Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?
16/03/2010 | 2:06 chiều | 70 Comments
Category: Đời sống, Tổng hợp
Thẻ: Kinh nghiệm cận tử
Có lẽ con người khác với con vật ở chỗ ngoài bản năng tự tồn còn có ý thức về sự tồn tại của mình, nghĩa là sự sống chết của mình, nên đã tạo ra đạo giáo và triết học. Đạo giáo dựa trên đức tin, triết học dựa trên lí trí. Các đạo giáo tin con người gồm 2 phần: tinh thần (linh hồn) và thể xác. Triết học từ khi mới khởi đầu, cách đây 2500-3000 năm ở Ấn Độ và ở Hi Lạp, cũng đã chia làm 2 phái: Duy tâm, suy luận là tinh thần có sự sống độc lập với thể xác, tiếp tục tồn tại sau khi thể xác chết. Duy vật, suy luận ngược lại là tinh thần chỉ là vật chất, được cấu tạo như mọi vật chất bởi những nguyên tử kết hợp với nhau. Khi chết các nguyên tử rời rã nhau, tinh thần cũng sẽ tiêu tan.
Từ cuối thế kỷ thứ XIX, khoa học không còn phụ thuộc triết học về phương pháp suy luận nữa và đạt được nhiều tiến bộ nhờ phương pháp thực nghiệm chỉ công nhận sự hiện hữu của những gì có thể quan sát, thử nghiệm và chứng minh được.
Là một ngành của khoa học, Y khoa không có ý kiến gì về sự sống chết của cái phần của con người gọi là linh hồn, vì không thể quan sát và thử nghiệm nó được.
Cho tới cuối thế kỷ thứ XX, Y khoa lấy tiêu chuẩn để định nghĩa sự chết là sự chết của thể xác khi không còn hơi thở và tim ngưng đập. Tình trạng này gọi là chết lâm sàng (mort clinique). Nếu sau một thời gian vẫn không hồi phục được những chức năng hô hấp và tuần hoàn thì người bệnh bị coi là đã chết hẳn.
Những năm gần đây, kỹ thuật hô hấp nhân tạo (respiration artificielle) và hỗ trợ tuần hoàn (assistance circulatoire) có những tiến bộ phi thường, khiến có thể hồi phục được gần như vô hạn định hoạt động của tim, phổi mặc dầu người bệnh vẫn ở trong tình trạng hôn mê. Y khoa thấy cần phải đưa ra một tiêu chuẩn (critère) khác về sự chết, không phải khi tim phổi ngưng hoạt động mà là khi bộ óc không còn biểu lộ một hoạt động nào nữa, gọi là chết não hay hôn mê quá giai đoạn.
Người bệnh bị coi là ở tình trạng Chết não khi điện não ký (électroencéphalographie) không còn ghi nhận được một biến đổi điện thế nào ở vỏ não (cortex), cho một điện não đồ phẳng lặng (Electroencéphalogramme plat). Chết não được coi là chết hẳn nếu 30 phút sau điện não đồ thứ hai vẫn phẳng lặng. Nhiều nhà khoa học cho đó là một bằng chứng không thể chối cãi được là cái gọi là tinh thần chỉ là sản phẩm của bộ não vì khi bộ não bị coi là chết, không còn một biểu hiện nào của ý thức nữa.
Thời gian gần đây, khoa hồi sức (Réanimation) và khoa giải phẫu lập ra những kỳ công không thể tưởng tượng nổi, có thể coi là những phép lạ: nhiều bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng hay chết não được hồi sinh.
Và kỳ lạ hơn nữa là nhiều người được “cải tử hoàn sinh” nhớ và kể lại những nhận thức và những cảm nhận của mình trong thời gian bị coi là chết, như trở về từ một thế giới khác. Khoa học gọi những hiện tượng này là: NDE (near death experiences), tiếng Anh, hay EMI (experiences de mort imminente), tiếng Pháp. Dịch ra tiếng Việt là Kinh nghiệm cận tử.
Những kinh nghiệm cận tử này chứng tỏ Ý thức, biểu hiện của Tinh thần có đời sống độc lập với bộ óc tất nhiên là không phải từ bộ óc mà ra. Nhiều trung tâm khoa học trên thế giới được thành lập để nghiên cứu và tìm hiểu những kinh nghiệm cận tử này như American for the Advancement of Science (AAAS), Đại học Virginia Mỹ và Đại học Northampton Anh v.v… Đó cũng là đề tài của cuộc hội thảo năm 2006, ở tỉnh Martigues (Pháp) với hơn 2000 nhà khảo cứu đến từ nhiều nước.
