉ chạy đuợc khi có hiệu số điện thế (voltage), nước chảy trong ống đưa lên cao chỉ khi nào có sức đẩy từ máy bơm tạo áp suất khác biệt. Ngược lại một ao nước tù không có giòng chảy, thì không có sức sống, thiếu oxygen, từ đó chỉ có các ký sinh vật tìm đến sống (muỗi), gây ô nhiễm. Đó là tình trạng các nước XHCN trong thập niên 70-80, tệ nạn suy đồi xã hội từ trên xuống dưới, mọi người chỉ biết sống ký sinh bằng mọi mánh mung, thủ đoạn.

    4)- Đức Phật Thích Ca khi đưa ra chân lý Tứ Diệu Đế, Ngài muốn trình bày cho mọi chúng sinh hiểu và ý thức về chữ KHỔ. Ngài chủ trương kêu gọi chúng sinh hãy cố gắng động não để hiểu và tự kiểm soát chính mình, đưa đến tự mình giải thoát cái KHỔ của chính mình, Ngài đâu có bao giờ hứa hẹn cầm tay dẫn dắt ai đâu: “Chúng sinh hãy tự thắp đuốc mà đi”. Ít ai còn hiểu rằng chính thái tử Tất Đạt Ta là người dám bỏ cung điện, ngai vàng, thế lực chính trị để xông pha gian khổ đi tìm chân lý giải phóng con người. Ít ai biết rằng sau khi đắc đạo dưới cội bồ đề, Ngài còn lê gót đi khắp nước Ấn Độ để thuyết pháp thay vì trở về cung điện hưởng vinh hoa phú quý. Ít ai biết rằng cả giòng họ Thích của Ngài đã bị tiêu diệt dưới tay người em cùng cha khác mẹ, Ngài là kẻ duy nhất sống sót vì Ngài đã thoát ly khỏi cái thế giới chính trị dơ bẩn tàn bạo đó, Ngài là một tên cùng đinh dơ dáy cho nên mới không bị tiêu diệt.

    Kết luận: bạn Anh Dũng nên tìm hiểu thêm về Đạo Phật và hãy có can đảm nhìn vào thực trạng XHCN để nhìn lại chính mình trước khi công kích người khác.

    Mến chào bạn,

    Lê QuốcTrinh, Canada

  12. Anh Dũng viết:

    Ông Tri Ngộ !

    1. “Chết là hết (hết thiệt hông ?).”

    Ông tự mình khẳng định một điều, rồi lại tự ông thắc mắc rằng điều khẳng định đó có đúng hay không. Ông muốn gửi gắm thông điệp gì vậy ?

    2. Ông phán rằng người khác “theo chủ nghĩa duy vật mới làm nhiều điều ác vì họ nghĩ chết là hết.”

    Rồi ông bịa đặt ra rằng: “Họ để tượng ông Hồ Chí Minh vào trong Chùa còn cao hơn tượng Phật.”. Còn thực tế thì việc đặt tượng ai là do nhà Chùa quyết định.

    Ông vu khống người ta: “Họ dùng côn đồ (cô hồn sống) đem phân ném vào Chùa và vào xe các Thầy Cô, họ xông vào chánh điện (nơi thờ cúng thiêng liêng) và có những hành động và lời nói ngổ ngáo chưa từng thấy trong lịch sử nước Nam.”

    Rốt cuộc là ông chỉ càng làm sáng tỏ rằng: cái “nghiên cứu Đạo Phật” của ông chỉ là công cốc. Ông còn to mồm phán hơn cả Thích Ca, Như Lai.

    3. “Chết là hết, một tư duy rất có lợi cho chủ nghĩa CS.”

    “Chết là hết” là điều khẳng định của ông Tri Ngộ đấy chứ. Còn Chủ nghĩa Cộng Sản bảo rằng sau khi chết vẫn còn vật chất ( xương, thịt ), vẫn còn tư tưởng và ảnh hưởng truyền lại thế hệ sau.

    Rõ ràng, ông Tri Ngộ đang bịa đặt và đang tự sỉ vả mình.

  13. Anh Dũng viết:

    Bạn Trang Nhung !

