trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 3021 bài
  1 - 20 / 3021 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
1.7.2008
Phạm Minh Ngọc

Bài của Phong Uyên gợi cho tôi cảm giác “phóng đại và huênh hoang quá đáng” mà tác giả Nguyễn Gia Kiểng đã nhắc đến trong cuốn Tổ quốc ăn năn khi nói tinh thần dân tộc Việt:

“Sơn xuyên chi cương vực ký thù

Nguyễn Trãi (1380-1442) mở đầu bài “Bình Ngô đại cáo” như sau:

Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân,
Điếu phạt vi sư mạc tiên khử bạo.
Như ngã Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bang,
Sơn xuyên chi cương vực ký thù,
Bắc Nam chi phong tục diệc dị,

Trong Việt Nam sử lược, học giả Trần Trọng Kim cung cấp một bản dịch mà nhiều người nói là của cụ Bùi Kỷ: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác.”

"Bình Ngô đại cáo” là một áng văn bất hủ, lời lẽ hùng tráng mà ý kiến cũng rất sâu sắc. Được sáng tác vào năm 1427 khi nước ta vừa giành lại được độc lập từ tay quân Minh, “Bình Ngô đại cáo” có giá trị của một bản tuyên ngôn độc lập. Nó xác nhận văn tài xuất chúng và ý thức chính trị phi thường của Nguyễn Trãi, một trong những anh hùng kiệt xuất nhất trong suốt dòng lịch sử của nước ta. Hầu hết mọi người Việt Nam đều chỉ biết đến “Bình Ngô đại cáo” qua bản dịch của Trần Trọng Kim (hay Bùi Kỷ?). Bản dịch đó cũng là một tuyệt tác. Tuy nhiên, phù hợp với văn phong của thời các cụ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, nó chú trọng đến lời văn và âm hưởng nhiều hơn là ý, và dịch giả đã bỏ qua một chi tiết có tầm quan trọng rất lớn trong sự tồn tại của đất nước ta mà Nguyễn Trãi đã nêu ra. “Sơn xuyên chi cương vực ký thù” được dịch là “Sơn hà cương vực đã chia” thay vì “núi sông bờ cõi riêng biệt” hay “lãnh thổ có núi ngăn chia”, bỏ qua mất cụm từ “sơn xuyên”, có nghĩa là núi sông nhưng cũng có thể có nghĩa là cách núi. Nguyễn Trãi muốn nhấn mạnh sự kiện Việt Nam và Trung Quốc cách nhau một dãy núi. Câu mở đầu của “Bình Ngô đại cáo” có thể dịch sát nghĩa hơn như sau: “Chính trị chuyên mưu tìm hòa bình, chiến tranh chỉ là để khử trừ bạo ngược. Nước Việt Nam là một nước văn hiến, lãnh thổ có núi ngăn chia, phong tục Bắc Nam khác nhau...”

Bỏ qua vách núi là bỏ qua một yếu tố rất quan trọng của nước ta. Chính nhờ núi mà nước ta còn đến ngày nay. Dọc theo biên giới Trung Quốc là cả một vùng núi non dày đặc, dày gần một trăm cây số. Dọc theo biên giới Lào là dãy Trường Sơn. Hai dãy núi này kết hợp với nhau làm một tường thành kiên cố che chở và cô lập các đồng bằng miền Bắc và miền Trung nước ta. Chính nhờ núi mà Trung Quốc đã không thể thôn tính và đồng hóa nước ta, và cũng nhờ núi mà nước Lào đã không bị Việt hóa.

Trước đây khi nước ta chưa thực sự hình thành, thế lực còn đơn sơ đến độ một đạo quân nhỏ cũng đủ đề chinh phục, Trung Quốc đã đặt được sự thống trị lên quận Giao Chỉ, nhưng số người Tàu đủ mạo hiểm để vượt núi qua nước ta lập nghiệp đã rất giới hạn. Vì thế mà một ngàn năm Bắc thuộc đã không thể biến Việt Nam thành một vùng hoàn toàn hội nhập vào Trung Quốc. Khi người Việt Nam trở thành đông đảo với thời gian và giềng mối xã hội trở thành gắn bó, ta đã đuổi được quan cai trị người Tàu rồi bảo vệ được nền độc lập. Từ khi giành hẳn được độc lập, năm 939 ta chỉ bị rơi vào ách Bắc thuộc hai mươi năm, từ 1407 đến 1427, trong một bối cảnh suy đồi đặc biệt. Cuộc chiến tranh giải phóng do Lê Lợi cầm đầu đã rất vẻ vang, nhưng khách quan mà nói lực lượng Trung Quốc xa hậu cứ và khi phải đương đầu với cuộc chiến tranh giải phóng, Trung Quốc đã không chứng tỏ một quyết tâm đặc biệt nào đề duy trì nền thống trị.