Hiện tượng DNE đầu tiên được giới khoa học nghiên cứu là trường hợp cô ca sĩ Pam Reynolds 35 tuồi bị Túi phình mạch não (anévrisme artérielle) phải giải phẫu với rất ít hi vọng sống được vì năm đó là năm 1991, kỹ thuật mổ “túi phình mạch não” còn mới mẻ và đầy bất chắc. Cô Pam bị đặt vào tình trạng chết lâm sàng (mort clinique): nhiệt độ xuống còn 15,5°C. Khi bác sĩ giải phẫu bắt đầu cắt da đầu thì cô Pam thấy mình ra khỏi thân xác. Người ngược trở lại 180°, từ trên cao cô thấy tóc mình bị cạo sạch và cái cưa bác sĩ dùng có nhãn hiệu là Midas Rex. Cô nghe các bác sĩ giải phẫu trả lời nhau và sai người phụ mổ. Cũng vẫn ở tình trạng trầm bổng (lévitation), cô thấy mình xuyên qua một hầm tối trước khi đến một nơi đầy ánh sáng và rất ấm cúng. Cô có cảm tưởng gặp lại bà con bạn bè đã chết và cô nhận diện được một ông cậu chết trước đây và ông cậu đem cô lại chỗ xác chết giá lạnh của ông. Cô Pam kể khi tỉnh lại làm cả ê kíp bác sĩ đều ngạc nhiên vì trong tình trạng chết lâm sàng, máu ngưng luân chuyển, máy điện tử (monitoring) ghi nhận óc ngưng hoạt động, làm sao cô có thể kể lại một cách mạch lạc những sự kiện đã xảy ra.
Cuốn sách đầu tiên nói về kinh nghiệm cận tử là cuốn best-seller của bác sĩ Raymond Moody, Cuộc sống sau cuộc sống (La vie après la vie) xuất bản năm 1976. Những cuốn sách nổi tiếng mới đây là cuốn của bác sĩ J.J Charbonnier, Những bằng chứng khoa học của cuộc sống sau đời sống (Les preuves scientifiques d’une vie après la vie) và cuốn sách mới xuất bản được mấy tuần đã được The New York Times đưa vào danh sách best-seller là của bác sĩ Jeffrey Long, chuyên khoa Quang tuyến ung thư người Mỹ Evidence of the After-life (Bằng chứng sau cuộc sống), đều kể lại những chuyện tương tự của những người đã ở tình trạng chết lâm sàng hay hôn mê quá giai đoạn (coma dépassé). Những cuốn sách này dành cho đại chúng, còn giới khoa học có thể theo dõi những công trình về kinh nghiệm cận tử qua các tạp chí y khoa.
Giáo sư Pim Van Lommel chuyên khoa tim mạch người Hoà Lan trình bày trong tạp chí y học nổi tiếng nhất thế giới Lancet năm 2001, một công trình sưu tập những lời chứng của 344 bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng vì tai biến tim mạch: 18% những người này khẳng định có kinh nghiệm “chết đi sống lại”.
Gần đây nhất, trong số in ngày 25-02-10, tạp chí y học Mỹ Mediscape Medical News nói về những kinh nghiệm cận tử mà bác sĩ Jeffrey Long, tác giả một cuốn sách nói trên, đã sưu tập. Trong vòng 10 năm bác sĩ Long đã nghiên cứu cả thảy hơn 1300 trường hợp trong viện DNE Research Foundation (Tổ chức Nghiên cứu Cận tử), một viện nghiên cứu cận tử được coi là lớn nhất thế giới do ông thành lập. So với những trường hợp cận tử được các trung tâm nghiên cứu khác trên thế giới thâu thập thì những kinh nghiệm cận tử này đều có những điểm giống nhau:
1. Cảm tưởng biết mình đã chết nhưng thấy ý thức mình trở lên trong sáng (crystal clear consciouness).
2. Cảm giác thoát khỏi thân xác (décorporation), bay bồng bềnh (lévitation), nhìn thấy thân thể mình từ cao xuống. Một người kể lại “Tôi thấy tôi từ đằng sau lưng… Tôi thấy gáy cô y tá đang tìm cách hồi sinh tôi bằng phương pháp miệng-miệng (bouche à bouche).
3. Cảm tưởng như mình ở trong một thân thể phi vật chất, di chuyển qua một đường hầm hướng dẫn bởi một luồng ánh sáng (tunnel).
4. Cảm tưởng tới một nơi đầy ánh sáng. Một thứ ánh sáng chan hoà đầy an lành, đầy khoan khoái không bao giờ thấy khi còn sống. Gặp lại những người thân đã chết, có người trước khi mình ra đời, có người mình đã quên hay khi còn quá trẻ để có thể nhớ lại. Thấy những “hình dạng” chan hoà ánh sáng” biểu lộ một Tình thương vô biên.
5. Chỉ trong khoảng khắc hồi tưởng lại cả cuộc đời khiến có cảm tưởng thời gian-không gian bị xóa nhoà.
6. Hối tiếc khi phải trở lại cuộc sống.
Những kinh nghiệm này đều giống nhau dù những người kể lại ở những vùng khác nhau trên thế giới có văn hoá khác nhau. Ngay cả những con nít còn nhỏ tuổi chưa có quan niệm gì về sự chết, về đạo giáo hay chưa bao giờ được nghe kể về NDE, cũng kể lại y hệt.
Có những nhà khoa học cho là những trạng thái ý thức (états de conscience) kể trên đủ để chứng tỏ tinh thần có một cuộc sống độc lập với thể xác (bộ óc) và cho biết có một cõi khác (l’au-delà) hoàn toàn khác lạ với thế giới của cuộc sống hiện tại.
