talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?

16/03/2010 | 2:06 chiều | 70 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Đời sống, Tổng hợp
Thẻ:

Có lẽ con người khác với con vật ở chỗ ngoài bản năng tự tồn còn có ý thức về sự tồn tại của mình, nghĩa là sự sống chết của mình, nên đã tạo ra đạo giáo và triết học. Đạo giáo dựa trên đức tin, triết học dựa trên lí trí. Các đạo giáo tin con người gồm 2 phần: tinh thần (linh hồn) và thể xác. Triết học từ khi mới khởi đầu, cách đây 2500-3000 năm ở Ấn Độ và ở Hi Lạp, cũng đã chia làm 2 phái: Duy tâm, suy luận là tinh thần có sự sống độc lập với thể xác, tiếp tục tồn tại sau khi thể xác chết. Duy vật, suy luận ngược lại là tinh thần chỉ là vật chất, được cấu tạo như mọi vật chất bởi những nguyên tử kết hợp với nhau. Khi chết các nguyên tử rời rã nhau, tinh thần cũng sẽ tiêu tan.

Từ cuối thế kỷ thứ XIX, khoa học không còn phụ thuộc triết học về phương pháp suy luận nữa và đạt được nhiều tiến bộ nhờ phương pháp thực nghiệm chỉ công nhận sự hiện hữu của những gì có thể quan sát, thử nghiệm và chứng minh được.

Là một ngành của khoa học, Y khoa không có ý kiến gì về sự sống chết của cái phần của con người gọi là linh hồn, vì không thể quan sát và thử nghiệm nó được.

Cho tới cuối thế kỷ thứ XX, Y khoa lấy tiêu chuẩn để định nghĩa sự chết là sự chết của thể xác khi không còn hơi thở và tim ngưng đập. Tình trạng này gọi là chết lâm sàng (mort clinique). Nếu sau một thời gian vẫn không hồi phục được những chức năng hô hấp và tuần hoàn thì người bệnh bị coi là đã chết hẳn.

Những năm gần đây, kỹ thuật hô hấp nhân tạo (respiration artificielle) và hỗ trợ tuần hoàn (assistance circulatoire) có những tiến bộ phi thường, khiến có thể hồi phục được gần như vô hạn định hoạt động của tim, phổi mặc dầu người bệnh vẫn ở trong tình trạng hôn mê. Y khoa thấy cần phải đưa ra một tiêu chuẩn (critère) khác về sự chết, không phải khi tim phổi ngưng hoạt động mà là khi bộ óc không còn biểu lộ một hoạt động nào nữa, gọi là chết não hay hôn mê quá giai đoạn.

Người bệnh bị coi là ở tình trạng Chết não khi điện não ký (électroencéphalographie) không còn ghi nhận được một biến đổi điện thế nào ở vỏ não (cortex), cho một điện não đồ phẳng lặng  (Electroencéphalogramme plat). Chết não được coi là chết hẳn nếu 30 phút sau điện não đồ thứ hai vẫn phẳng lặng. Nhiều nhà khoa học cho đó là một bằng chứng không thể chối cãi được là cái gọi là tinh thần chỉ là sản phẩm của bộ não vì khi bộ não bị coi là chết, không còn một biểu hiện nào của ý thức nữa.

Thời gian gần đây, khoa hồi sức (Réanimation) và khoa giải phẫu lập ra những kỳ công không thể tưởng tượng nổi, có thể coi là những phép lạ: nhiều bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng hay chết não được hồi sinh.

Và kỳ lạ hơn nữa là nhiều người được “cải tử hoàn sinh” nhớ và kể lại những nhận thức và những cảm nhận của mình trong thời gian bị coi là chết, như trở về từ một thế giới khác. Khoa học gọi những hiện tượng này là: NDE (near death experiences), tiếng Anh, hay EMI (experiences de mort imminente), tiếng Pháp. Dịch ra tiếng Việt là Kinh nghiệm cận tử.

Những kinh nghiệm cận tử này chứng tỏ Ý thức, biểu hiện của Tinh thần có đời sống độc lập với bộ óc tất nhiên là không phải từ bộ óc mà ra. Nhiều trung tâm khoa học trên thế giới được thành lập để nghiên cứu và tìm hiểu những kinh nghiệm cận tử này như American for the Advancement of Science (AAAS), Đại học Virginia Mỹ và Đại học Northampton Anh v.v… Đó cũng là đề tài của cuộc hội thảo năm 2006, ở tỉnh Martigues (Pháp) với hơn 2000 nhà khảo cứu đến từ nhiều nước.

Hiện tượng DNE đầu tiên được giới khoa học nghiên cứu là trường hợp cô ca sĩ Pam Reynolds 35 tuồi bị Túi phình mạch não (anévrisme artérielle) phải giải phẫu với rất ít hi vọng sống được vì năm đó là năm 1991, kỹ thuật mổ “túi phình mạch não” còn mới mẻ và đầy bất chắc. Cô Pam bị đặt vào tình trạng chết lâm sàng (mort clinique): nhiệt độ xuống còn 15,5°C. Khi bác sĩ giải phẫu bắt đầu cắt da đầu thì cô Pam thấy mình ra khỏi thân xác. Người ngược trở lại 180°, từ trên cao cô thấy tóc mình bị cạo sạch và cái cưa bác sĩ dùng có nhãn hiệu là Midas Rex. Cô nghe các bác sĩ giải phẫu trả lời nhau và sai người phụ mổ. Cũng vẫn ở tình trạng trầm bổng (lévitation), cô thấy mình xuyên qua một hầm tối trước khi đến một nơi đầy ánh sáng và rất ấm cúng. Cô có cảm tưởng gặp lại bà con bạn bè đã chết và cô nhận diện được một ông cậu chết trước đây và ông cậu đem cô lại chỗ xác chết giá lạnh của ông. Cô Pam kể khi tỉnh lại làm cả ê kíp bác sĩ đều ngạc nhiên vì trong tình trạng chết lâm sàng, máu ngưng luân chuyển, máy điện tử (monitoring) ghi nhận óc ngưng hoạt động, làm sao cô có thể kể lại một cách mạch lạc những sự kiện đã xảy ra.

Cuốn sách đầu tiên nói về kinh nghiệm cận tử là cuốn best-seller của bác sĩ Raymond Moody, Cuộc sống sau cuộc sống (La vie après la vie) xuất bản năm 1976. Những cuốn sách nổi tiếng mới đây là cuốn của bác sĩ J.J Charbonnier, Những bằng chứng khoa học của cuộc sống sau đời sống (Les preuves scientifiques d’une vie après la vie) và cuốn sách mới xuất bản được mấy tuần đã được The New York Times đưa vào danh sách best-seller là của bác sĩ Jeffrey Long, chuyên khoa Quang tuyến ung thư người Mỹ Evidence of the After-life (Bằng chứng sau cuộc sống), đều kể lại những chuyện tương tự của những người đã ở tình trạng chết lâm sàng hay hôn mê quá giai đoạn (coma dépassé). Những cuốn sách này dành cho đại chúng, còn giới khoa học có thể theo dõi những công trình về kinh nghiệm cận tử qua các tạp chí y khoa.

Giáo sư Pim Van Lommel chuyên khoa tim mạch người Hoà Lan trình bày trong tạp chí y học nổi tiếng nhất thế giới Lancet năm 2001, một công trình sưu tập những lời chứng của 344 bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng vì tai biến tim mạch: 18% những người này khẳng định có kinh nghiệm “chết đi sống lại”.

