trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.5.2003
Vũ Ngọc Thăng
Xem “Gái Nhảy”
 

Tôi thuộc dạng người có tật dị ứng (chắc là đông ở cái thời buổi thống soái của phương tiện truyền thông đại chúng này) trước những hiện tượng ùn ùn kháo nhau đi xem một phim mới ra lò (của Holywood). Thế nhưng, là một Việt kiều về thăm quê, thích xi-nê mà cũng canh cánh cùng nền điện ảnh nước nhà, tôi hào hứng xé rào. Vậy là, vào một buổi chiều bụi mưa lất phất tháng tư Hà Nội, ngồi rạp Tháng Tám, gần Hồ Gươm, xuất 2 giờ 30 trưa, tôi cùng một số khán giả (khoảng hơn trăm người, đa số trẻ trung, chỉ lưa thưa vài mống “sồn sồn” như tôi) đột nhập vào cái thế giới “Gái Nhảy” của đạo diễn Lê Hoàng và ê-kíp mà gần đây khiến giới trẻ Sài-Thành rồi Hà-Thành có phần xôn xao.

Ðây là cái thế giới “nhảy ôm” của hai cô gái: Hoa (Mỹ Duyên), gia đình giàu có, được chiều chuộng nhưng bị bỏ bê, nghiện ma túy, nhiễm HIV, bất cần cả đến chuyện bán thân lấy thuốc và truyền bệnh cho đàn ông; Hạnh (Minh Thư), tuổi thơ nghèo khổ, sa chân vào cái nghề bạc bẽo nhưng vẫn mơ một mái ấm gia đình, niềm vui duy nhất: đến thăm người dì sống lam lũ ở khu nhà sàn lụp xụp ven sông. Cuối phim: Hoa, mất mạng vì một liều chích heroin; Hạnh, biết mình cũng bị nhiễm HIV, thương tủi phận mình phận bạn, thốt lên tiếng kêu thống thiết trước một hội nghị quốc tế về căn bệnh đáng sợ này. Ðây cũng là xen cuối của phim: một thiên phóng sự xã hội phòng chống ma túy / HIV, lồng trong một câu chuyện với nhiều huống gay cấn (một trận đánh hội đồng, một cuộc “mua vui” hội đồng, một trận trả thù hội đồng, vài cuộc ẩu đả giữa các nhân vật nữ, vài cơn hít chích hêroin), và những chi tiết phác họa lên một số khía cạnh của nền kinh tế tiêu thụ hiện nay (nhà cửa, xe cộ, thời trang, nhạc “trẻ”, văn hóa sắc đẹp, hậu trường các cô ca-ve, du lịch Việt kiều …… ).

Nhìn chung, đối với một phim Việt Nam, “Gái Nhảy” được thực hiện qua một tiết tấu tương đối nhanh và động, ống kiếng hay di chuyển và thay đổi góc cạnh, theo standard làm phim hiện nay. Các biến cố tiến đến cao trào một cách có liều lượng và tuyến tính, nhằm tạo sự lôi cuốn, và giữ sự chú ý của người xem. Kịch bản, đối thoại, diễn xuất, chủ yếu dừng ở việc kể và miêu tả, không đặt nặng việc xây dựng, đào sâu tính cách nhân vật, đôi chỗ thiên về cách thể hiện sân khấu (cuộc tranh luận giữa cô nhà báo và ông chủ nhiệm khi nhân vật này tâm huyết đưa ra “tuyên ngôn” làm báo của mình; hoặc trường đoạn tả cuộc cãi vã giữa các cô gái và nhân vật má mì, chủ vũ trường, vừa ỏn ẻn vừa tàn nhẫn, khi tay này buộc các cô phải ráo riết tập dợt màn ca-ba-rê). Dàn dựng, trang phục, ánh sáng được thể hiện kĩ, nhưng âm nhạc, ở nhiều chỗ, lại tỏ vẻ “làm phiền” hơn là giúp sức khơi gợi cho hình ảnh (trừ đoạn Hạnh về thăm khu xóm nghèo, tiếng nhạc “cụ thể” phát đi từ một chiếc xe bán kem rong, hay gặp trên đường phố hiện nay, văng vẳng, lập đi lập lại, ám ảnh, gợi một một chiều kích nhân sinh thấm thía).