Nhưng có những nhà khoa học hoài nghi đưa ra những giải thích khác:
– Những hiện tượng NDE đó chỉ là những biểu hiện thuần sinh lý do thác loạn tế bào thần kinh (désordre neuronal) tạo ra.
– Có thể là do tác động của những thuốc gây mê như kétamine hay ibogaïne.
– Có nhiều trường hợp endorphines được tiết ra khi óc bị thiếu oxygène, tạo ra những cảm giác khoan khoái khi tỉnh người bệnh hồi tưởng lại.
– Thiếu oxygène cũng có thể kích thích những vùng (zones) tạo hình và ký ức của bộ não, khiến làm nhớ lại những kỷ niệm xưa.
– Ngay khi ở tình trạng chết lâm sàng, những mẩu ý thức (fragments de conscience) có thể vẫn còn sót lại.
– Vả lại khi óc không còn oxygène, không phải mọi vùng trong óc đều ngưng hoạt động cùng một lúc: Có thể có những vùng trong óc chưa bị tê liệt khi bị kích thích đã tạo ra những cảm giác NDE và người bệnh khi tỉnh lại đã tự nối kết những cảm giác đó với nhau thành có đầu có đuôi.
– Những thử nghiệm kích thích thùy não thái dương (lobe temporal) làm trên những người bị động kinh (épileptique) ở Đại học Bách khoa Lausanne và Viện Karoslinka ở Stockholm cho thấy là có thể tạo ra cảm giác thoát xác.
– Giáo sư Kevin Nelson khoa Thần kinh Đại học Kentucky Mỹ giảng giải là cảm tưởng bay trong một đường hầm đầy ánh sáng là do thiếu máu võng mạc (mắt).
Mario Beauregard, nghiên cứu sinh về Não học ở Đại học Montréal, tác giả cuốn Từ óc tới Trời (Du cerveau à dieu) phản biện lại và cho những giải thích đó không đủ thoả mãn:
– Khi tim ngưng đập, điện não đồ không còn ghi nhận được một dấu hiệu nào chứng tỏ bộ óc còn hoạt động mà những quá trình tâm thần (processus mentaux) như tri giác, ý thức, ký ức, vẫn diễn tiến để khi người bệnh sống lại có thể kể một cách rất rành mạch có đầu có đuôi những kinh nghiệm trong thời gian óc bị coi là chết, chứ không phải chỉ nhắc lại những ấn tượng rời rạc chớp nhoáng (instatanées) như trong các thử nghiệm kích thích óc kể trên, thì phải đưa ra giả thử là có một cái gọi là tinh thần hoàn toàn độc lập với bộ óc.
– Sự thiếu oxygène cũng không đủ để giải thích những hiện tượng EMI, vì nếu như vậy đa số những bệnh nhân ở tình trạng chết lâm sàng thiếu oxygène đều phải trải qua hiện tượng EMI.
Hiện giờ Mario Beauregard đang cùng những nhà khoa học khác đưa ra chương trình thực nghiệm Aware: Một số bệnh viện Anh, Mỹ, Canada, Pháp… đồng ý thực hiện chương trình này. Trong phòng mổ sẽ giấu những đồ vật hay những biểu tượng ở một chỗ mà từ bàn mổ không thể trông thấy được. Nếu bệnh nhân hoàn sinh sau khi chết lâm sàng hay chết não mà nhận ra được nó, thì đó là chứng cớ tinh thần người bệnh đã thoát khỏi thân thể mình.
Nếu những thực nghiệm này đem lại kết quả, sẽ có nhiều người coi đó là chứng cớ hiển nhiên nhất, là có một sự sống khác độc lập với thể xác. Nhưng cũng có người cho là không đủ và cho đó chỉ là những tình cờ hú hoạ.
Chỉ có những người đã tự mình trải qua cuộc “chết đi sống lại” như ông Philippe Labro, một nhà văn nhà báo Pháp được nhiều người biết tiếng, kể lại trường hợp của ông khi bị hôn mê quá giai đoạn trong cuốn La Traversée: “Tôi thấy mình ra khỏi thân thể, tôi có cảm tưởng nhìn thấy tôi trên giường bệnh và quanh tôi là cả một ê kíp bác sĩ…”, mới nhìn sự chết với con mắt khác, không còn sợ hãi nữa.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
70 Comments (bài “Phong Uyên – Kinh nghiệm cận tử chứng tỏ có hiện hữu của tinh thần?”)
« Trang trước 1 … 3 4 5
Ông Kim Sinh !
1. “Ông Anh Dũng vi phạm nguyên tắc đối thoại một cách trầm trọng khi liên tục quên chủ đề, mục tiêu chính trong đối thoại mà chuyển thành sự sung sướng khi xúc phạm cá nhân hoặc bắt bẻ chữ nghĩa. Giờ hỏi chủ đề chính là gì có khi ông cũng quên mất rồi! Hì, ở các chợ, các mẹ các chị vẫn thường vậy”
Ông lại tiếp tục vu khống tôi. Chính ông vào đây chỉ để hô khẩu hiệu khẩn cầu “xin nhường” và xua đuổi “đừng có chen vào”, “đi chỗ khác chơi” đấy chứ.