Gần đây nhất, trong số in ngày 25-02-10, tạp chí y học Mỹ Mediscape Medical News nói về những kinh nghiệm cận tử mà bác sĩ Jeffrey Long, tác giả một cuốn sách nói trên, đã sưu tập. Trong vòng 10 năm bác sĩ Long đã nghiên cứu cả thảy hơn 1300 trường hợp trong viện DNE Research Foundation (Tổ chức Nghiên cứu Cận tử), một viện nghiên cứu cận tử được coi là lớn nhất thế giới do ông thành lập. So với những trường hợp cận tử được các trung tâm nghiên cứu khác trên thế giới thâu thập thì những kinh nghiệm cận tử này đều có những điểm giống nhau:

1. Cảm tưởng biết mình đã chết nhưng thấy ý thức mình trở lên trong sáng (crystal clear consciouness).

2. Cảm giác thoát khỏi thân xác (décorporation), bay bồng bềnh (lévitation), nhìn thấy thân thể mình từ cao xuống. Một người kể lại “Tôi thấy tôi từ đằng sau lưng… Tôi thấy gáy cô y tá đang tìm cách hồi sinh tôi bằng phương pháp miệng-miệng (bouche à bouche).

3. Cảm tưởng như mình ở trong một thân thể phi vật chất, di chuyển qua một đường hầm hướng dẫn bởi một luồng ánh sáng (tunnel).

4. Cảm tưởng tới một nơi đầy ánh sáng. Một thứ ánh sáng chan hoà đầy an lành, đầy khoan khoái không bao giờ thấy khi còn sống. Gặp lại những người thân đã chết, có người trước khi mình ra đời, có người mình đã quên hay khi còn quá trẻ để có thể nhớ lại. Thấy những “hình dạng” chan hoà ánh sáng” biểu lộ một Tình thương vô biên.

5. Chỉ trong khoảng khắc hồi tưởng lại cả cuộc đời khiến có cảm tưởng thời gian-không gian bị xóa nhoà.

6. Hối tiếc khi phải trở lại cuộc sống.

Những kinh nghiệm này đều giống nhau dù những người kể lại ở những vùng khác nhau trên thế giới có văn hoá khác nhau. Ngay cả những con nít còn nhỏ tuổi chưa có quan niệm gì về sự chết, về đạo giáo hay chưa bao giờ được nghe kể về NDE, cũng kể lại y hệt.

Có những nhà khoa học cho là những trạng thái ý thức (états de conscience) kể trên đủ để chứng tỏ tinh thần có một cuộc sống độc lập với thể xác (bộ óc) và cho biết có một cõi khác (l’au-delà) hoàn toàn khác lạ với thế giới của cuộc sống hiện tại.

Nhưng có những nhà khoa học hoài nghi đưa ra những giải thích khác:

– Những hiện tượng NDE đó chỉ là những biểu hiện thuần sinh lý do thác loạn tế bào thần kinh (désordre neuronal) tạo ra.

– Có thể là do tác động của những thuốc gây mê như kétamine hay ibogaïne.

– Có nhiều trường hợp  endorphines được tiết ra khi óc bị thiếu oxygène, tạo ra những cảm giác khoan khoái khi tỉnh người bệnh hồi tưởng lại.

– Thiếu oxygène cũng có thể kích thích những vùng (zones) tạo hình và ký ức của bộ não, khiến làm nhớ lại những kỷ niệm xưa.

– Ngay khi ở tình trạng chết lâm sàng, những mẩu ý thức (fragments de conscience) có thể vẫn còn sót lại.

– Vả lại khi óc không còn oxygène, không phải mọi vùng trong óc đều ngưng hoạt động cùng một lúc: Có thể có những vùng trong óc chưa bị tê liệt khi bị kích thích đã tạo ra những cảm giác NDE và người bệnh khi tỉnh lại đã tự nối kết những cảm giác đó với nhau thành có đầu có đuôi.

– Những thử nghiệm kích thích thùy não thái dương (lobe temporal) làm trên những người bị động kinh (épileptique) ở Đại học Bách khoa Lausanne và Viện Karoslinka ở Stockholm cho thấy là có thể tạo ra cảm giác thoát xác.

– Giáo sư Kevin Nelson khoa Thần kinh Đại học Kentucky Mỹ giảng giải là cảm tưởng bay trong một đường hầm đầy ánh sáng là do thiếu máu võng mạc (mắt).

Mario Beauregard, nghiên cứu sinh về Não học ở Đại học Montréal, tác giả cuốn Từ óc tới Trời (Du cerveau à dieu) phản biện lại và cho những giải thích đó không đủ thoả mãn:

– Khi tim ngưng đập, điện não đồ không còn ghi nhận được một dấu hiệu nào chứng tỏ bộ óc còn hoạt động mà những quá trình tâm thần (processus mentaux) như tri giác, ý thức, ký ức, vẫn diễn tiến để khi người bệnh sống lại có thể kể một cách rất rành mạch có đầu có đuôi những kinh nghiệm trong thời gian óc bị coi là chết, chứ không phải chỉ nhắc lại những ấn tượng rời rạc chớp nhoáng (instatanées) như trong các thử nghiệm kích thích óc kể trên, thì phải đưa ra giả thử là có một cái gọi là tinh thần hoàn toàn độc lập với bộ óc.

– Sự thiếu oxygène cũng không đủ để giải thích những hiện tượng EMI, vì nếu như vậy đa số những bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng thiếu oxygène đều phải trải qua hiện tượng EMI.

Hiện giờ Mario Beauregard đang cùng những nhà khoa học khác đưa ra chương trình thực nghiệm Aware: Một số bệnh viện Anh, Mỹ, Canada, Pháp… đồng ý thực hiện chương trình này. Trong phòng mổ sẽ giấu những đồ vật hay những biểu tượng ở một chỗ mà từ bàn mổ không thể trông thấy được. Nếu bệnh nhân hoàn sinh sau khi chết lâm sàng hay chết não mà nhận ra được nó, thì đó là chứng cớ tinh thần người bệnh đã thoát khỏi thân thể mình.

Nếu những thực nghiệm này đem lại kết quả, sẽ có nhiều người coi đó là chứng cớ hiển nhiên nhất, là có một sự sống khác độc lập với thể xác. Nhưng cũng có người cho là không đủ và cho đó chỉ là những tình cờ hú hoạ.

Chỉ có những người đã tự mình trải qua cuộc “chết đi sống lại” như ông Philippe Labro, một nhà văn nhà báo Pháp được nhiều người biết tiếng, kể lại trường hợp của ông khi bị hôn mê quá giai đoạn trong cuốn La Traversée: “Tôi thấy mình ra khỏi thân thể, tôi có cảm tưởng nhìn thấy tôi trên giường bệnh và quanh tôi là cả một ê kíp bác sĩ…”, mới nhìn sự chết với con mắt khác, không còn sợ hãi nữa.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

70 Comments (bài “Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?”)

  1. Trung Thứ viết:

    Một lý do chính khiến khoa học ngày càng phát triển, có thể đào sâu trong từng khu biệt của nó là vì trước thực tế khách quan nó không bao giờ dám khẳng định một hiện tượng nào đó là không thể xảy ra mà luôn dám đón nhận mọi khả năng và vắt trí ra để tìm câu giải thích. Chẳng hạn, cách nay 150 năm, ở Việt Nam, có người kể rằng ở phương Tây người ta đốt đèn, treo lộn ngược mà không bị đổ dầu. Nếu một người có tinh thần khoa học thì chắc không dám khẳng hiện tượng đó hay phủ định nó là vô lý nếu chưa được kiểm chứng. Và tất nhiên, ông ta càng không thể nhân danh khoa học, nhân danh trí tuệ của mình để xử người ta tội: cậy đi xa trở về khoác lác. Trong hiện tượng cận tử, tin hay không là chuyện của mỗi người nhưng nhân danh khoa học để phủ định nó là một sự ăn gian. Nếu ngon thì mời quý vị tới trạng thái đó kiểm chứng.

