George Soros
Các bài học của Nam Tư
Các sự kiện ở Nam Tư ủng hộ lí lẽ chung của tôi. Can thiệp trừng phạt có khuynh hướng không hiệu quả và nó thường phản tác dụng. Điều này đúng với trừng phạt kinh tế, gìn giữ hoà bình, và hành động quân sự. Ngăn chặn khủng hoảng không thể bắt đầu đủ sớm, và nó phải dựa vào các nguyên lí của xã hội mở. Ngay dù có đúng như thế, cũng không có đảm bảo nào rằng hành động phòng ngừa sẽ thành công; cho nên chúng ta không thể không có những trừng phạt. Các trừng phạt này sẽ được biện minh tốt hơn về mặt đạo đức và chính trị nếu đã vét cạn tất cả các lựa chọn xây dựng.
Ở các giai đoạn sớm, phòng ngừa khủng hoảng là tương đối không đau đớn và rẻ tiền; muộn hơn, thiệt hại và chi phí leo thang theo hàm số mũ. Phiền là, phòng ngừa khủng hoảng, dẫu cho bắt đầu sớm đến đâu, không nhất thiết sẽ thành công. Có một phần của khái niệm về xã hội mở cho rằng: Không phải mỗi vấn đề đều có một giải pháp. Thí dụ, với thiện chí tốt nhất trên đời, chẳng có gì có thể duy trì được hiện trạng ở Nam Tư.
Vào năm 1989, nếu giả như các nền dân chủ phương Tây đã phản đối khi Slobodan Milosevic huỷ bỏ sự tự trị của Kosovo, có khả năng là Milosevic đã không thể củng cố được quyền lực của ông ta ở Serbia, và do đó, đã có thể có một quá độ hoà bình hơn sang chế độ mới. Nhưng nếu sự can thiệp thất bại, thì hành động quân sự có thể không thể tránh khỏi. Mặc dù thế, hành động sớm có thể ít tốn kém hơn. Thiệt hại có thể đã ít hơn nhiều, nếu giả như NATO đã can thiệp khi hải quân Nam Tư ném bom Dubrovnik vào tháng Mười Hai 1991.
Một trong những trở ngại chính cho can thiệp khủng hoảng sớm là một tỉ lệ rủi ro-phần thưởng nghịch. Chẳng ai được vinh dự do giải quyết các cuộc khủng hoảng vẫn chưa nổ ra; nếu sự ngăn chặn thành công, không khủng hoảng nào xảy ra cả. Chỉ có sự thất bại mới được ghi nhớ. Chính phủ hay các định chế nào lại sẵn lòng chấp nhận sự đánh cược như vậy?
Tôi tin trở ngại có thể được khắc phục với sự giúp đỡ của lí lẽ đạo đức mà tôi đề xuất ở trước: Về vấn đề làm việc đúng, ta phải chuẩn bị chiến đấu các trận có thể bị thua. Tôi muốn làm rõ điểm này bằng cách ngó tới một lĩnh vực khủng hoảng vẫn chưa nổi lên trong ý thức chung: Thung lũng Ferghana.
Thung lũng Ferghana
Thậm chí, có ít người đã nghe nói về Thung lũng Ferghana, nối Uzbekistan, Tajikistan, và Kyrgyzstan. Còn ít người hơn biết rằng: Rắc rối nghiêm trọng đang mưng lên ở đây. Tôi có thể cũng chẳng biết đến nó, nếu giả như tôi không có các quỹ ở các nước đó. Uzbekistan là quốc gia lớn nhất và mạnh nhất trong khu vực, được phú cho nhiều dầu và khoáng sản và phải chịu một chế độ áp bức. Sự đàn áp được chủ yếu hướng về việc chống lại trào lưu Hồi giáo chính thống, và coi mọi biểu hiện của Hồi giáo như biểu hiện của trào lưu chính thống, chế độ có thể trấn áp thoải mái. Kyrgyzstan, nước láng giềng, nhỏ hơn và nghèo hơn nhiều. Nó có một tổng thống có thiên hướng dân chủ nhưng bất lực. Tajikistan bị tàn phá bởi nhiều năm nội chiến, mới được giải quyết gần đây. Các đường biên giới trong Thung lũng Ferghana là khó kiểm soát, và bản thân thung lũng lại dễ tiếp cận từ Afganistan. Thung lũng suy tàn về kinh tế, buôn bán ma tuý và khủng bố ngự trị. Các sự cố vũ trang xảy ra ở Kyrgyzstan nhiều hơn ở Uzbekistan, chính xác vì Uzbekistan độc đoán hơn. Bầu cử tổng thống được dự định ở Kyrgyzstan vào tháng Mười 2000, dự kiến với phe đối lập đáng kể. Dưới áp lực từ mọi phía, chính quyền ngày càng phục hồi các biện pháp trấn áp, hăm doạ các phương tiện truyền thông và bắt giữ các ứng viên tổng thống tiềm năng. Chẳng có lí do gì để tin rằng: Các ứng viên đó sẽ dân chủ hơn chút nào so với người đương nhiệm. Triển vọng ảm đạm.