Nay ông lại thể hiện khả năng bói toán “CÓ KHI ông cũng quên mất rồi”.
2. “Tôi không muốn giải thích thêm, chỉ việc ông bảo tui nói “đạo Phật làm khổ đau” (là nghĩa nó như thế nào?) cho thấy cái thiểu năng đọc chữ của ông. Khi ta đang bàn chuyện “giải quyết các khổ đau” thì nói LÀM tức là thực hiện cái “giải quyết” ấy. Ông đọc mệnh đề sau chỉ thấy mệnh đề sau mà không gắn nó với mệnh đề chính nên mới sinh chuyện vô nghĩa “làm khổ”. Ông thiểu năng đọc chữ thật sự mà lại ham nói chữ nên mới lùng bùng vậy.”
Đấy, ngay sau câu “Tôi không muốn giải thích gì thêm” của ông Kim Sinh là một đoạn giải thích lê thê.
Vẫn là bệnh “dốt nhưng thích nói chữ, rao giảng” của ông Kim Sinh.
3. Câu chữ là do ông gõ ra để biểu đạt tư tưởng của ông. Việc “gắn mệnh đề” là việc của ông chứ không phải của độc giả. Ông không “gắn” được ( dốt ) nhưng thích rao giảng các “mệnh đề” thì bị phê phán cũng không oan uổng.
4. “tôi có thông minh cách mấy cũng không thể nghĩ câu viết của mình khiến ông lùng bùng đến vậy!”
Tiếc là ông không thông minh như ông tưởng.
5. “Ông gán ghép chỗ này nè : AD: “Đạo Phật dạy ông vu khống phải không ???”
Tôi có thể vu khống, và bất cứ ai cũng có thể vu khống. Thế nhưng trong tranh luận thì chộp vào đó để quy cho cả hệ thông là thói chụp mũ đáng xấu hổ.”
Thứ nhất, tôi chỉ hỏi ông một câu thôi chứ đã gán ghép gì đâu. Sao ông không trả lời câu hỏi đó mà lại bảo tôi gán ghép cho cái Đạo Phật mà ông cố công ca ngợi, rao giảng ?
Chính tôi đã khẳng định Đạo Phật không tự đặt cho mình các rào chắn, không tự khoanh cho mình khu vực “bất khả xâm” mà hoàn toàn là những khẩu hiệu hoang đường của ông Kim Sinh.
Tức là tôi rất tách bạch giữa ông với Đạo Phật đấy chứ.
6. “Tôi bảo ông phải định nghĩa đạo Phật là gì cái đã rồi hãy mới có thể đưa ra kết luận ấy.”
Định nghĩa: Đạo Phật là một hệ tư tưởng do Thích Ca Mâu Ni xây dựng.
Kết luận ( sau khi tự tìm hiểu và được/bị nhiều vị rao giảng ): Đạo Phật toàn hô khẩu hiệu.
7. “Cố gắng quên cái chữ LÀM với chuyện thiểu năng ở trên đi nghe, giống như tôi đã cố gắng quên, không thèm nói đến những cái mũ ông đã chụp cho như: “Chỉ có thứ Đạo hoang đường, mê sảng mới khuyên CON NGƯỜI phủ nhận nhận thức của chính mình. Tức là biến CON NGƯỜI thành những vật vô tri, vô giác”. Mặc dù thứ này tui cãi dễ ợt”
Ông cố gắng quên nhưng càng cố ông càng ghi tạc trong đầu. Hệt như ở phần 2. đã chỉ rõ: Ông không muốn giải thích gì thêm nhưng ngay sau đó ông lại giải thích lê thê.
Ông cứ tự nhiên thể hiện cái “cãi dễ ợt” của ông đi chứ đừng hô khẩu hiệu làm gì. Càng hô khẩu hiệu thì ông càng tự vạch trần tính chất hoang đường của ông thôi.
Ông Anh Dũng vi phạm nguyên tắc đối thoại một cách trầm trọng khi liên tục quên chủ đề, mục tiêu chính trong đối thoại mà chuyển thành sự sung sướng khi xúc phạm cá nhân hoặc bắt bẻ chữ nghĩa. Giờ hỏi chủ đề chính là gì có khi ông cũng quên mất rồi! Hì, ở các chợ, các mẹ các chị vẫn thường vậy 🙂
Có cái chữ LÀM mà ông làm như chuyện kinh thiên động địa trong khi đó là chuyện (tôi không muốn nói chữ ngu) của ông.
Tôi không muốn giải thích thêm, chỉ việc ông bảo tui nói “đạo Phật làm khổ đau” (là nghĩa nó như thế nào?) cho thấy cái thiểu năng đọc chữ của ông. Khi ta đang bàn chuyện “giải quyết các khổ đau” thì nói LÀM tức là thực hiện cái “giải quyết” ấy. Ông đọc mệnh đề sau chỉ thấy mệnh đề sau mà không gắn nó với mệnh đề chính nên mới sinh chuyện vô nghĩa “làm khổ”. Ông thiểu năng đọc chữ thật sự mà lại ham nói chữ nên mới lùng bùng vậy.