    Trả lời cho câu hỏi: “Ngoài phần thể xác vật chất thuần túy, con người còn có gì khác (tạm gọi tên là linh hồn) nữa không?” rõ ràng phụ thuộc nơi niềm tin mỗi người nhưng chắc chắn không thuộc thẩm quyền khoa học.

    Tuy nhiên, trong cuộc sống thường ngày, người ta có thái độ ứng xử như là con người không chỉ có duy nhất phần thể xác vật chất mà thôi. Chẳng hạn, một kẻ ra tay giết người và tìm cách lẩn trốn luật pháp. 30 năm sau, lương tâm cắn rứt, anh ta đã ra đầu thú. Anh bị gia đình nạn nhân oán trách, pháp luật kết tội, bỏ tù anh ta.

    Một chiếc xe đã thay khung, thay máy, thay nội ngoại thất, thay … nhãn hiệu thì rõ ràng chẳng ai gọi nó là chiếc xe trước đây nữa. Tương tự, nếu con người chỉ thuần túy có phần vật chất mà thôi thì 30 năm sau, khối vật chất giết người cũng đã bị thay đổi mấy lần bằng những khối vật chất hoàn toàn khác. Như thế, anh ta đã là con người hoàn toàn khác. “Con người mới” này rõ ràng chẳng tội gì phải cắn rứt lương tâm, tòa án không có quyền kết án và gia đình nạn nhân cũng không thể oán trách người “vô can” này.

    Trong thực tế người ta lại có thái độ ứng xử khác. Một người lưu lạc 30 năm, trở về quê nhà, thấy cụ già trước ngõ vội ôm chầm lấy, vỡ òa tiếng khóc, (dường như) anh biết rằng đây vẫn là người ngày nào cho mình bú mớm là người hằng đêm đêm anh vẫn thao thức:
    “Xót người tựa cửa hôm mai
    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? ”

    Ngược lại, cụ già kia cũng tin rằng ông này là đứa con mình sinh ra, chính là đứa trẻ lên mười thuở nào.

  2. Anh Dũng viết:

    Bạn Trang Nhung !

    Bạn liên tục nhầm lẫn giữa VẬT CHẤT ( matter ) và KHỐI LƯỢNG ( mass ).

    Ở comment trước đây, bạn nói về sự chuyển hóa giữa VẬT CHẤT và năng lượng. Còn các dẫn chứng bạn đưa ra sau này thì toàn nói về chuyển hóa giữa KHỐI LƯỢNG và năng lượng.

    Bạn bảo: “nhiều chỗ trên trang vẫn nói về sự chuyển hóa giữa VẬT CHẤT và năng lượng”, nhưng tôi chỉ toàn thấy nói ( giả thuyết ) về sự chuyển hóa giữa KHỐI LƯỢNG và năng lượng.

    Khi bạn đưa ra dẫn chứng là mục 2.1 trong trang của SEP, thì sự nhầm lẫn của bạn đã rõ ràng.

    Bây giờ bạn đưa ra cách giải thích mới: “khi nói vật chất có thể chuyển hóa thành năng lượng, theo cách hiểu của tôi, là khi vật chất ở một trong các dạng thức tồn tại của nó (mà ta thừa nhận là vật chất) chuyển đổi, trong những điều kiện nào đó, thành năng lượng”.

    1. Theo “Bàn tay ánh sáng”: “vật chất là hoàn toàn có thể biến đổi, và ở mức hạ nguyên tử, vật chất không hiện hữu chắc chắn ở những vị trí rõ ràng, mà thường cho thấy các “khuynh hướng” hiện hữu. Toàn bộ hạt có thể biến hóa thành các dạng hạt khác. Chúng có thể được tạo nên từ năng lượng và có thể tan ra thành năng lượng.”

    Theo “Nói chuyện với thiên đường” – trang 49: “Năng lượng là tất cả mọi thứ. Để định nghĩa một cách đơn giản thì năng lượng được tạo ra bởi các phân tử đang quay hay xung động tại nhiều tần số với tốc độ khác nhau”.

    Cả hai cái dẫn chứng này đều do bạn Trang Nhung đưa ra, nhưng cái khái niệm “năng lượng” trong bài thứ hai là một khái niệm hoàn toàn mới so với khái niệm “năng lượng” trong bài thứ nhất ( của các nhà Vật lý học ).

    Tức là bạn Trang Nhung hoặc nhầm lẫn, hoặc tự mâu thuẫn, hoặc chỉ liên tục đưa ra các giả thuyết khác nhau mà không có quan điểm nhất quán.

    2. Bạn Trang Nhung vẫn tiếp tục giới thiệu thêm các dẫn chứng khác:

    “http://imagine.gsfc.nasa.gov/docs/ask_astro/answers/970724a.html
    “Also, Einstein’s equation, E=m.c^2, tells you that it takes a huge amount of energy to create matter in this way. The big accelerator at Fermilab can be a significant drain on the electricity grid in and around the city of Chicago, and it has produced very little matter.”

    Einstein nói rằng một VẬT ( body )( đương nhiên cũng là VẬT CHẤT ) có KHỐI LƯỢNG là m thì nó có NĂNG LƯỢNG tương ứng là E=m.c^2.

    Tức là, KHỐI LƯỢNG và NĂNG LƯỢNG đều là thuộc tính của cùng một VẬT.

    Còn cái ý tưởng từ NĂNG LƯỢNG tạo ra VẬT CHẤT bằng phương trình E=m.c^2 thì lại rơi vào nhầm lẫn giữa KHỐI LƯỢNG và VẬT CHẤT hệt như bạn Trang Nhung lúc đầu.

    Vậy nên, dù có cố gắng đến mấy thì cũng phải thừa nhận: “Until now, no one had directly created matter from light.” ( Cho tới bây giờ, chưa có ai tạo ra được VẬT CHẤT từ ÁNH SÁNG ).

    Như vậy, bạn Trang Nhung đã giới thiệu đủ các loại tài liệu tham khảo. Nhưng lúc thì bạn nhầm lẫn khái niệm, lúc thì tài liệu của bạn mâu thuẫn nhau, lúc thì tài liệu lặp lại sự sai lầm mà bạn vừa thừa nhận xong. Và tài liệu cuối cùng thì lại thừa nhận rằng tất cả chỉ đơn thuần là TƯỞNG TƯỢNG.

  3. Gửi bạn Anh Dũng,

    Từ điển bách khoa wikipedia vốn có độ tin cậy không cao. Đối với các mục từ có tính phổ quát, wikipedia tiếng Việt thường được dịch/ tham khảo từ wikipedia tiếng Anh. Thường thì khi dịch từ nội dung tiếng Anh, nội dung tiếng Việt sơ lược hơn và có thể bị diễn dịch sai hoặc thiếu.