Sự đàn áp và khủng bố tăng cường lẫn nhau. Chúng ta ở trong giai đoạn đầu của xung đột leo thang. Ở khía cạnh này, tình hình gợi nhớ lại Nam Tư năm 1990. Phải làm gì? Tôi không nhìn thấy một chiến lược để đảo lộn xu hướng thịnh hành, để tôi lại với hai lựa chọn: Tiếp tục làm điều mà quỹ của chúng tôi làm tốt nhất – hỗ trợ giáo dục, xã hội dân sự, và pháp trị – hoặc từ bỏ hoàn toàn nỗ lực. Nỗ lực dường như vô ích, và ở khía cạnh nào đó, nó thậm chí tỏ ra phản tác dụng. Thí dụ, nếu chúng tôi thành công trong việc thực thi pháp trị ở Kyrgyzstan vì tổng thống tương đối khá có chủ ý, thì ông ta có thể thua trong cuộc tranh cử với một nhân vật cứng rắn hơn. Nhưng tôi tin chắc rằng: Rút ra sẽ là một sai lầm.
Thung lũng Ferghana tiêu biểu cho trường hợp: Nơi xứng đáng để tiếp tục, bất luận kết quả ngắn hạn là gì. Chúng ta đang gieo những hạt giống của xã hội mở, và trong số đó, một vài hạt sẽ bén rễ. Tỉ lệ mất mát sắp tới làm nản lòng, nhưng các hạt giống sống sót có thể trở nên có giá trị cực kì chính xác, vì có quá ít hạt sẽ sống sót. Tôi nhớ là ở Hungary, khi tôi muốn lập một trường kinh doanh, các ứng viên tốt nhất để lãnh đạo nó đã nghiên cứu ở nước ngoài theo học bổng của Quỹ Ford hai mươi lăm năm trước.
Kết luận mà tôi rút ra không hoàn toàn thoả mãn, vì nó không cho một con đường để ra khỏi khủng hoảng hiện thời. Bản thân điều đó xem ra làm xói mòn lí lẽ biện hộ cho việc phòng ngừa khủng hoảng. Chúng ta đã nhận diện ra một khủng hoảng ở giai đoạn tương đối sớm, chúng ta muốn ngăn chặn nó, thế mà chúng ta không tìm được cách làm điều đó. Nhưng đó là thân phận con người: Không phải mọi vấn đề đều có lời giải. Khả năng rằng: Một cuộc khủng hoảng ở Thung lũng Ferghana là không thể tránh khỏi, trên thực tế làm vững mạnh lí lẽ ủng hộ loại công việc mà các quỹ của tôi gánh vác. Tôi đã lí luận rằng: Phòng ngừa khủng hoảng không thể bắt đầu đủ sớm, và rằng: nó được thực hiện đến cùng, tốt nhất bằng cách đặt nền móng cho các xã hội mở. Giả như, nếu chúng ta biết ngăn chặn khủng hoảng thế nào, thì đơn thuốc của tôi có thể quá hoang phí; cứ như tình hình này, nó có thể là sự lựa chọn sẵn có tốt nhất. Và cho dù nó có hoang phí, chắc chắn nó không vô dụng. Có thời kì, khi có thể tìm ra một chiến lược hứa hẹn. Trong các giai đoạn đầu của sự sụp đổ hệ thống Soviet, tôi đã có thể hầu như luôn luôn hình dung được các chiến lược đầy hứa hẹn nào đó, và tôi đã cố gắng ủng hộ chúng, mặc dù không thành công. Có các thời kì khác, khi chẳng có chiến lược nào xem ra hữu hiệu cả, vì xu hướng đã được định rồi. Sự giải tán Nam Tư là một trường hợp như vậy; Thung lũng Ferghana có thể là trường hợp khác nữa. Trong các trường hợp này, chúng ta phải dùng đến đơn thuốc của Sergei Kovalev và tiếp tục chiến đấu các trận thua. Nghịch lí thay, nó sẽ đảm bảo cho thắng lợi cuối cùng, bởi vì những người sẵn sàng chiến đấu các trận thua giữ cho ngọn lửa tự do không ngừng cháy. Xã hội trở nên tiến gần hơn tới lí tưởng xã hội mở, so với xã hội mà ở đó, người dân chỉ theo đuổi tư lợi của mình. Đó là sự biện minh cho việc làm đúng, bất luận những người khác làm gì.
Viện trợ nước ngoài
Khi tôi chủ trương can thiệp mang tính xây dựng vì mục đích kiến thiết các xã hội mở, tôi chủ trương viện trợ nước ngoài. Theo một nghĩa, đó là việc các quỹ của tôi làm, và đó là điều tôi chủ trương cho một liên minh các xã hội mở.
Viện trợ nước ngoài đã mang tiếng xấu, và đúng thế. Nó là một hành động khởi nghiệp, về nhiều mặt, khó hơn việc điều hành một doanh nghiệp vì lợi nhuận, thế mà nó lại được rút gọn thành một bài tập quan liêu. Các bộ máy quan liêu hay quan tâm đến việc tự duy trì hơn là đến việc thực hiện sứ mệnh của mình. Trách nhiệm giải trình là một nét cốt yếu của nền dân chủ, nhưng nó khuyến khích hành vi phòng ngự, đoán theo, và buộc tội lẫn nhau. Chúng ta bắt các công chức theo các tiêu chuẩn cao hơn các nhà doanh nghiệp. Chúng ta chịu thiệt hại trong kinh doanh nhưng không chịu trong viện trợ nước ngoài. Chẳng ngạc nhiên là những người chịu trách nhiệm tránh rủi ro ngay cả với cái giá: Tránh luôn cả thành công.
Trong lí lẽ ủng hộ viện trợ nước ngoài, tôi đi ngược dòng. Thuyết thị trường chính thống tìm cách giải thoát các hoạt động kinh tế khỏi bất kể loại can thiệp chính thống nào, và phải thừa nhận là nó đã tạo ra một số kết quả tuyệt vời bằng cách tháo năng lực sáng tạo của trí tuệ con người ra. Và ở đây, tôi thử áp đặt ảnh hưởng nặng nề của bộ máy quan liêu.