    1. Trên TALAWAS này, chúng ta chỉ có thể diễn đạt ý tưởng bằng câu chữ. Bạn liên tục “lỗi viết” thì tức là bạn chẳng thể hiện được cái “ý tưởng” gì ở đây cả.

    2. “Tôi đã nói là tôi đang confused. Tôi dám chắc là Anh Dũng chẳng hiểu thấu đáo cái gì…”

    Một người liên tục “confused” như bạn thì làm gì có tư cách phán người khác hiểu hay không hiểu cái gì. Và những lời phán của bạn về tôi ( nào là AD dẫn nguồn không đáng tin cậy, nào là AD không hiểu thấu đáo về năng lượng, nào là AD chẳng hiểu thấu đáo cái gì,…) đó của bạn cũng chỉ là “confused” mà thôi.

    3. “Sự nhầm lẫn này (nếu thực sự là nhầm lẫn) thì cũng là sự nhầm lẫn của rất nhiều người. Còn bạn thì lại nhân tiện bám vào đó mà làm như mình hiểu tất cả!”

    Phần “lý” thì cả tôi và bạn đều thống nhất rằng bạn đã sai, đã nhầm lẫn.

    Còn phần “tình” thì bạn nghĩ gì về tôi cũng đều là TƯỞNG TƯỢNG của bạn. Tại sao bạn phải tâm sự với tôi về cái “tình” đó của bạn làm gì , vì nó có giúp ích được gì được trong việc chứng minh sự tồn tại của “thế giới bên kia” – thế giới TƯỞNG TƯỢNG của bạn đâu ?

    4. “Bạn phải hiểu là định nghĩa về năng lượng trong cuốn “Nói chuyện với thiên đường” là cách nói đơn giản. Cách định nghĩa rộng này bao trùm cả định nghĩa hẹp cho khái niệm năng lượng.”

    Khám phá chân lý không bao giờ “đơn giản” cả. Và việc “bao trùm” cũng chỉ là TƯỞNG TƯỢNG của bạn thôi.

    5. “mặc dù điều này về lý thuyết có thể thực hiện được (lưu ý từ “trực tiếp”)”

    Chính vì tôi lưu ý đến từ “trực tiếp” nên tôi mới bảo bạn đang TƯỞNG TƯỢNG đấy chứ. Còn “gián tiếp” thì bản thân nó đã vạch trần cái sự TƯỞNG TƯỢNG rồi, vì chỉ có hai đối tượng với nhau thì còn “gián tiếp” qua cái thứ ba nào nữa ?

    Cái “về lý thuyết” thì ngay từ đầu cả tác giả Phong Uyên và bạn Trang Nhung đã trình bày rồi: chỉ đơn thuần là giả thuyết hoặc tưởng tượng.

    Nhưng, cái quyết định lại là THỰC TẾ.

    6. “Phải hiểu rằng giới hạn về mặt kỹ thuật của con người không phải là giới hạn của tự nhiên. Trong tự nhiên, vật chất vẫn chuyển hóa thành năng lượng và ngược lại (trong những điều kiện nào, con người chưa có khả năng nắm bắt).”

    Bạn Trang Nhung liên tục ép người khác “phải hiểu” theo cái cách của bạn. Bạn chỉ biết tưởng tượng và áp đặt tư tưởng.

    7. “bạn không có đủ sáng suốt để hiểu được tinh thần của chúng, mà chỉ nhăm nhăm vào một điều: Tìm lý lẽ để hạ gục đối phương!”

    Nếu tôi đủ lý lẽ để hạ gục đối phương, và quả thực là như vậy khi đối phương là cái “lý lẽ” của bạn Trang Nhung, thì việc đó càng chứng tỏ sự SÁNG SUỐT của tôi mà thôi. Cho nên, việc bạn Trang Nhung sử dụng từ “mà chỉ” ở đây chỉ cho thấy bạn đang loạn chữ.

    Còn cái “Và rồi bạn thất bại.” của Trang Nhung lại là TƯỞNG TƯỢNG.