    Theo tôi, đối với mục từ “vật chất”, những người thực hiện nội dung tiếng Việt cho mục từ này đã tham khảo nội dung tiếng Anh tại http://en.wikipedia.org/wiki/Mass%E2%80%93energy_equivalence (nói về phương trình E=mc2) nhưng tham khảo sơ lược và có phần chủ quan. Chẳng hạn, khi xem nội dung tiếng Anh trên trang này sẽ thấy một đoạn như sau:

    “The equation E = mc2 indicates that energy always exhibits mass in whatever form the energy takes.[3] It does not imply that mass may be “converted” to energy, for modern theory holds that neither mass nor energy may be destroyed, but only moved from one location to another.”

    Lưu ý phần “for modern theory holds that…” chỉ ra tham chiếu hay lý do tại sao không nói rằng “khối lượng có thể chuyển hóa thành năng lượng”. Đó là theo “lý thuyết hiện đại” (modern theory), và đặt ra cho người đọc câu hỏi về lý thuyết hiện đại cụ thể là thế nào (phần về sau, “conservation of mass and energy” có giải thích chi tiết), còn lý thuyết khác thì sao, v.v… Thêm nữa, nhiều chỗ trên trang vẫn nói về sự chuyển hóa giữa vật chất và năng lượng (tức là bỏ qua lý thuyết hiện đại này, dù có thể chỉ bỏ qua một cách hình thức). Đấy là chưa kể rằng, nói chung, nội dung tiếng Anh trên trang này chưa chắc đã hoàn toàn đúng.

    Ở đây tôi dẫn ra một trang nói về các diễn giải khác nhau cho công thức E=mc2, trong đó chỉ ra rằng không có diễn giải đồng nhất ngay cả với những người làm khoa học: Có ý kiến diễn giải rằng “khối lượng và năng lượng chuyển hóa lẫn nhau”, có ý kiến không cho là như vậy:

    Những ý kiến đó cũng trái ngược nhau ở điểm: có ý kiến coi khối lượng và năng lượng là cùng một thuộc tính (same property), có ý kiến coi đó là hai thuộc tính khác nhau (different properties) của các hệ vật lý (physical systems). Theo đó, không có lời khẳng định dứt khoát rằng khối lượng và năng lượng là hai thuộc tính của vật chất như trang tiếng Việt mà bạn Anh Dũng trích dẫn.

    http://plato.stanford.edu/entries/equivME

    Tham khảo phần 2:

    # 2. Philosophical Interpretations of E = mc2

    Trong phần 2.1, bạn có thể thấy giải thích tại sao không nói “vật chất có thể chuyển hóa thành năng lượng”, và nếu có nói đến chuyển hóa, thì phải là giữa khối lượng và năng lượng (về điều này thì tôi đang confused). Tuy nhiên, bỏ qua việc nhầm lẫn nếu có về ý niệm hay cách diễn đạt, thì khi nói vật chất có thể chuyển hóa thành năng lượng, theo cách hiểu của tôi, là khi vật chất ở một trong các dạng thức tồn tại của nó (mà ta thừa nhận là vật chất) chuyển đổi, trong những điều kiện nào đó, thành năng lượng.

    Và theo như trích dẫn trong comment trước, có một đoạn trích trong cuốn “Bàn tay ánh sáng” nói về điều này như sau: “Qua những thí nghiệm trong vài thập niên nầy, các nhà vật lý thấy rằng vật chất là hoàn toàn có thể biến đổi, và ở mức hạ nguyên tử, vật chất không hiện hữu chắc chắn ở những vị trí rõ ràng, mà thường cho thấy các “khuynh hướng” hiện hữu. Toàn bộ hạt có thể biến hóa thành các dạng hạt khác. Chúng có thể được tạo nên từ năng năng và có thể tan ra thành năng lượng.”

    Sau đây là 2 trang tham khảo khác nói về sự chuyển đổi này:

    1) Why is it impossible, at this point in time, to convert energy into matter?
    http://imagine.gsfc.nasa.gov/docs/ask_astro/answers/970724a.html

    Trích:

    “Also, Einstein’s equation, Energy = Mass x the square of the velocity of light, tells you that it takes a huge amount of energy to create matter in this way. The big accelerator at Fermilab can be a significant drain on the electricity grid in and around the city of Chicago, and it has produced very little matter.”

    2) Let There Be Matter
    http://discovermagazine.com/1997/dec/lettherebematter1297

    Trích:

    “But like any equation, E=mc2 works in both directions, at least theoretically. That is, it should be possible to convert energy into matter. Now a team of physicists has accomplished just that: they have transmuted light into matter. We’re able to turn optical photons into matter, says Princeton physicist Kirk McDonald, coleader of the team. That is quite a technological leap.”

    “Until now, no one had directly created matter from light. Back in 1934 physicists realized that it would be possible to do this in principle, says McDonald. But it just wasn’t technically feasible.”

  4. Anh Dũng viết:

    Ông Tri Ngộ !

    1. “họ chỉ mượn tạm “tôn giáo” để giúp họ xoa dịu nỗi đau của nhân dân.”

    Tôn giáo không phải do nhà cầm quyền “mượn” ở đâu đó rồi mang về, mà bản thân tôn giáo tự nhiên hình thành trong đời sống tinh thần của con người. Nhà cầm quyền không “truyền giáo” hay “truyền đạo” gì cả.

    2. “Ngày nào nước giàu dân mạnh (kinh tế vật chất phồn thịnh) thì ngày ấy họ sẽ không cần tôn giáo nữa.”

    Cái cần hay không cần tôn giáo là ở từng người dân chứ đâu phải ở nhà cầm quyền.

    3. “Nếu ông AD có thì giờ, ông có thể nghiên cứu thêm về 8 cái khổ lớn trong Đạo Phật. Càng nghiên cứu về con người và những khổ đau của con người qua lăng kính Đạo Phật, tôi càng thấy Karl Marx chỉ là một con ếch ngồi đáy giếng.”

    Qua “lăng kính Đạo Phật” thì chuyện ông phán này nọ về các tư tưởng khác là điều VÔ NGHĨA. Đạo Phật cũng nhấn mạnh tính khiêm tốn, nên việc ông phán Karl Marx là “ếch ngồi đáy giếng” đã làm cho việc “nghiên cứu Đạo Phật” của ông trở thành công cốc.

    4. Lúc đầu ông mập mờ khi cho rằng nhà cầm quyền “không thành thực lắm”, về sau ông lại khẳng định “chắc chắn là họ đã không nói sự thật.”.

    “Nếu cái nhìn của Cộng Sản sai, ai sẽ là người đưa họ ra toà một trăm năm nữa đây ? Cả một tương lai dân tộc đi vào thùng rác nếu họ lầm đường.”

    Ông lại lưỡng lự với hai từ “nếu” ngay sau khi ông hùng hổ phán người khác là “ếch ngồi đáy giếng”.

    Đạo Phật cũng nhấn mạnh tính trung thực, cho nên hai lần ăn nói tiền hậu bất nhất đó đã vạch trần ra rằng cái “nghiên cứu Đạo Phật” của ông chỉ là công cốc.

    5. “Nghe theo ông một cách mù quáng như thế này thì nguy hiểm quá ông Anh Dũng ạ.”