Đó không phải là điều tôi bênh vực. Tôi công nhận các giá trị của một nền kinh tế thị trường. Tôi tin chúng dựa chính xác vào sự giải phóng các năng lực sáng tạo, chứ không vào việc tạo ra cân bằng. Nhưng động cơ lợi nhuận là không đủ để duy trì xã hội. Nền kinh tế thị trường chỉ là một phần của xã hội mở. Phải có nỗ lực nào đó để cổ vũ sự phát triển của các xã hội mở, và nó phải có một thành phần mang tính xây dựng, bởi vì những trừng phạt, bản thân chúng không thể làm được việc; chúng cũng chẳng thể được biện minh về mặt đạo đức. Điều đó có nghĩa rằng: Chúng ta phải tiến hành viện trợ nước ngoài với ý thức đầy đủ về sự bất hoàn hảo của nó.
Tôi tin việc sáng tạo trong sự theo đuổi các mục tiêu xã hội ngang như sáng tạo trong sự theo đuổi lợi nhuận là không vượt quá năng lực trí tuệ con người.
Tôi đã cố chứng minh điều này trong các hoạt động từ thiện của riêng tôi. Tôi đã tạo ra cái tôi gọi là một “phiên bản fractal” [1] của xã hội mở, thiết lập một mạng lưới các quỹ được hội đồng, gồm những người dân của các nước mà chúng phục vụ, cai quản. Tôi dựa vào họ để quyết định quỹ nên làm cái gì, và họ chịu trách nhiệm về các hành động của họ. Tôi thường ngạc nhiên bởi việc họ làm. Một số chương trình hay nhất là những chương trình tôi chẳng bao giờ hình dung ra. Phải thừa nhận nó là chuyện hú hoạ. Chúng tôi đã có một số thành công lớn, một số kết quả xoàng xoàng, và thi thoảng những thất bại, đòi hỏi phải thay nhân sự.
Tôi muốn cách tiếp cận này có thể được lặp lại ở một qui mô lớn hơn, nhưng tôi nhận ra rằng: Nó không thể được thực hiện. Thật vậy, mạng lưới quỹ của riêng tôi đã đạt đến qui mô mà ở đó, nó mất một số tính uyển chuyển xưa kia của nó và bắt đầu mang tính cách của một bộ máy quan liêu. Tuy nhiên, tôi là một tác nhân độc lập. Tôi có đủ khả năng để thừa nhận và sửa các sai lầm của tôi; đó là lí do vì sao, các nỗ lực của tôi đa phần đã thành công. Các nhà chính trị và các công chức không được hưởng sự xa xỉ như vậy, vì họ phải biện minh hành động của họ trong con mắt không thân thiện của công chúng. Điều này làm cho họ không ưa rủi ro trong các tình huống, nơi khó tạo ra các kết quả tích cực, mà không đảm nhận rủi ro.
Viện trợ nước ngoài chính thức có lẽ không thể có hiệu quả như nỗ lực từ thiện của tôi (mặc dù nó có thể bù lại bằng số lượng, cái nó thiếu về chất lượng). Thế mà, chúng ta không thể làm mà không có nó, nếu chúng ta muốn xây dựng một xã hội mở toàn cầu. Cùng lí lẽ đó áp dụng cho các hình thức can thiệp chính thức khác: Sự thực rằng nó không hiệu quả, không có nghĩa rằng nó không cần thiết; nó có nghĩa là chúng ta phải cố làm cho nó hiệu quả hơn. Các khuyến khích dựa vào quy tắc hợp hơn với các chương trình do chính phủ quản lí. Đó là lí do vì sao cấu trúc chính trị và tài chính toàn cầu trở nên quan trọng đến vậy. Nhưng ngay cả trong các chương trình được quản lí, phải có thể giải phóng năng lực sáng tạo của những người quan tâm – chẳng có lí do vì sao tinh thần kinh doanh lại phải hạn chế ở việc theo đuổi lợi nhuận.
Hiệp ước ổn định cho Đông Nam Âu
Điều này kéo chúng ta lại vùng Balkan. Tôi đã nói về sự tan rã của Nam Tư như một tình huống vô vọng, nơi chẳng gì có kết quả cả. Sau can thiệp của NATO, tình hình đã thay đổi. Một cơ hội nảy sinh để vạch ra một kết quả tích cực, và chúng ta bắt buộc phải nắm lấy. Tôi không phải là người duy nhất bàng hoàng sâu sắc bởi các vấn đề đạo đức do việc ném bom của NATO gây ra. Ai cũng cảm thấy rằng: Sự dính líu của châu Âu ở Balkan đã là quá rụt rè và mang tính phản ứng lại. Liên hiệp châu Âu cần phát triển một chính sách tích cực, ngừa trước đối với khu vực, điều sẽ ngăn ngừa khủng hoảng hơn là phản ứng lại với chúng. Vấn đề được Janvier Solana, tổng thư kí NATO lúc đó, nêu ra lần đầu tiên với tôi, trước khi NATO can thiệp. Mạng lưới quỹ của tôi bắt đầu thực hiện một chương trình toàn diện cho khu vực, song Trung tâm Nghiên cứu Chính sách châu Âu (CEPS), một think-tank (nhóm quân sư) ở Brussels, những người được Romano Prodi, chủ tịch được Uỷ ban châu Âu bầu ra, hậu thuẫn, đã đi trước chúng tôi. Thay cho phát minh lại chiếc bánh xe, chúng tôi đã chấp nhận kế hoạch đó như cơ sở cho tư duy của mình. Chúng tôi đã tổ chức một cuộc hội thảo của hai mươi lăm viện chính sách từ khu vực ở Ljubljana từ 18 đến 20 tháng Bảy 1999, và đưa ra một tuyên bố, là dự thảo tỉ mỉ của kiến nghị CEPS.