Nếu nhìn điện ảnh dưới góc cạnh một ngôn ngữ khơi gợi thuần bằng hình ảnh và âm thanh, thì người ta cũng thấy trong “Gái Nhảy”, đạo diễn Lê Hoàng đã đưa vào phim vài xê-căng rất đẹp và hiệu quả. Chẳng hạn như đoạn quay gián tiếp tả một “nghi thức dọn mình” cho nhân vật Hạnh trước khi về lại, dù chỉ chốc lát, cái thế giới nghèo khó thanh bạch của người dì. Ðể làm điều này, cô đã phải bơi qua một khúc sông dài, dòng sông rồi các gáo nước trong như tẩy sạch những ưu phiền của một cuộc sống thực tế tàn nhẫn trên thân thể cô, trả lại cô vẻ tươi mát trong bộ áo cánh mà nô đùa với trẻ nhỏ. Nhưng phải nói, cao điểm của cả phim là ở trường đoạn đẹp nhất và mang tính ước lệ cao nhất trong sự thể hiện hình ảnh: cảnh buổi sớm mai trên bãi biển, sau đêm Hoa phải chịu vùi dập để đổi heroin. Hưng phấn (có lẽ do tác động của thuốc hoặc những ước mơ bị ức chế), thướt tha trong chiếc áo dài trắng, Hoa được đàn trẻ cắm trại trên bờ cát, cũng mặc đồng phục trắng, ùa đuổi theo như trong một cuộc chơi cút bắt. Ðoạn quay giàu tính mơ hồ và tưởng tượng, như một giấc mơ (đặc thù của ngôn ngữ điện ảnh, theo nhiều đạo diễn bậc thầy). Chỉ tiếc là tác giả đã hơi quá kéo dài trường đoạn này, và sau đó lại lấy hình đoàn trẻ một lần nữa ở đoạn tiếp (phải chăng là để chứng tỏ cho khán giả hiểu: đây chỉ là một thứ chủ nghĩa hiện thực như thông thường được phản ánh?)

Mỹ Duyên trong vai Hoa, tuổi dưới vị thành niên, qua cách ăn mặc, làm người xem nghĩ đến cô gái mãi dâm trẻ, do Judie Foster thủ vai trong phim Taxi Driver hoặc một Lolita theo version gần đây (chính cô đã tự xưng mình là Lolita Hoa trong xê-căng ngồi xích đu trả lời cuộc chất vấn của nhà báo – rất đạt về đối thoại lẫn diễn xuất). Diễn viên nữ này đã thể hiện một lối đóng có hệ thống qua một kiểu ngôn ngữ “cơ thể” (lần đầu tiên thấy trong điện ảnh Việt Nam?), theo nghĩa là, qua những chuyển động, múa máy chân tay, nét mặt..v..v. cô tạo cho nhân vật một tính cách tâm lí luôn biến động, không yên, ức chế (ăn kem bằng cách mút tay, nhào lộn trên bãi biển, nhảy thót lên giường ngồi nức nở thổ lộ tâm sự với Hạnh trước khi tiêm liều heroin định mệnh..v..v.)

Ai cũng biết “ăn khách” và “nghệ thuật” là hai phạm trù, hai giá trị khác nhau. “Gái Nhảy” không gây xôn xao vì những khía cạnh nghệ thuật thuần điện ảnh của nó mà chủ yếu là ở những khía cạnh xã hội và thời sự. Cuốn phim là tiếng kêu cảnh báo/lên án tệ nạn ma túy – mãi dâm – HIV; và qua đó phần nào cho thấy một số tín hiệu về cái look bề ngoài của cả một thế hệ trẻ đang hình thành trong khung cảnh bung ra của nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất dồi dào hẳn lên, các tiêu chí về thời trang, về cái đẹp thân thể, về cách ứng xử, về cách tiêu thụ.v. .v., đang có những thay đổi mạnh mẽ so với các thế hệ trước. Hơn nữa, cùng với các khu vực khác trong sinh hoạt xã hội, văn hóa giải trí đại chúng, đã hoặc đang rục rịch hình thành cho chúng một thị trường và những siêu sao “cây nhà lá vườn” (sự nổi danh của vài nhà thiết kế thời trang, của một số ca sĩ nhạc trẻ, của đôi ba ban nhạc Rock……), sự thành công của “Gái Nhảy” theo chiều hướng này, có thể là một ví dụ như bước đột phá đối với điện ảnh trong nước. Chắc cuốn phim sẽ tạo một cái trend mới, rồi sẽ được nhiều nhà làm phim chú ý khai thác và đầu tư (Lê Hoàng và ê-kíp nghe đâu đã bắt đầu bắt tay vào việc thực hiện “Gái Nhảy II”).

Trở lại buổi chiều bụi mưa lất phất xem xi-nê ở Hà Nội, ra khỏi thế giới “Gái Nhảy”, dù tâm trạng có phần phấn khởi trước sự thành công của phim theo tinh thần: “Trước mắt hãy coi khán giả là thước đo cao nhất. Hiện nay, điều cấp bách là kéo khán giả vào rạp” (Lê Hoàng), nhưng trong tôi, nỗi canh cánh vẫn còn đó, về một nền điện ảnh không chỉ có khả năng thực hiện được những phim ăn khách “cây nhà lá vườn” như “Gái Nhảy”, mà còn sản sinh được cả những tác phẩm điện ảnh có tầm cao nghệ thuật như những thành tựu của nền điện ảnh Iran đương đại.

© 2003 talawas

 
© talawas 2026