    Ai đã “nghe theo” tôi một cách “mù quáng”, và “thế này” là thế nào vậy ông Tri Ngộ ?

  5. Gửi bạn Anh Dũng,

    Trong comment này tôi chỉ đưa ra trích dẫn. Phản biện chi tiết sẽ ở comment sau (việc để toàn bộ trích dẫn trong một comment riêng là để người đọc dễ nắm bắt).

    Đoạn trích sau đây dẫn từ cuốn sách nổi tiếng của nhà bác học – nhà vật lý trị liệu Barbara Ann Brennan: Bàn tay ánh sáng. Bạn có thể tìm thấy các ý mà tôi muốn phản hồi bạn qua đoạn trích này:
    ——————–

    Trích “Bàn tay ánh sáng” (trang 24, 25)

    Trong những năm 1920, vật lý học bước vào một thực tại kỳ lạ và bất ngờ của thế giới hạ nguyên tử. Mỗi lần các nhà vật lý đặt câu hỏi với tự nhiên trong một thí nghiệm thì tự nhiên đáp lại bằng một nghịch lý. Họ càng cố sức làm cho tình hình sáng sủa thì các nghịch lý càng rõ nét hơn. Cuối cùng, các nhà vật lý thấy rõ rằng nghịch lý đó là phần bản chất bên trong của thế giới hạ nguyên tử trên đó tồn tại toàn bộ thực tại thể chất của chúng ta.

    Ví dụ, ai đó có thể đưa ra một thí nghiệm chứng minh ánh sáng là hạt. Một thay đổi nhỏ trong thí nghiệm này sẽ chứng minh ánh sáng là sóng. Cho nên, để mô tả hiện tượng ánh sáng, cần phải sử dụng cả khái niệm sóng lẫn khái niệm hạt. Cứ thế chúng ta đi vào một vũ trụ được xây dựng trên khaí niệm “cả hai/ và” nhị nguyên được dùng để thúc đẩy ta tiến tới sự hòa hợp. Các nhà vật lý gọi nó là tính bổ sung cho nhau. Nghĩa là, để mô tả một hiện tượng (nếu ta tiếp tục tư duy trong các giới hạn hạt và sóng như vậy) thì phải sử dụng cả hai loại mô tả. Những loại nầy hổ sung cho nhau hơn là đối nghịch nhau theo khái niệm cũ “mỗi/hay “.

    Chẳng hạn, Max Planck phát hiện ra ràng năng lượng của bức xạ nhiệt (tựa như lò sưởi trong nhà bạn) không tỏa ra liên tục mà hiện ra trong hình thái những “gói nhỏ năng lượng” rời rạc gọi lượng tử. Einstein đã đưa ra định đề rằng mọi hình thái bức xạ điện từ có thể hiện ra không những dưới dạng sóng mà còn dưới dạng lượng tử. Các lượng tử ánh sáng, hay các gói nhỏ năng lượng, đã được thừa nhận là những hạt có thiện ý, (giai đoạn nầy của ván bài thì hạt, xác định sít sao nhất của “đồ vật”, lại là gói nhỏ năng lượng!).

    Vì ta đi sâu hơn vào vật chất nên tự nhiên không chỉ cho ta thấy bất cứ “khối kiến trúc cơ bản nào, như vật lý học Newton đã gợi ý. Các nhà vật lý đã ngừng việc tìm kiếm những khối kiến trúc cơ bản của vật chất khi họ tìm ra nhiều các hạt cơ bản đến nỗi phải khó khăn lắm mới gọi được chúng là cơ bản. Qua những thí nghiệm trong vài thập niên nầy, các nhà vật lý thấy rằng vật chất là hoàn toàn có thể biến đổi, và ở mức hạ nguyên tử. Vật chất không hiện hữu chắc chắn ở những vị trí rõ ràng, mà thường cho thấy các “khuynh hướng” hiện hữu. Toàn bộ hạt có thể biến hóa thành các dạng hạt khác. Chúng có thể được tạo nên từ năng năng và có thể tan ra thành năng lượng. Điều xảy ra tại đâu và lúc nào ta không thể biết chính xác. nhưng ta biết chắc là liên tục xảy ra.

  6. Tri Ngộ viết:

    @ Anh Dũng
    Nếu theo y như lý luận của ông thì nhà cầm quyền VN không thành thực lắm. Một mặt họ tuyên bố là VN có tư do tôn giáo. Một mặt, dựa theo lời phản hồi của ông, thì họ chỉ mượn tạm “tôn giáo” để giúp họ xoa dịu nỗi đau của nhân dân. Ngày nào nước giàu dân mạnh (kinh tế vật chất phồn thịnh) thì ngày ấy họ sẽ không cần tôn giáo nữa. Cách họ vắt chanh bỏ vỏ như thế nào thì chưa ai được biết, một điều chắc chắn là họ đã không nói sự thật. Một nhà nước như thế thì làm sao họ lấy được chữ tín của dân?

    Nếu ông AD có thì giờ, ông có thể nghiên cứu thêm về 8 cái khổ lớn trong Đạo Phật. Càng nghiên cứu về con người và những khổ đau của con người qua lăng kính Đạo Phật, tôi càng thấy Karl Marx chỉ là một con ếch ngồi đáy giếng. Nếu cái nhìn của Cộng Sản sai, ai sẽ là người đưa họ ra toà một trăm năm nữa đây ? Cả một tương lai dân tộc đi vào thùng rác nếu họ lầm đường. Nghe theo ông một cách mù quáng như thế này thì nguy hiểm quá ông Anh Dũng ạ.

  7. Gửi bạn Anh Dũng,

    Các câu trả lời của bạn dẫn từ trang từ điển wikipedia là một trang có độ tin cậy không cao, cộng thêm với kiến thức vật lý có phần hạn chế của bạn (khi bạn nói về năng lượng).

    Tôi sẽ phản hồi bạn với trích dẫn trong một cuốn sách khác, đáng tin cậy hơn trang wikipedia nhiều.

    Lúc này vì đang bận nên tôi sẽ đưa ra trích dẫn đó trong comment sau.

  8. Anh Dũng viết:

    Ông Tri Ngộ !

    1. Cái “cô hồn sống” của ông là mâu thuẫn với các luận điểm duy vật của tôi. Và nó ngay lập tức vạch trần cái mâu thuẫn trong luận điệu của ông rằng ông “đồng ý với AD”.

    2. Việc lập đàn giải oan này nọ, hoặc thậm chí cả cái tư tưởng “con Rồng cháu Tiên” đều chỉ là vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.

    Theo K.Marx: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim”.

    Theo K.Marx, nền tảng của tôn giáo là đời sống vật chất ( áp bức, thế giới không có trái tim ), cho nên biện pháp chủ đạo để xóa bỏ tôn giáo không phải là đập phá chùa chiền, đốt kinh sách mà là xóa bỏ cái nền tảng vật chất của tôn giáo. Tức là làm cho đời sống không còn áp bức hay bóc lột, làm cho thế giới “có trái tim” ( không còn cảnh chém giết, bom đạn, không còn những người ăn xin hoặc chết vì đói khát, không còn bất công,…).

    Vật chất hay đời sống mới là cái quyết định ý thức cơ mà.