Ý tưởng then chốt là kéo các nước trong khu vực lại gần nhau hơn và kéo họ lại gần châu Âu hơn. Liên hiệp châu Âu có thể hoạt động như một cái nam châm vì nhân dân trong khu vực được hút vào nó. Đạp vỡ các rào cản thuế quan ngăn cách các nước với nhau và với Liên hiệp châu Âu sẽ loại bỏ một nguồn chủ yếu của tham nhũng và can thiệp chính trị. Các nước Đông Nam Âu sẽ nhận được hỗ trợ ngân sách, có thể làm cho họ có khả năng sử dụng đồng euro như đồng tiền của mình. Sự hỗ trợ ngân sách sẽ có các điều kiện chính trị, tạo nền móng cho xã hội mở. Viện trợ được phân phát trên cơ sở khu vực hơn là cơ sở song phương. Các nước tham gia sẽ buộc phải cạnh tranh vì tài trợ đầu tư và trợ giúp kĩ thuật thay cho việc có khả năng kiểm soát luồng tiền và khai thác nó vì lợi ích cá nhân và chính trị.
Đây là một kế hoạch toàn diện, có thể tránh việc lặp lại các sai lầm đã xảy ra ở Bosnia. Sự tái thiết Bosnia đã thất bại vì hai lí do chính: Lãnh thổ quá nhỏ, và các nhà chính trị đã thò bàn tay nhơ bẩn của họ vào mọi miếng bánh. Cách tiếp cận khu vực sẽ loại bỏ cả hai nhược điểm. Một thị trường chung và một đồng tiền chung, trụ đỡ vào kết cấu hạ tầng của nền kinh tế thị trường, sẽ cho phép việc phát triển kinh tế. Còn rất nhiều việc phải làm, về mặt xã hội và chính trị, và để hoà giải với những tội lỗi và thương tổn của quá khứ, nhưng con đường hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn đã được vạch ra rõ ràng.
Không khó để tạo sự ủng hộ ở địa phương cho kế hoạch này, vì châu Âu rất hấp dẫn với khu vực. Mạng lưới quỹ của tôi huy động xã hội dân sự hậu thuẫn nó. Các chính phủ khác nhau (hiển nhiên, ngoại trừ chính phủ của Milosevic) hăm hở mong hợp tác. Cũng có nhiều ủng hộ trong nội bộ Liên hiệp châu Âu. Ngoài Romano Prodi ra, các quan chức chính phủ Đức, Ý, Anh, và các nước khác đã phát biểu cùng theo đường hướng này. Chính phủ Hoa Kì cũng ủng hộ, đặc biệt bởi vì chi phí chủ yếu do Liên Hiệp châu Âu gánh chịu.
Mặc dù kế hoạch gợi nhớ lại kế hoạch Marshall, chi phí sẽ khá khiêm tốn vì khu vực là nhỏ xíu về mặt kinh tế, nhỏ hơn cả Hà Lan. Tuy nhiên, tiền là một vấn đề. Các nước thành viên phản đối mạnh mẽ việc tăng ngân sách của Liên hiệp châu Âu; họ muốn duy trì sự kiểm soát ngân quỹ của họ bằng cách đi qua các hội nghị tài trợ. Điều này phá hoại một trong các ý tưởng chính của kế hoạch: Các nước trong khu vực phải cạnh tranh vì trợ giúp, hơn là các nước tài trợ cạnh tranh nhau và cho phép những kẻ gác cổng điều động ngân quỹ cho các mục đích riêng của họ.
Một vấn đề khác: Tổ chức. Trong việc chuyển ý niệm thành thực tế, các bộ trưởng ngoại giao của các nước Liên hiệp châu Âu đã nghĩ ra Hiệp ước Ổn định, chẳng có gì khác hơn là một khung khổ rỗng đợi nhồi nội dung vào; các bộ trưởng tài chính không thích khung khổ này và từ chối cấp ngân quỹ. Các nhà quan liêu của Liên hiệp châu Âu cũng chẳng thích nó. Họ đã quen với các thoả thuận song phương, giữa chính phủ và chính phủ; con đường ưa thích của họ là kí kết cái gọi là các Thoả ước Ổn định và Liên kết với từng chính phủ. Kết quả là, cách tiếp cận khu vực, không phải chính phủ, có thể mất đi.
Khi có các thực thể quan liêu khác nhau kéo theo các hướng khác nhau, giải pháp thường là tạo ra một thực thể mới để điều phối chúng. Kết quả thuần là sự sinh sôi nảy nở của các tổ chức. Đó là điều đã xảy ra ở Kosovo. Quyền lực được chia giữa quân đội do NATO dẫn đầu (KFOR) và nhà chức trách dân sự do LHQ dẫn đầu (UNMIK). Nhà chức trách dân sự lại có bốn trụ cột: UNHCR cho công việc nhân đạo; LHQ cho chính quyền dân sự lâm thời; OSCE cho sự xây dựng các định chế chính trị; và Liên hiệp châu Âu cho việc tái thiết kinh tế. Làm cho tình hình tồi hơn, tổng hành dinh LHQ ở New York muốn thực thi kiểm soát chi tiết với UNMIK.