  14. Tri Ngộ viết:

    @ Anh Dũng
    Thật thế, làm gì có linh hồn. Chỉ có vật chất thôi. Chết là hết (hết thiệt hông ?). Vì vậy các ông đảng viên CS cầm quyền theo chủ nghĩa duy vật mới làm nhiều điều ác vì họ nghĩ chết là hết. Họ không tin vào nghiệp. Họ để tượng ông Hồ Chí Minh vào trong Chùa còn cao hơn tượng Phật. Họ dùng côn đồ (cô hồn sống) đem phân ném vào Chùa và vào xe các Thầy Cô, họ xông vào chánh điện (nơi thờ cúng thiêng liêng) và có những hành động và lời nói ngổ ngáo chưa từng thấy trong lịch sử nước Nam.
    Chết là hết, một tư duy rất có lợi cho chủ nghĩa CS.

  15. Gửi bạn Anh Dũng,

    1. Anh Dũng viết: Bạn bảo: “nhiều chỗ trên trang vẫn nói về sự chuyển hóa giữa VẬT CHẤT và năng lượng”, nhưng tôi chỉ toàn thấy nói ( giả thuyết ) về sự chuyển hóa giữa KHỐI LƯỢNG và năng lượng.

    Chỗ này là tôi viết nhầm đấy thôi, bạn có thể hiểu sự nhầm lẫn ở đây là lỗi viết.

    2. Anh Dũng viết: Khi bạn đưa ra dẫn chứng là mục 2.1 trong trang của SEP, thì sự nhầm lẫn của bạn đã rõ ràng.

    Tôi đã nói là tôi đang confused. Tôi dám chắc là Anh Dũng chẳng hiểu thấu đáo cái gì với cái gì trong số những điều mà chúng ta trao đổi. Khi tôi dẫn chứng phần 2.1 trên trang của SEP cho bạn coi, bạn nghĩ gì về điều này? Bạn có thấy là tôi chấp nhận khả năng mình có thể nhầm lẫn trước người khác. Sự nhầm lẫn này (nếu thực sự là nhầm lẫn) thì cũng là sự nhầm lẫn của rất nhiều người. Còn bạn thì lại nhân tiện bám vào đó mà làm như mình hiểu tất cả!

    3. Anh Dũng viết: Cả hai cái dẫn chứng này đều do bạn Trang Nhung đưa ra, nhưng cái khái niệm “năng lượng” trong bài thứ hai là một khái niệm hoàn toàn mới so với khái niệm “năng lượng” trong bài thứ nhất ( của các nhà Vật lý học ).

    Bạn phải hiểu là định nghĩa về năng lượng trong cuốn “Nói chuyện với thiên đường” là cách nói đơn giản. Ngay như tác giả đã viết: “để định nghĩa một cách đơn giản, thì năng lượng được tạo ra bởi…”. Cách định nghĩa rộng này bao trùm cả định nghĩa hẹp cho khái niệm năng lượng.

    4 Anh Dũng viết: Vậy nên, dù có cố gắng đến mấy thì cũng phải thừa nhận: “Until now, no one had directly created matter from light.” ( Cho tới bây giờ, chưa có ai tạo ra được VẬT CHẤT từ ÁNH SÁNG ).

    Sự hiểu của bạn đối với trích dẫn tôi đưa ra hơi bị buồn cười. Tôi không “cố gắng đến mấy thì cũng phải thừa nhận” điều gì ở đây cả. Trích dẫn trên cùng các trích dẫn liên quan nói đến một thực tế là con người chưa thể tạo ra một cách trực tiếp vật chất từ ánh sáng (hay năng lượng ánh sáng), mặc dù điều này về lý thuyết có thể thực hiện được (lưu ý từ “trực tiếp”). Phải hiểu rằng giới hạn về mặt kỹ thuật của con người không phải là giới hạn của tự nhiên. Trong tự nhiên, vật chất vẫn chuyển hóa thành năng lượng và ngược lại (trong những điều kiện nào, con người chưa có khả năng nắm bắt).

    Khi xem xét các trích dẫn, bạn không có đủ sáng suốt để hiểu được tinh thần của chúng, mà chỉ nhăm nhăm vào một điều: Tìm lý lẽ để hạ gục đối phương! Và rồi bạn thất bại.

1 2 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>