Anh Dũng: Ông khẳng định trước: “cái khổ ấy không một nhà xã hội, một chủ thuyết, một triết gia nào có thể LÀM được. Xin hãy nhường điều đó cho đạo Phật”: Đầu tiên thì ông khẳng định rằng chỉ có Đạo Phật mới LÀM (làm ra) được khổ đau. Sau đó ông lại hỏi tôi có muốn biết Đạo Phật LÀM cho hết khổ hay không.
KS: Hì, tôi có thông minh cách mấy cũng không thể nghĩ câu viết của mình khiến ông lùng bùng đến vậy!
Anh Dũng: “gán ghép cho đạo Phật dạy thì gọi thói gì hả ông Anh Dũng?”
Tôi gán ghép chỗ nào vậy ông? Chẳng lẽ ông cấm tôi có những kết luận về Đạo Phật?
KS: Ông gán ghép chỗ này nè : AD: “Đạo Phật dạy ông vu khống phải không ???”
Tôi có thể vu khống, và bất cứ ai cũng có thể vu khống. Thế nhưng trong tranh luận thì chộp vào đó để quy cho cả hệ thông là thói chụp mũ đáng xấu hổ.
Anh Dũng: ông chỉ biết đặt một loạt câu hỏi song vẫn huênh hoang rằng muốn làm tôi “thay đổi quan điểm”.
KS: Ông nghĩ tôi có thể “thuyết giáo” trên các comment này với ông được ư? Hì… Cái này giống dì ghẻ bắt Tấm nấu cháo mà không cho gạo!
Ông có thấy là chỉ với câu hỏi thôi ông đã có thể giúp ông nhận ra những cái lỗ hổng của mình?
Ví dụ như ông đả kích đạo Phật, OK. Thế nhưng hỏi ông, ông định nghĩa đạo Phật là gì? thì đó là một câu hỏi cần thiết. Ông phải định nghĩa đó là đạo gì, nó duy tâm hay duy vật, nó thờ thần hay không thờ thần, nó cứu khổ hay nó tự kỷ ám thị kiểu tự sướng vân vân và vân vân… thì ông mới đả kích nó được chứ, phải không nào?
Tóm lại, trở lại vấn đề chính, ông bảo đạo Phật HÔ KHẨU HIỆU.
Tôii bảo ông phải định nghĩa đạo Phật là gì cái đã rồi hãy mới có thể đưa ra kết luận ấy.
Mời ông.
Cố gắng quên cái chữ LÀM với chuyện thiểu năng ở trên đi nghe, giống như tôi đã cố gắng quên, không thèm nói đến những cái mũ ông đã chụp cho như: “Chỉ có thứ Đạo hoang đường, mê sảng mới khuyên CON NGƯỜI phủ nhận nhận thức của chính mình. Tức là biến CON NGƯỜI thành những vật vô tri, vô giác”. Mặc dù thứ này tui cãi dễ ợt 🙂
Việc ông Kim Sinh hô một loạt khẩu hiệu như “xin nhường”, “đừng có chen vào”, “đi chỗ khác chơi”,…đã cho thấy hai điều:
Thứ nhất, cái Đạo Phật mà ông đang rao giảng thực ra rất sơ hở, sức đề kháng kém và dễ bị lộ tẩy. Thế nên ông Kim Sinh mới phải vừa khẩn cầu vừa xua đuổi với mong muốn rằng người khác để yên cho Đạo Phật một cách vô điều kiện như vậy.
Thứ hai, Đạo Phật là hoàn toàn “khả xâm”. Muốn vậy, chỉ cần đập vỡ cái rào chắn mà ông Kim Sinh và nhiều vị đang cố công dựng lên, tức là chỉ cần vạch trần cái luận điệu hoang đường của ông Kim Sinh và nhiều vị ấy.
Rốt cuộc, từ việc ông Kim Sinh giật mình hoảng hốt là có thể suy ra Đạo Phật mà ông đang rao giảng có rất nhiều tật.
Ông Kim Sinh !
1. Nguyên văn ông viết thế này: “Cái khổ chỗ cơm áo gạo tiền, chỗ chấp ngã, thì thôi, xin nhường cho những lý tưởng xã hội, đạo Phật xin không giành.
Còn nếu nhìn cái khổ ở ngay trong hơi thở (tại sao ta lại ngộp và sợ hãi không đứng dưới vòi sen ?), ngay trong giấc mơ (thấy đi giết người và bị người giết, thấy đến độ mộng tinh), và cả ngay trong lúc tỉnh (cứ bị các trang sex giữ chân) thì cái khổ ấy không một nhà xã hội, một chủ thuyết, một triết gia nào có thể LÀM được.
Xin hãy nhường điều đó cho đạo Phật, Mark đừng có chen vào mà mất công.
Anh Anh Dũng có muốn biết đạo Phật vạch ra con đường thế nào để giải quyết chuyện đó, LÀM cho hết khổ, hay không ??? ”
Ông có hai từ LÀM, một trong câu khẳng định và một trong câu hỏi. Tôi đang nói đến từ LÀM trong câu khẳng định của ông cơ mà. Ông khẳng định trước: “cái khổ ấy không một nhà xã hội, một chủ thuyết, một triết gia nào có thể LÀM được. Xin hãy nhường điều đó cho đạo Phật”
Còn ông hỏi sau đó, với một từ LÀM khác.