Kết quả thật tai hại. Sáu tháng sau khi giải quyết khủng hoảng Kosovo, trật tự không được vãn hồi và người dân không cảm thấy an toàn. Các đội quân KFOR đã thành công trong việc bảo vệ bản thân mình, chứ không phải việc bảo vệ được dân cư dân sự. LHQ đã không có khả năng đưa ra một lực lượng công an thoả đáng. Tình hình đã được cải thiện từ khi đó, nhưng sự thiệt hại không hề được tháo gỡ. Dân cư người Serb phải trốn tránh trong các vùng bị bao quanh, những người di gan bị xua đuổi, và dân cư Albani sống trong sợ hãi.
Thiếu ngân quỹ và sự lẫn lộn của các nhà chức trách đã làm chính quyền LHQ thất bại ở mọi bước. Nó không thể trả lương cho giáo viên và các viên chức dân sự khác, phục hồi các dịch vụ công thiết yếu, thiết lập cơ sở sơ đẳng cho hệ thống tư pháp, hoặc thậm chí cung cấp các tài liệu đăng kí dân sự. Nhằm tăng nguồn thu, nó đưa ra thuế quan đối với hàng hoá đến từ Macedonia – một bước thụt lùi, tạo ra sự chậm trễ méo mó và tham nhũng trắng trợn và mâu thuẫn trực tiếp với mục tiêu làm giảm tầm quan trọng của các đường biên giới.
Hậu quả của khủng hoảng Kosovo đã tiết lộ một sự khác biệt kinh khủng giữa các nguồn lực có thể được huy động cho hành động quân sự và nguồn lực sẵn có cho các mục đích xây dựng. Trong trường hợp Hoa Kì, ngân sách quốc phòng là 260 tỉ $, viện trợ nước ngoài 13 tỉ $. NATO chi 2 đến 4 tỉ $ cho việc ném bom Nam Tư, nhưng các nước NATO gặp khó khăn trong việc tìm ra 50 triệu $ để giúp Montenegro tiến hành các cải cách kinh tế. Tuy nhiên, nếu chế độ Djukanovic ở Montenegro có thể duy trì sự ổn định kinh tế còn đồng dinar của Nam Tư mất giá trị, thì chế độ Milosevic chắc chắn bị bất ổn định hơn là do mọi cuộc ném bom. Sự chậm trễ về huy động nguồn lực làm trầm trọng thêm các khó khăn về cam kết xây dựng.
Sự khác biệt giữa ý định và thực tế là đủ rộng để tạo ra tình huống xa cân bằng. Nó sẽ được giải quyết ra sao? Phần nhiều phụ thuộc vào sự cân đối – không chỉ số phận của Nam Tư trước đây mà cả tương lai của Liên hiệp châu Âu và tính hiệu lực của khái niệm về xã hội mở. Vùng Balkan không phải là lĩnh vực có vấn đề duy nhất trên thế giới – có quá nhiều để liệt kê: Indonesia (có thể là Nam Tư rất rõ ràng), Chechnya, Thung lũng Ferghana, Congo, Angola, Kashmir, Đài Loan, và v. v. Tuy nhiên, số phận của Balkan đặt ra một thách thức trực tiếp cho NATO. Nếu chúng ta không muốn cam kết một cách xây dựng, thì chúng ta không có quyền gì để can thiệp trừng phạt; và nếu chúng ta không sẵn lòng can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền nhưng áp bức, thì chúng ta không thể hi vọng về một xã hội mở.
Có những giây phút nào đó, lịch sử đã để ngỏ hơn những lúc khác. Chúng ta đã không lợi dụng được giây phút như vậy ở Liên Xô năm 1989; chúng ta đang có những giây phút như vậy ở Balkan vào đầu thế kỉ mới. Chúng ta chẳng có thể làm được mấy ở Chechnya: Chúng ta càng phản đối, chúng ta càng nuôi dưỡng tâm trạng dân tộc chủ nghĩa cay đắng ở Nga. Nhưng, việc làm thay đổi diễn tiến của các sự kiện, để chúng trở nên tốt hơn ở Balkan, hoàn toàn trong năng lực của chúng ta.
Tôi rất hi vọng, rằng ý tưởng về xã hội mở sẽ qua được thử thách lần này. Có nhiều nhân tố ủng hộ nó. Ðiều gì đó giống một kế hoạch Marshall cho Balkan đang được thảo luận, và nó được sự ủng hộ của những người có vị trí có trách nhiệm: Điều này chứng tỏ chúng ta có tiến bộ. Tôi không cảm thấy cô đơn như tôi đã thấy sau sự sụp đổ của Liên Xô. Tuy nhiên, sự ủng hộ công khai đang yếu đi. Khi NATO bắt đầu ném bom Nam Tư, Kosovo nằm ở trung tâm sự chú ý của thế giới; bây giờ, nó bị các cuộc khủng hoảng khác thế chỗ. Trách nhiệm của các hành động của chúng ta vẫn còn đó. Các chính phủ dân chủ đáp lại ý chí của nhân dân; trừ phi nhân dân cam kết cho các nguyên lí của xã hội mở, chúng ta không thể kì vọng xã hội mở thắng thế. Chúng ta phải theo đuổi đến cùng, vì cho chính chúng ta.