Các đạo quân xâm lăng phải vượt qua những đường mòn chật hẹp dài cả trăm cây số nên vận tải lương thực rất khó khăn, và làm mồi ngon cho các cuộc phục kích. Muốn xâm nhập nước ta, quân Trung Quốc thường phải đi đường biển đổ bộ xuống vùng Nghệ An, rất xa địa điểm xuất phát xét theo phương tiện di chuyển ngày xưa, hay cửa Bạch Đằng, tuy gần hơn nhưng vẫn còn phải đi một chặng đường hiểm trở đề tiến về Hà Nội.

Nhờ thường xuyên đánh thắng quân xâm lăng phương Bắc, chúng ta thường tự hào về sức sống mãnh liệt của dân tộc, mà ít khi chịu khiêm tốn đề nhìn nhận rằng sự tồn tại của nước ta chỉ được bảo đảm nhờ vách núi dày đặc và hiểm trở. Nhiều nhà lý luận nặng đầu óc dân tộc đã biện bạch rằng dân ta đứng vững được nhờ có một nếp sống riêng, một nền văn hóa dân tộc cao, một tinh thần dân tộc cao và một tinh thần chiến đấu đặc biệt kiên cường.

Những yếu tố đó đều đúng nhưng chỉ đúng một phần mà thôi.

Ta đã phóng đại và huênh hoang quá đáng. Thực ra tinh thần dân tộc của ta không lấy gì làm mạnh và khả năng chiến đấu của ta tuy khá nhưng không thể nói là phi thường. Về văn hóa, ta đã bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta vẫn còn khác văn hóa Tàu thì cũng chỉ vì ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở trình độ nhiều hơn là ở bản chất. Sau này khi lệ thuộc người Pháp, chúng ta cũng đã mê mải chạy theo văn hóa Pháp. Nhiều người còn muốn quên hẳn gốc gác Việt Nam”. (Hết đoạn trích)

Còn chuyện mấy “chú Khách” “noi gương Triệu Đà, nhiều quan lại, sĩ tử người Hán, được cử qua ‘Hán hoá’ dân Giao Chỉ, đã lấy vợ Việt không chịu trở về Trung Quốc và con cháu không những đều trở thành người Việt mà còn nổi lên chống lại người Hán như trường hợp Sĩ Nhiếp, hoặc trường hợp Vạn Xuân Vương Lý Bôn...” lại gợi cho tôi câu chuyện Khương Duy nói với Chung Hội: “Khi xưa Võ Hầu ra khỏi lều tranh, đem bản đồ này dâng lên tiên đế và thưa rằng: ‘Đất Ích Châu đồng lầy ngàn dặm, dân nhiều, nước giàu, có thể làm được bá nghiệp.’ Tiên đế nhân đó mới mở ra Thành Đô, Đặng Ngải thấy vậy, trách nào chẳng cuồng người lên”. Và rồi Hội nói: “Ý tôi đã quyết, việc mà thành công thì được cả thiên hạ; dù không xong nữa, lui về giữ một góc Tây Thục, cũng đủ làm được Lưu Bị rồi” (Tam quốc diễn nghĩa, tập 3, Nhà xuất bản Văn Học, 1998, trang 592, 597). Tam quốc diễn nghĩa dĩ nhiên không phải là chính sử, nhưng thiết nghĩ cái tâm lí:

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi
Sao bằng riêng một biên thuỳ
(Truyện Kiều),

nhất là khi thấy địa hình Giao Chỉ cũng chẳng khác Tây Thục là mấy, cũng rất nên được tính đến khi xem xét động cơ của các nhân vật lịch sử, kể cả động cơ của mấy “chú Khách” nói trên.