    Ngay cả việc “tranh luận” để vạch trần cái phi lý của tư tưởng tôn giáo ( điều mà bản thân K.Marx hay làm ) thì theo K.Marx cũng không phải biện pháp chủ đạo. Điều cốt yếu vẫn là thông qua nhà nước để xây dựng một xã hội phồn vinh về đời sống vật chất cho tất cả mọi người thì tự nhiên vai trò của tôn giáo sẽ mất dần đi.

    Vẫn theo K.Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Nhưng đây là thứ “thuốc phiện” để “giảm đau” tạm thời hợp lý ( giống như mooc-phin trong y học ).

    Chủ nghĩa Cộng Sản thừa nhận “tự do tôn giáo” là tự nhiên và hợp lý trong mỗi con người ( dùng “thuốc phiện tôn giáo” để giảm đau ), nhưng mục đích cuối cuối của nó vẫn là thực hiện “hạnh phúc thực sự” ( xóa bỏ áp bức bất công – cái gây ra cơn đau ) để làm mất đi nhu cầu dùng thuốc phiện tôn giáo – tức “hạnh phúc giả tạo” của con người.

    Đó chính là lý do vì sao một “nhà nước Cộng Sản” như nhà nước Việt Nam lại vẫn cho phép tự do tôn giáo và các lãnh đạo vẫn đi “thắp hương” cùng nhân dân. Vì họ theo Chủ nghĩa Cộng Sản nên họ xác định: làm giàu cho nhân dân trên mặt trận kinh tế mới là biện pháp thực sự để xóa bỏ tôn giáo.

    3. Những luận điệu của ông Tri Ngộ về “cô hồn sống” chỉ là sự lặp lại những lời kết tội cũ kỹ mà bản thân tôi đã phản bác trong những comment quanh vụ Nhất Hạnh, Bát Nhã, Làng Mai.

  9. Anh Dũng viết:

    Bạn Trang Nhung !

    1. “Năng lượng cũng được tạo ra bởi các phân tử xung động đấy thôi. Bạn đã nghe đến cụm từ “hạt năng lượng” rồi chứ? Vậy bạn có gọi năng lượng là vật chất hay không? Bạn gọi nó là vật chất cũng được, nếu chiếu theo định nghĩa “vật chất” của riêng bạn. Chúng ta biết rằng vật chất và năng lượng có thể chuyển hóa lẫn nhau theo công thức E=mc^2.”

    http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%ADt_ch%E1%BA%A5t
    TRÍCH DẪN: “…Các thực thể VẬT CHẤT có thể ở dạng TRƯỜNG (cấu tạo bởi các hạt trường, thường không có khối lượng nghỉ, nhưng vẫn có khối lượng toàn phần), hoặc dạng CHẤT (cấu tạo bởi các hạt chất, thường có khối lượng nghỉ – m ) và chúng đều chiếm không gian. Với định nghĩa trên, các thực thể vật chất được hiểu khá rộng rãi, như một vật vĩ mô mà cũng có thể như bức xạ hoặc những hạt cơ bản cụ thể và ngay cả sự tác động qua lại của chúng. Đôi khi người ta nói đến thuật ngữ phản vật chất trong vật lý. Đó thực ra vẫn là những dạng thức vật chất theo định nghĩa trên, nhưng là một dạng vật chất đặc biệt ít gặp trong tự nhiên. Mọi thực thể vật chất đều tương tác lẫn nhau và những tương tác này cũng lại thông qua những dạng vật chất (cụ thể là những hạt tương tác trong các trường lực, ví dụ hạt photon trong trường điện từ).”

    “Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên.

    Theo lý thuyết của Albert Einstein mọi vật có khối lượng đều có năng lượng (công thức E=mc², xem thêm trang lý thuyết tương đối), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có năng lượng.

    Công thức ΔE=Δmc² không nói rằng khối lượng và năng lượng chuyển hóa lẫn nhau. Năng lượng và khối lượng đều là những thuộc tính của các thực thể vật chất trong tự nhiên. Không có năng lượng chuyển hóa thành khối lượng hay ngược lại. Công thức Einstein chỉ cho thấy rằng nếu một vật có khối lượng là m thì nó có năng lượng tương ứng là E=mc².”

    Như vậy, cái “năng lượng” chỉ là “thuộc tính” của VẬT CHẤT. Tức là, nếu không có vật chất thì không có năng lượng, hay năng lượng không thể tồn tại ở đâu khác “bên ngoài vật chất, độc lập với vật chất” hoặc “trước khi vật chất xuất hiện”.

    2. Bạn vẫn đưa ra dẫn chứng từ những cuốn sách: “năng lượng được tạo ra bởi các phân tử đang quay hay xung động tại nhiều tần số với tốc độ khác nhau.”

    Nhưng rõ ràng cái “phân tử” ở đây chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Bởi vì chẳng có một thứ gì khác liên quan đến nó để người ta có thể xác minh nó ( khối lượng, tốc độ di chuyển, cấu trúc,…) như các “phân tử vật chất” trong vật lý học và hóa học.

    3. “xin cho biết khái niệm linh hồn mà bạn hiểu là như thế nào vậy?”

    Tôi đang theo cái khái niệm “linh hồn” trong bài viết của tác giả Phong Uyên.

    4. “Linh hồn là “người” ở một thế giới khác. Bản thân tôi tin rằng có sự tồn tại của thế giới bên kia. Tất nhiên niềm tin này là có cơ sở. Những người không tin, như bạn Anh Dũng, không có khả năng chứng minh rằng thế giới đó không tồn tại.”

    Không ai có thể “chứng minh rằng thế giới đó không tồn tại” cũng như thuyết phục bạn Trang Nhung phải từ bỏ “niềm tin” của mình. Cái “thế giới bên kia” là sản phẩm từ trí tưởng tượng, là ý thức, là niềm tin trong “não bộ” ( vật chất ) của bạn Trang Nhung thì đó là tự do tư tưởng của bạn Trang Nhung.

    Bạn tin, bạn tưởng tượng ra nó ở trong đầu bạn thì tôi hoàn toàn tôn trọng niềm tin đó. Và tôi chỉ làm rõ rằng cái “thế giới bên kia” là sản phẩm thuần túy từ trí tưởng tượng của con người đó thôi.

    Không có bạn Trang Nhung ( vật chất ) tồn tại trước thì làm gì có cái “thế giới bên kia” trong đầu bạn Trang Nhung. Thế giới bên kia – với tư cách là sản phẩm của trí tưởng tượng – là một “thuộc tính” của “vật chất” có tên Trang Nhung.

  10. Tri Ngộ viết:

    @ Anh Dũng
    Tôi phải đồng ý với ông Anh Dũng (AD) kỳ này. Vấn đề nhức nhối của Việt Nam hôm nay không phải là cô hồn chết mà là cô hồn sống nếu lập luận của ông AD có lý (= không có linh hồn). Lập các đàn tràng giải oan cho các oan hồn vẫn còn vương vất chưa được siêu thoát như thế chỉ là vô ích vì làm gì có linh hồn mà giải oan (theo luận điệu của ông AD cũng như của những nhà tin theo chủ nghĩa vô thần).
    Riêng mấy cô hồn sống thì đầy dẫy ở VN. Công An dùng họ rất thường. Chỉ cần cho họ ít tiền là có thể sai đâu đánh đó. Các cô hồn này xông vào Tu Viện Bát Nhã, Chùa Phước Huệ ở Lâm Đồng và làm những chuyện kém luân thường đạo lý. Các cô hồn sống này đã áp bức giáo dân Tam Toà, rồi gần đây lên núi phá tan cây thánh giá ở Đồng Chiêm.