Chương 12: Liên minh xã hội mở
Tiến từ cái đặc thù sang cái chung, bây giờ tôi muốn tạo dựng sự biện hộ cho một xã hội mở toàn cầu. Tôi đã kiến nghị một liên minh của các nước dân chủ với mục tiêu kép: Cổ vũ sự phát triển của xã hội mở trên khắp thế giới, và thiết lập một số qui tắc nền tảng để chi phối hành vi của các quốc gia đối với công dân của chúng và giữa các quốc gia với nhau. Liên minh Xã hội Mở sẽ phải được các nền dân chủ phát triển lãnh đạo; cho nên tôi sẽ bắt đầu bằng việc khảo sát tình hình hiện tại ở Hoa Kì và Liên hiệp châu Âu – việc thảo luận các vấn đề của Nhật Bản sẽ đưa chúng ta đi quá xa. Liên minh sẽ có một thành phần quân sự cũng như thành phần phát triển; cho nên tôi sẽ khảo sát NATO trước khi thảo luận bản thân Liên minh. Liên minh sẽ có khả năng hoạt động trong hoặc ngoài khuôn khổ LHQ; cho nên tôi sẽ khảo sát các triển vọng cải cách LHQ trước khi tôi đưa ra lí lẽ cuối cùng, ủng hộ việc thành lập Liên minh.
Hoa Kì
Hoa Kì là siêu cường duy nhất còn lại, và tính ưu việt quân sự của nó lớn hơn bao giờ hết. Nó có thể ở vị thế để tạo ra một xã hội mở, nếu giả như nó có một tầm nhìn rõ ràng về nó nên như thế nào. Đáng tiếc, Hoa Kì không có cái nhìn rõ ràng về vai trò của nó trên thế giới, hoặc, chính xác hơn, các quan điểm của nó không nhất quán về nội tại. Hoa Kì đang bị một cuộc khủng hoảng về bản sắc mà thậm chí nó không nhận ra.
Đã luôn có hai chủ đề chính trong chính sách đối ngoại Mĩ: chủ nghĩa hiện thực địa chính trị, và cái có thể gọi là “chủ nghĩa lí tưởng xã hội mở”. Hoa Kì là ngoại lệ giữa các Cường Quốc của lịch sử về việc cam kết của nó cho các nguyên lí phổ quát nào đó, được phát biểu chói lọi trong Tuyên ngôn Độc lập và được tái khẳng định trong Hiến chương Đại Tây Dương (được phản ánh trong Lời nói đầu của Hiến chương LHQ). Ngay cả Henry Kissinger cũng thừa nhận cái ông gọi là “chủ nghĩa ngoại lệ Mĩ: American exceptionalism”. [2]
Hai xu hướng thường bất hoà với nhau. Có thể nói Theodore Roosevelt đã dùng cách tiếp cận địa chính trị, còn Woodrow Wilson dùng tầm nhìn xã hội mở. Cân đối lại, chủ nghĩa lí tưởng hay thua các nhóm dân tộc, chế định, và quyền lợi khác, song các chính sách phải được diễn đạt bằng ngôn từ đạo đức nhằm thoả mãn công luận. Kết quả thuần là một yếu tố đạo đức giả trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì.
Trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kì đã hưởng một cuộc đời tốt đẹp nhất có thể có trên trần gian: Nó đã có thể vừa là cả siêu cường lẫn người lãnh đạo thế giới tự do. Chính sách đối ngoại Mĩ cũng đã được lợi từ sự ủng hộ của hai đảng. Sự hài hoà này bị Chiến tranh Việt Nam phá vỡ, khi chính sách đối ngoại và chính trị đối nội trở nên mâu thuẫn trực tiếp với nhau. Sự phản đối trong nước cuối cùng đã làm cho Hoa Kì không thể theo đuổi Chiến tranh Việt Nam. Kinh nghiệm để lại các vết thương hằn sâu và những kí ức chua xót.
Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự sụp đổ nội bộ của hệ thống Soviet và sự nổ tung đế chế Soviet. Điều này được xem là một chiến thắng lớn cho Hoa Kì. Nhưng bản chất của chiến thắng chưa bao giờ được hiểu đúng, vì hai vai trò – siêu cường và lãnh đạo thế giới tự do – bị lẫn lộn. Cũng đã chẳng rõ là thế giới tự do có nghĩa là gì: Chủ nghĩa tư bản hay xã hội mở. Phải chăng sự sụp đổ là do sự theo đuổi hung hăng Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (cái gọi là sơ đồ Chiến tranh các Vì sao), do tính ưu việt của chủ nghĩa tư bản, hay do sự khao khát tự do trong nội bộ đế chế Soviet gây ra? Phản ứng với sự sụp đổ cũng bị lẫn lộn hệt như vậy.
Chính sách đối ngoại của Hoa Kì vẫn bị lẫn lộn suốt từ đó. Không nghi ngờ gì, chúng ta thích là siêu cường duy nhất còn tồn tại. Song chúng ta cũng muốn là người lãnh đạo thế giới tự do, như trong Chiến tranh Lạnh, và đó là nơi sự lẫn lộn lẻn vào bức tranh. Trong Chiến tranh Lạnh, chính sự tồn tại của thế giới bị đe doạ, và nó đã tìm sự bảo vệ của một siêu cường. Các nền dân chủ phương Tây tập họp trong NATO, dưới sự chi phối của Hoa Kì. Song Chiến tranh Lạnh đã qua, và mối đe doạ đã được loại bỏ. Các nước khác chẳng còn cùng lí do để chịu qui phục ý chí của một siêu cường. Cho nên, để vẫn là người lãnh đạo thế giới tự do, chúng ta phải thay đổi cách ứng xử của mình. Chúng ta phải lãnh đạo bằng cách xây dựng một hội đối tác (partnership) chân thật và chịu theo các qui tắc mà chúng ta tìm cách áp dụng cho những người khác.