Vậy thì cái luận điệu của ông là thế này: Đầu tiên thì ông khẳng định rằng chỉ có Đạo Phật mới LÀM (làm ra) được khổ đau. Sau đó ông lại hỏi tôi có muốn biết Đạo Phật LÀM cho hết khổ hay không.
Hai từ LÀM của ông mâu thuẫn nhau: vừa LÀM (làm ra) khổ đau thì không thể LÀM cho hết khổ đau được.
Tôi bảo ông dốt nhưng thích nói chữ, thích rao giảng là vì vậy. Rõ ràng là chẳng có gì oan ức cho ông cả.
2. “gán ghép cho đạo Phật dạy thì gọi thói gì hả ông Anh Dũng?”
Tôi gán ghép chỗ nào vậy ông? Chẳng lẽ ông cấm tôi có những kết luận về Đạo Phật?
Nếu ông không đồng tình, ông có quyền đưa ra luận cứ bác bỏ những kết luận của tôi về Đạo Phật. Nhưng ông không làm được, mà ông chỉ biết đặt một loạt câu hỏi song vẫn huênh hoang rằng muốn làm tôi “thay đổi quan điểm”.
3. “Phật nào mà giành đặc quyền, giải quyết, thậm chí làm vơi được khổ đau chúng sinh thì được gọi ngay là Bồ Tát ấy chứ.”
Tôi không nói Phật giành đặc quyền, tôi đang nói chính ông Kim Sinh đang “cố” dành đặc quyền cho Đạo Phật đấy chứ. Rõ ràng là, những kiểu lên mặt “đừng có chen vào”, “đi chỗ khác chơi” là của ông Kim Sinh chứ không phải của Phật nào cả.
4. “Nói “đi chỗ khác chơi” là vì các triết gia, các chủ thuyết khác có muốn vào tham gia cũng không thể. Đơn giản là vì, nói cái này thì ông sẽ bí nè, tất cả các các triết gia, các chủ thuyết khác đều dựa trên sự nhận thức, đạo Phật không nhận thức, đạo Phật lìa tri kiến. Có chủ thuyết, có triết gia nào dạy lìa tri kiến, phủ nhận nhận thức ông chỉ tui coi?”
Ông lại khoác lác rồi. Thích Ca Mâu Ni cũng là con người, Đạo Phật chẳng qua chỉ là cái “nhận thức” của Thích Ca Mâu Ni mà thôi.
Chỉ có thứ Đạo hoang đường, mê sảng mới khuyên CON NGƯỜI phủ nhận nhận thức của chính mình. Tức là biến CON NGƯỜI thành những vật vô tri, vô giác.
Chính ông Kim Sinh đang “bám tri kiến”, đang cố rao giảng cái nhận thức về Đạo Phật của ông cho người khác đó thôi.
5. “Đó không phải là vùng “bất khả xâm phạm”, các triết gia, các chủ thuyết khác “đi chỗ khác chơi” là gì hả ông Anh Dũng?”
Ông lại hoang tưởng rồi. Bất kỳ CON NGƯỜI nào cũng có quyền phê phán và bác bỏ những luận điệu của cái Đạo “lìa tri kiến” mà ông đang rao giảng.
6. “Còn chuyện con đường “lìa tri kiến” này đưa đến điều gì thì hình như kiếp này ông không có duyên rồi, nhưng chỉ cần nói vậy thôi để ông hiểu kết luận của ông “Đạo Phật chỉ hô khẩu hiệu” là một kết luận sai lầm và cần được chấm dứt nói ra nơi công cộng”.
Ông cứ oang oang về “kiếp”, về “lìa tri kiến”; còn tôi rất thích thú khi có cơ hội phê phán, vạch trần, bác bỏ những luận điệu hoang đường của ông cũng như của Đạo Phật.
Anh Dũng: Ở comment trước, ông không nói “giải quyết khổ đau” mà ông nói “LÀM khổ đau”.
KS: Thực sự không hiểu “Làm khổ đau” tôi viết cái chỗ nào và nó có nghĩa gì mà ông bắt bẻ ?
Mời ông đọc lại. nguyên văn của tôi là “giải quyết chuyện đó, làm cho hết khổ”. Làm cho hết khổ là chủ đề đang bàn. Giải quyết khổ nạn là chủ đề đang bàn. Vì vậy câu “không một nhà xã hội , một chủ thuyết, một triết gia nào có thể làm được” có nghĩa là “giải quyết” được , chứ sao ông lại hiểu thành ra LÀM ? Mà tôi viết “LÀM khổ đau” ở cái chỗ nào vậy ? Thế không phải đọc ba chớp ba nhoáng thì gọi là gì sao lại bảo vu khống ? Còn gán ghép cho đạo Phật dạy thì gọi thói gì hả ông Anh Dũng ? Có phải là thói quy kết chụp mũ một hệ thống vì những cá nhân hay không ? Hì… cũ rồi cưng !