  11. Gửi bạn Anh Dũng,

    1. Anh Dũng viết: Đã công nhận rằng “cơ thể ête” được cấu thành từ các “phân tử” dao động có tần số thì tức là công nhận rằng cái “cơ thể ête” đó cũng là VẬT CHẤT.

    Năng lượng cũng được tạo ra bởi các phân tử xung động đấy thôi. Bạn đã nghe đến cụm từ “hạt năng lượng” rồi chứ? Vậy bạn có gọi năng lượng là vật chất hay không? Bạn gọi nó là vật chất cũng được, nếu chiếu theo định nghĩa “vật chất” của riêng bạn. Chúng ta biết rằng vật chất và năng lượng có thể chuyển hóa lẫn nhau theo công thức E=mc^2.

    Năng lượng là gì? Năng lượng là tất cả mọi thứ. Để định nghĩa một cách đơn giản thì năng lượng được tạo ra bởi các phân tử đang quay hay xung động tại nhiều tần số với tốc độ khác nhau. Trong thế giới vật chất, các phân tử quay với tốc độ rất chậm trên quỹ đạo. Dù vậy, tất cả mọi thứ trên thế giới vật chất xung động mở một tốc độ bất biến. Đó là lý do tại sao mọi thứ trên cõi trần trông có vẻ vững chắc. Tốc độ càng chậm thì vật đó càng đặc hoặc rắn chắn, ví dụ như chiếc ghế bạn đang ngồi lên, cuốn sách bạn đang đọc, ngôi nhà bạn đang sống và tất nhiên là cả cơ thể của bạn. Vượt ra ngoài thế giới ba chièu của chúng ta, các phân tử dạo động ở tần số tốc độ nhanh hơn hoặc cao hơn rất nhiều. Do đó, trong môi trường vi tế như vậy, hay còn gọi là chiều không gian Ête, như thế giới của linh hồn thì mọi thứ tự do hơn và ít đậm đặc hơn. (trích: Nói chuyện với thiên đường – trang 49)

    2. Anh Dũng viết: Linh hồn mà lại còn có “ý thức riêng của nó” ( cảm thấy, trợ giúp ) thì việc đưa ra khái niệm “linh hồn” là hoàn toàn vô nghĩa.

    Trước hết, xin cho biết khái niệm linh hồn mà bạn hiểu là như thế nào vậy?

    3. Anh Dũng viết: Điều này là vô lý nếu “linh hồn” không được cấu tạo bởi “vật chất”. Vì nói đến “tần số” là nói đến độ nhanh hay chậm của sự thay đổi vị trí trong không gian của một đối tượng vật chất.

    Xin xem câu trả lời 1.

    4. Anh Dũng viết: Linh hồn mà cũng có “cơ thể”, có “cảm giác” thì chẳng qua linh hồn cũng là “người” đó thôi.

    Linh hồn là “người” ở một thế giới khác. Bản thân tôi tin rằng có sự tồn tại của thế giới bên kia. Tất nhiên niềm tin này là có cơ sở. Những người không tin, như bạn Anh Dũng, không có khả năng chứng minh rằng thế giới đó không tồn tại.

  12. Trung Thứ viết:

    Nếu dùng hệ quy chiếu của thế giới vật chất áp đặt vào thế giới tâm linh (nếu có) để phán xét, chất vấn nó thì có thể xem là ngờ chệch hơn việc đặt câu hỏi: khoảng cách Hà Nội-Sài Gòi là bao nhiêu kg (đơn vị đo trọng lượng) nếu máy bay đi hết 2.5 giờ với vận tốc trung bình 700km/giờ?

  13. Trung Nu Hoang viết:

    @ Kim Sinh (17/03/2010 lúc 11:25 sáng)

    Theo bạn KS thì: “Vấn đề không phải là chuyện có linh hồn hay không có linh hồn bác Tôn Nguyễn ạ. Vấn đề khởi sinh ở cái chỗ “Ý nghĩ trong đầu ta từ đâu mà có”. Bác Phong Uyên, vốn là một bác sĩ ở Pháp, vẫn cứ tin chắc rằng ý nghĩ của con người là từ linh hồn chứ không phải là từ bộ não. (mà ngay trong bộ não thì câu hỏi vẫn còn nguyên đó là ý nghĩ khởi sinh từ chỗ nào trong cái cơ chế nào mà ta không thể biết. Ví dụ rõ nhất là phút sau ta nghĩ gì ta không bao giờ biết).””

    Trước khi bàn vấn đề này, theo tôi, cần hiểu thực chất LINH HỒN là cái chi?
    Đa số các tôn giáo mà nhà Phật gọi là Nhất Thần (như Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo… chủ trương có một vị Thượng Đế Tối Cao, sáng tạo ra và điều khiển, chi phối toàn thể vũ trụ vạn vật) cho rằng có một cái Linh Hồn, bất sinh bất diệt, tinh anh và sáng suốt vô cùng. Linh hồn của con người được cho là “hơi thở của Thượng đế” khi được nắn từ đất sét.

    Đạo Phật thì cho rằng:
    1- Vũ trụ được hình thành tuần tự trong đó gồm nhiều loài sinh chúng, cỏ cây, vạn vật do lý Duyên Khởi (trùng trùng). Khi nhân duyên – cho một loài nào đó – đầy đủ thì loài đó được tạo thành; nhân duyên thiếu mất thì loài đó tiêu diệt (cá thiếu nước chẳng hạn). Đạo Phật không thừa nhận có một đấng Thượng Đế sáng tạo (Créateur), cai quản vũ trụ. Thượng Đế chỉ là những vị Trời, vị tiên có thần thông tài phép cao tột, nên bức hiếp các loài khác (luật mạnh được yếu thua). Con người là …. thượng đế của trâu, bò, ngựa, chó, mèo, gà, khi bắt chúng từ thú hoang trên rừng về thuần phục, để phục vụ cho loài người vì con người có trí hơn.
    2- Linh hồn: nói theo đa số các tôn giáo Nhất Thần – là một thể bất sinh bất diệt, sáng suốt, hiện hữu “độc lập” với thể xác, được cấu tạo bằng các nguyên tử tinh vi vô cùng (thí dụ: chất ê-te ..). Theo nhà Phật, cái gọi là linh hồn đó, thật ra là Ý Thức (cái Biết) do nhiều yếu tố tập nhiễm trong cuộc sống hợp thành (tình cảm, tư duy, kinh nghiệm ….). Nó không có cuộc sống tự chủ, độc lập mà luôn luôn phải có một thể chất nào đó để nương tựa, để cho nó hoạt dụng. (thể chất đó có thể là chó, heo, nguời, thần, tiên, ma quỷ.. thậm chí là cây cối, cục đất như ông táo …). Theo đạo Phật, khi chết đi thì cái ý thức đó rời thể xác và được gọi là thần thức (người ta thừơng gọi là hồn hay linh hồn). Người có đời sống thanh cao thì do nghiệp lực, cái “đà sống” của thần thức sẽ tìm đến để nương theo một thể xác nhẹ nhàng (tiên, thần) theo luật tự nhiên của vũ trụ: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Ngược lại, khi còn sống tạo nhiều tội ác, tập nhiễm nhiều thói hung dữ, mê đắm thì khi chết, thần thức tự động tìm đến một thể xác tương thích ở cõi địa ngục, ngạ quỹ hay súc sanh.