Chúng ta đã chọn con đường khác. Chúng ta cảm thấy: Ở địa vị siêu cường của mình, chúng ta phải được ban các đặc quyền đặc biệt, và khi chúng ta thuộc về các định chế quốc tế nào đó, chúng ta có quyền chi phối chúng. Chúng ta hăm hở mở rộng NATO; chúng ta thuộc về Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng Thế giới (WB), nhưng chỉ vì chúng ta có thể chi phối chúng. [3] Chúng ta đã vô cớ đánh mạnh LHQ. Và dưới ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo bảo thủ theo đường lối cứng rắn như Nghị sĩ Jesse Helms, chúng ta tuyệt đối phản đối mọi sự vi phạm chủ quyền của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta lại muốn vi phạm chủ quyền của các nước khác, nhân danh nhân quyền và dân chủ. Chúng ta không chịu được các túi xác chết, thế mà chúng ta áp đặt sự trừng phạt thương mại và thả bom từ trên cao để bảo vệ các nguyên lí của chúng ta. Các nguyên lí của chúng ta được cho là có tính hợp lệ phổ quát, tuy thế, chúng ta khăng khăng phán xử: Chúng phải được áp dụng ra sao và khi nào. Có một tiêu chuẩn kép hoạt động, điều có thể xúc phạm phần còn lại của nhân loại, và những người Mĩ thậm chí không ý thức được về nó.
Thái độ của chúng ta có thể được biện minh trên cơ sở tính ưu việt quân sự: Hoa Kì là siêu cường duy nhất, và vì vậy, có thể làm vương làm tướng. Song, điều này không thể dung hoà với sự đòi hỏi của chúng ta muốn là người lãnh đạo thế giới tự do. Đó là chỗ: Vị thế nội tại của chúng ta trở nên không nhất quán. Và trong khi, về phía mình, chúng ta tự cho là mình đúng, những người khác chủ yếu thấy đó là sự ngạo mạn về quyền lực.
Hoa Kì có sự vượt trội về quân sự, nhưng nó lại không sẵn lòng hành động như cảnh sát duy nhất của thế giới. Như thế là tốt hơn, vì Hoa Kì không nhận được đủ lợi ích từ hệ thống tư bản toàn cầu để biện minh cho những hi sinh mà sự duy trì hoà bình một mình có thể gây ra. Chi phối thế giới cũng chẳng dễ dung hoà với xã hội mở.
Nhưng thế giới đúng cần phải có các qui tắc và tiêu chuẩn ứng xử và các phương tiện để thực thi chúng. Thiếu chúng, thì kẻ mạnh sẽ khống chế kẻ yếu, cả về mặt quốc tế và nội bộ. Các qui tắc ứng xử có thể được thiết lập chỉ qua thoả thuận quốc tế. Nếu chúng được một siêu cường đơn phương áp đặt thì sẽ là một ví dụ về kẻ mạnh khống chế người yếu. Đó là nơi mà việc: vừa là một siêu cường vừa đòi hỏi làm lãnh đạo thế giới tự do trở nên mâu thuẫn nhau.
Có thể gây sốc khi nói rằng: Chính Hoa Kì đã trở thành cản trở lớn nhất để thiết lập pháp trị trong các quan hệ quốc tế. Có các chế độ áp bức duy trì sự kìm kẹp chặt chẽ đối với thần dân của mình, nhưng phóng chiếu quyền lực của họ ra nước ngoài, họ ý thức sâu sắc rằng họ có thể đánh thức người khổng lồ đang ngủ. Hoa Kì có thể là bất kể thứ gì, nhưng không áp bức ở trong nước, thế mà nó phô trương quyền lực của nó trên phương diện quốc tế hơn bất kỳ nước nào khác. Nó đôi khi hành động như một kẻ xâm lược, khi nó không thấy mối nguy hiểm của túi xác chết – thí dụ, ném bom một nhà máy dược ở Sudan. Thậm chí, với nét nổi bật hơn, nó mang tính xâm lược trong việc từ chối hợp tác. Nó từ chối trả phí của mình cho LHQ; nó do dự bổ sung cho IMF trong thời gian khủng hoảng tài chính toàn cầu; nó đơn phương áp đặt sự trừng phạt ngay tức khắc hay, chính xác hơn, do sự xúi giục của các cử tri đoàn trong nước. Hoa Kì là một trong vẻn vẹn bảy nước bỏ phiếu chống việc thành lập Toà Hình sự Quốc tế (ICC). Các nước ngoan cố khác là Trung Quốc, Irắc, Israel, Libya, Qatar, và Yemen. Lầu năm góc, phản đối việc nhân viên quân sự Hoa Kì phải chịu dưới quyền phán xử pháp lí quốc tế, đã đi xa đến mức: Chỉ thị cho các tuỳ viên quân sự ở các đại sứ quán Mĩ trên khắp thế giới phải đi tranh thủ các nhà lãnh đạo quân sự của các chính phủ sở tại để vận động hành lang chống lại Toà Hình sự Quốc tế. Đây là một chiến thuật đặc biệt đáng ngờ ở các nước, nơi quyền lực dân sự đối với các lực lượng vũ trang chưa được xác lập vững chắc.