Anh Dũng: các triết gia, các chủ thuyết khác nhau đều bình đẳng và đều có nghĩa vụ là giải quyết mọi khổ đau cho nhân loại. Đạo Phật và Thích Ca Mâu Ni không thể có đặc quyền hoặc tự khoanh cho mình một khu vực “bất khả xâm” như ông Kim Sinh đang “cố”.
KS: tôi thấy thương cho khả năng đọc của ông, ông Anh Dũng ạ. Hình như ông đấu tranh giai cấp hoài nên gặp đâu cũng đòi bình đẳng nên mới trở nên ngớ ngẫn vậy. Phật nào mà giành đặc quyền, giải quyết, thậm chí làm vơi được khổ đau chúng sinh thì được gọi ngay là Bồ Tát ấy chứ. Nói “đi chỗ khác chơi” là vì các triết gia, các chủ thuyết khác có muốn vào tham gia cũng không thể. Đơn giản là vì, nói cái này thì ông sẽ bí nè, tất cả các các triết gia, các chủ thuyết khác đều dựa trên sự nhận thức, đạo Phật không nhận thức, đạo Phật lìa tri kiến. Có chủ thuyết, có triết gia nào dạy lìa tri kiến, phủ nhận nhận thức ông chỉ tui coi ? Đó không phải là vùng “bất khả xâm phạm”, các triết gia, các chủ thuyết khác “đi chỗ khác chơi” là gì hả ông Anh Dũng ? Ông không nhận thức đầy đủ vấn đề, bám vào các con chữ rồi bắt bẻ làm thực sự mất thì giờ.
Nói thêm cho ông khỏi lùng bùng. Còn chuyện con đường “lìa tri kiến” này đưa đến điều gì thì hình như kiếp này ông không có duyên rồi, nhưng chỉ cần nói vậy thôi để ông hiểu kết luận của ông “Đạo Phật chỉ hô khẩu hiệu” là một kết luận sai lầm và cần được chấm dứt nói ra nơi công cộng 🙂
Ông Kim Sinh !
1. Nếu ông muốn thay đổi quan điểm của tôi thì ông phải đưa ra được luận cứ bác bỏ chứ không phải là đặt một loạt câu hỏi.
Nhưng tôi cũng chiếu cố mà trả lời ông:
– Ý nghĩ của tôi xuất phát từ thực tế.
– Thực tế là sự thật khách quan, là chân lý nên nó không cho phép tôi có thể nghĩ khác.
– Chuyện thái độ ( cho là bình thường hoặc bất bình ) của mỗi người trước một sự thật ( Đạo Phật chỉ toàn hô khẩu hiệu ) không ảnh hưởng gì đến bản thân cái sự thật ấy. Câu hỏi của ông về “thái độ” nên gửi đến các nhà tâm lý học, xã hội học.
2. Câu hỏi “mà ông bảo cái đầu ông đừng nghĩ lấy dăm phút lại bất khả ???” quả thực làm tôi không thể hiểu nổi.
3. “Đọc ba chớp ba nhoáng thế thì làm sao mà tiến bộ được hả ông Anh Dũng ?”
Ông vu khống tôi rồi. Tôi đã đọc rất chính xác từ “LÀM” mà ông đã dùng đấy chứ. Còn phần “nghe lại” thì rõ ràng là ông thêm thắt, chỉnh sửa rất nhiều. Ông lén lút thêm từ “giải quyết” vào, cái từ rất quan trọng mà ở comment trước ông không có ( ông đã dùng từ “LÀM” ).
Đạo Phật dạy ông vu khống phải không ???
4. Ông liên tục kêu gọi “xin nhường” rồi “đừng có chen vào”, “đi chỗ khác chơi”,…Ông còn phân biệt hai cái khổ.
Đó là những việc vô nghĩa, vì:
Thứ nhất, các triết gia, các chủ thuyết khác nhau đều bình đẳng và đều có nghĩa vụ là giải quyết mọi khổ đau cho nhân loại. Đạo Phật và Thích Ca Mâu Ni không thể có đặc quyền hoặc tự khoanh cho mình một khu vực “bất khả xâm” như ông Kim Sinh đang “cố”.
Thứ hai, việc ông phân biệt khổ đau thành hai loại không ảnh hưởng gì đến kết luận của ông ở comment trước là “chỉ có Đạo Phật mới có thể LÀM ( làm ra, gây ra ) được khổ đau”. Ở comment trước, ông không nói “giải quyết khổ đau” mà ông nói “LÀM khổ đau”.
Rõ ràng, bảo rằng “ông Kim Sinh dốt nhưng lại thích nói chữ, thích rao giảng” là không có gì oan ức cả.
Anh Dũng: Tôi đã liên tục vạch trần cái “con đường” của Đạo Phật rồi đó thôi: Đạo Phật đơn thuần chỉ là HÔ KHẨU HIỆU !
KS: Hì… xem ra ông Aanh Dũng đã tự tin với suy nghĩ của mình về Phật giáo vững như núi Thái Sơn, khó có gì có thể làm ông thay đổi được nữa.