    Vấn đề tiếp theo là: “ý nghĩ trong đầu do đâu mà có, tức là do đâu có ý thức, có cái biết”? Theo thiển ý, được hiểu chút ít qua giáo lý Đại thừa của nhà Phật: Bản tánh Chân Như là một thực hữu tồn tại từ vô thủy đến vô chung, thể hiện cùng khắp vũ trụ, sáng láng vô cùng.(ở điểm này, theo thiễn ý, có vẻ tương tự với thuyết Thượng Đế, trừ vấn đề “Sáng Tạo”). Hình ảnh Chân Như – qua sự thu nhận của giác quan các sinh vật, vì cấu tạo khác nhau do Nghiệp báo – bị biến dạng, hạn hẹp và tạo nên ý thức của mỗi loài khác nhau (gốc của nghiệp là do tự thừa nhận có cái ngã riêng rẽ nên có chỗ để nghiệp bám víu, chấp giữ). Ý thức được ví như “bóng mặt trời” dưới đáy dòng sông hay ao hồ và… hiển hiện qua não bộ (được ví như chậu nước: đục, trong, xanh, đỏ … tùy nghiệp mỗi loài).
    Nếu không có não bộ, cái biết không thể hiện được trong con người hay các loài vật. Ví như làn sóng của đài BBC vẫn thường xuyên phát ra trong không gian, nhưng chỉ có những TV, Radio nào có tần số tương thích mới bắt được, thấy hình, nghe tiếng….Các giác quan và não bộ của chúng ta (hay các loài sinh vật khác) không phải là GỐC sinh ra ý thức, mà chỉ là một “phương tiện” – chưa chắc là cần và đủ đối với một số người hay loài khác – để ý thức thể hiện. Cái biết của con người khác với loài vật vì được cấu tạo tinh vi, cũng như TV Sanyo màu có độ sắc nét (resolution) cao, thấy hình rõ hơn, đẹp hơn các TV năm xưa, chỉ có 2 màu đen trắng… Một người bị bệnh não bại ví như TV bị hư con “chip” nào đó, ý thức (cái biết) không hiện khởi đầy đủ, chỉ thấy hình, không nghe tiếng chẳng hạn hoặc tắt tịt.
    Chân Như vốn có từ vô thủy như trên đã nói, nhưng bóng của Chân Như (tức ý thức) thì phải có điều kiện để hiện khởi (nước chỉ là điều kiện để cho bóng mặt trời hiện khởi). Do phải hội đủ điều kiện để Sinh ra thì cũng do thiếu điều kiện mà phải Diệt. Cho nên Ý Thức không tồn tại vĩnh viễn mà phải dựa vào một thể xác – như đã nói ở trên. Khi nghiệp lực, nghiệp báo không còn tác động thì ý thức được hoàn toàn giải phóng, trở về cái Chân Như thường còn: Giác Ngộ vĩnh viễn, bất sinh bất diệt, có nghĩa là chấm dứt dòng sống sinh tử luân hồi, đạt đạo. Nước trong thau khô cạn thì bóng mặt trời mất đi, nhưng mặt trời vẫn hiện hữu trên không. (dài quá rồi, sẽ xin bàn tiếp, nếu cần)

  14. Hoà Nguyễn viết:

    Môt vị thầy Tây Tạng tên Soyal Rinpoche viết sách tựa đề “The Tibetan Book of Living and Dying”, Đức Dalai Lama viết lời giới thiệu, in ở Mỹ năm 1992, được bà Trí Hải (lúc đó sống ở VN) dịch ra Việt ngữ với tựa ” Tạng Thư Sống Chết” và in ở California năm 1996.

    Chương thứ 20 viết về “The Near-Death Experience: A Staircase to Heaven?” (Kinh nghiệm Cận tử: Nấc thang lên Trời?”) kể lại nhiều kinh nghiện cận tử được ghi nhận ở Tây phương. Phần chú thích trong bản tiếng Anh ghi các sách tham chiếu bàn về vấn đề này, xuất bản trong khoảng 1968 đến 1990 ở Anh và Mỹ. “Bóng tối và đường hầm”, cảm giác vô trọng lượng, và ánh sáng thấy giống nhau trong nhiều chuyện kể. Ông Soyal cho ánh sáng được nói tới đó gần với linh quang trong thuyết Bardo (Việt dịch là Trung ấm) của Tây Tạng. Sau đây là những điều thường kể lại của những người có kinh nghiệm cận tử, chép sơ lược ở chương 20 theo lời dịch:

    _ Họ thấy một tâm trạng đổi khác, an lạc và thoải mái
    _ Họ có kinh nghiệm “thoát xác”, thị giác và thính giác bén nhạy hơn
    _ Họ ý thức đến một thực tại khác, đi vào bóng tối, rồi di chuyển rất nhanh qua một đường hầm
    _Họ trông thấy ánh sáng ở xa, bị cuốn hút tới đó, và được bao phủ trong ánh sáng. Họ nói chuyện bằng thần cảm. Kinh nghiệm này chỉ kéo dài một hai phút.
    _Một vài người thấy thế giới nội tâm tràn đầy vẻ đẹp, với cảnh thiên đường, thiên nhạc.
    _ Họ có thể đạt tới một giới hạn mà họ không thể đi xa hơn

    Bardo là thuyết của giáo phái Dzogchen, nằm trong Phật giáo Tây Tạng truyền thống (từ cổ xưa). Trong kinh sách Phật giáo ở thế kỷ 2, người ta thấy nói về một giai đoạn nằm sau cái chết và trước sự tái sinh, gọi là Trung Hữu, được nhắc lại nhiều trong kinh Kim Cương thừa (thuộc Mật tông) và Tử Thư (Tây Tạng). Tử thư cho giai đoạn Trung Hữu lúc cận tử kéo dài 49 ngày, có lẽ ảnh hưởng đến việc cúng người chết tới 49 ngày trong phong tục ma chay Việt Nam. . .

  15. Lê Quốc Trinh viết:

    Các bác nói tới nói lui chỉ để chứng minh rằng trong vũ trụ bao la (kể cả trái đất chúng ta đang sống) ngoài vật chất ra còn một thứ khác gọi là linh hồn, hay là tâm linh chẳng hạn.

    Khoa học cổ điển đã từng nêu lên, và trong triết lý Nhà Phật, chính là lý thuyết Sắc Sắc Không Không, ít ai để ý. Chỉ cần gạt bỏ tâm lý thần thánh (duy thần), hiểu được Vô Ngã, thì thấy ngay. Tâm lý “coi trọng tôn giáo” chỉ là một sự bấu víu, mang tâm trạng sợ hãi, ngại xông pha tìm hiểu, có điểm tốt là hình thành một cơ sở đạo đức tối thiểu để giữ cân bằng trong xã hội, nhưng theo đà tiến hoá khoa học kỹ thuật thì càng ngày giá trị tôn giáo càng bị lu mờ, đôi khi trở thành chướng ngại vật cho phát triển.

    Chúng ta bàn chuyện Phật Pháp mà không dựa trên cơ sở thực tiễn (cuộc sống trước mắt) thì sẽ bị lôi cuốn vô những giả thuyết mơ hồ. Hãy nhìn lại tấm gương sống của Đức Phật Thích Ca Như Lai thì rõ.

1 2 3 4 5
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>