Tôi cố một lần thử xem 🙂
Ông hãy cho tôi biết các ý nghĩ trong đầu ông từ đâu mà có vậy ??? Suy nghĩ kỹ rồi nói nghe, đừng có vội bảo đó là hoạt động của các tế bào thần kinh. Điều đó tôi không cãi, nhưng ông hãy nói cho biết tại sao ông lại thích điều này mà không thích điều khác, tại sao ông lại nghĩ chuyện này chứ không nghĩ chuyện khác. Cũng một chuyện tại sao người khác thấy bình thường còn ông thì lửa giận bừng bừng ? Tại sao ý nghĩ ngay trong đầu ông, thuộc về ông mà ông bảo cái đầu ông đnừg nghĩ lấy dăm phút lại bất khả ??? Tả lời thử xem 🙂
Ông có biết chăng chính vì câu hỏi này, niệm (ý niệm, ý nghĩ) khởi từ đâu mà các bậc tu hành đắc đạo đạt được sự thanh tịnh ông chưa một lần biết nó có trên đời không ?
Anh Dũng: Ông Kim Sinh không những rơi vào mâu thuẫn khi vừa hạ mình “xin nhường”, nhưng ngay sau đó lại lên giọng trịch thượng và hùng hổ rằng “đừng có chen vào”; mà ông còn cho rằng chỉ có Đạo Phật mới có thể LÀM ( làm ra ) được khổ đau.
KS: Đọc ba chớp ba nhoáng thế thì làm sao mà tiến bộ được hả ông Anh Dũng ?
Nghe lại nè: Xin nhường là nhường chuyện giải quyết khổ đau do cơm áo gạo tiền, tức cái khổ vật chất. Cái khổ này các nhà cộng sản như ông có thể giải quyết được
Còn chuyện giải quyết cái khổ tinh thần, cái khổ ẩn sâu trong tế bào, cái khổ ngay trong hơi thở thì xin ông đi chỗ khác chơi.
Ông có phân biệt được hai cái khổ ấy là khác nhau không vậy ?
Vớ vẩn !!!
Ông Kim Sinh không những rơi vào mâu thuẫn khi vừa hạ mình “xin nhường”, nhưng ngay sau đó lại lên giọng trịch thượng và hùng hổ rằng “đừng có chen vào”; mà ông còn cho rằng chỉ có Đạo Phật mới có thể LÀM ( làm ra ) được khổ đau.
Ở đây chỉ có hai khả năng: hoặc ông Kim Sinh dốt nhưng lại thích nói chữ, hoặc ông cố tình tự vạch trần và phỉ báng Đạo Phật ( vì theo ông thì chỉ có Đạo Phật mới LÀM được khổ đau ).
Ông Kim Sinh !
“cái khổ ấy không một nhà xã hội , một chủ thuyết, một triết gia nào có thể làm được. Xin hãy nhường điều đó cho đạo Phật, Mark đừng có chen vào mà mất công.”
Đạo Phật thì cũng là một “chủ thuyết”, Thích Ca Mâu Ni thì cũng là một “triết gia”. Các chủ thuyết, các triết gia thì đều bình đẳng, đều từ CON NGƯỜI mà ra. Vậy tại sao ông lại nhắc đến chuyện “nhường” ở đây ?
“Anh Anh Dũng có muốn biết đạo Phật vạch ra con đường thế nào để giải quyết chuyện đó, làm cho hết khổ, hay không ???”
Tôi đã liên tục vạch trần cái “con đường” của Đạo Phật rồi đó thôi: Đạo Phật đơn thuần chỉ là HÔ KHẨU HIỆU !
Anh Dũng: “K.Marx không tham vọng vô biên đến mức giải quyết tất cả các khổ nạn như Đạo Phật, K.Marx chỉ tập trung giải quyết cái khổ nạn “người bóc lột người” thôi. Nhưng Đạo Phật tham vọng vô biên là thế mà chỉ toàn “hô khẩu hiệu” chứ cũng đã giải quyết được cái khổ nạn nào đâu”
KS: Định không tham gia, vì chủ đề về linh hồn dã nhảy sang chuyện chính trị, nhưng thấy câu này hay, tui không nói thì sẽ không có ai nói 🙂 nên xin được nhảy vô.
Cái khổ chỗ cơm áo gạo tiền, chỗ chấp ngã, thì thôi, xin nhường cho những lý tưởng xã hội, đạo Phật xin không giành 🙂
Còn nếu nhìn cái khổ ở ngay trong hơi thở (tại sao ta lại ngộp và sợ hãi không đứng dưới vòi sen ?), ngay trong giấc mơ (thấy đi giết người và bị người giết, thấy đến độ mộng tinh), và cả ngay trong lúc tỉnh (cứ bị các trang sex giữ chân) thì cái khổ ấy không một nhà xã hội , một chủ thuyết, một triết gia nào có thể làm được.
Xin hãy nhường điều đó cho đạo Phật, Mark đừng có chen vào mà mất công.
Anh Anh Dũng có muốn biết đạo Phật vạch ra con đường thế nào để giải quyết chuyện đó, làm cho hết khổ, hay không ??? 🙂