Chí ít, Hoa Kì đã đưa ra lí lẽ có vẻ hợp lí để chống lại ICC, cụ thể là ICC có thể không cung cấp sự bảo đảm cho các công dân Mĩ ngang bằng với Hiến pháp Hoa Kì. [4] Nhưng chẳng có biện minh nào cho sự thất bại của Quốc hội trong việc phê chuẩn các hiệp ước quốc tế không ai bàn cãi như Luật về Qui ước Biển và Qui ước về Đa dạng Sinh học. Hoa Kì là một trong chín quốc gia chưa chịu phê chuẩn Qui ước sau – cùng với Afganistan, Kwait, Liberia, Lybia, Malta, Thái Lan, Tuvalu, và Nam Tư – một toán bầu bạn không thật xuất sắc lắm.
Không nhịn được khi nói rằng Hoa Kì phải hợp tác với những người khác. Những người được chủ nghĩa hiện thực địa chính trị hay thuyết thị trường chính thống hay chủ nghĩa Darwin thông tục chỉ dẫn, những người đánh ngang hàng sự sống sót của kẻ thích hợp nhất với sức mạnh kinh tế và quân sự, có thể không thấy bất kể giới hạn nào cho chủ quyền của nó. Chỉ nếu khi chúng ta muốn sống trong một xã hội mở, thì mới suy ra rằng: Chúng ta phải đặt chủ quyền của chúng ta dưới các qui tắc và các tiêu chuẩn ứng xử có hiệu lực phổ quát. Như tôi đã đau đớn chỉ ra, dính đến sự lựa chọn thật sự: Không nhận thức đầy đủ các hệ luỵ, Hoa Kì đã làm hại sự hợp tác quốc tế trong việc chọn hành sử quyền lực của mình.
Hoa Kì có thể lấy lại địa vị lãnh đạo thế giới tự do bằng cách lập một liên minh của các quốc gia có ý kiến giống nhau, hết lòng thúc đẩy các nguyên lí của xã hội mở về mặt quốc tế và nội bộ ở riêng từng nước. Nhưng điều này đòi hỏi sự thay đổi triệt để về thái độ – từ chủ nghĩa đơn phương hống hách sang một cách tiếp cận hợp tác hơn. Một sự thay đổi như thế là có thể được thực hiện?
Tôi tin là có. Hoa Kì đã duy trì một sự cam kết từ lâu đối với các lí tưởng của xã hội mở, khởi đầu bằng Tuyên ngôn Độc lập. Theo các cuộc thăm dò dư luận, Liên Hiệp Quốc, bất chấp sự tê liệt hiện thời, vẫn được công chúng ưa chuộng hơn Quốc hội hay tổng thống. Ðiều cần phải làm là nắm lại sự ủng hộ tiềm tàng này cho sự hợp tác quốc tế.
Năm 2000, trước các cuộc bầu cử ở Mĩ, một đa số bảo thủ ở Quốc hội kiên quyết chống lại sự hợp tác quốc tế. Lập trường của nó không nhất thiết đại diện cho công luận. Một liên minh rầy rà thịnh hành giữa những người theo thuyết thị trường chính thống và các môn đồ khác nhau của tư tưởng chủ quyền quốc gia, trải từ chủ nghĩa biệt lập của những người tôn giáo chính thống đến cách tiếp cận Mĩ – trước hết của các nghiệp đoàn, và đến chủ nghĩa đơn phương của Jesse Helms. Và mặc dù thống nhất trong sự phản đối của chúng với các định chế đa phương, chúng có các mục tiêu khá khác nhau trong đầu. Những người theo thuyết thị trường chính thống chống sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế; những người sùng đạo chính thống phản đối các tiêu chuẩn tự do, như quyền phá thai, do nhà nước áp đặt. Những người theo thuyết thị trường chính thống chống sự hợp tác quốc tế vì cùng lí do mà họ không thích chính phủ mạnh: Họ muốn cho kinh doanh bàn tay tự do. Những người theo chủ nghĩa biệt lập, thành viên nghiệp đoàn, và theo tôn giáo chính thống phản đối nó vì lí do ngược lại: Họ bực bội về mối đe doạ mà các thị trường toàn cầu nêu ra đối với các giá trị và lợi ích của họ. Thật hết sức ngạc nhiên là làm sao các nhóm khác hẳn nhau này lại có thể dung hoà những khác biệt của họ bằng cách tập trung vào một kẻ thù chung, cụ thể, là nhà chức trách chính phủ và quốc tế. Tôi cho rằng: Họ sẽ thấy sự thống nhất này ngày càng khó duy trì, khi họ tiến gần hơn đến việc đạt được các mục tiêu của họ.
Sự lựa chọn cốt yếu đối với Hoa Kì là giữa cách tiếp cận đơn phương và đa phương. Cách trước dẫn đến việc tái lập một cân bằng quyền lực và triển vọng đối đầu vũ trang giữa các khối chống đối nhau; cách tiếp cận sau dẫn đến một xã hội mở. Không có khả năng là sự lựa chọn sẽ được trình bày cho các cử tri Mĩ một cách thẳng thắn như vậy trong bầu cử tháng 11- 2000 – chủ nghĩa đa phương là một từ quá dài để là một khẩu hiệu bầu cử. Albert Gore rõ ràng có thiện cảm hơn với ý tưởng so với George W. Bush, song chắc ông ta thấy quá rủi ro để đưa nó ra như một vấn đề bầu cử. Tuy nhiên, chính sách đối ngoại chắc sẽ hiện ra lớn hơn trong cuộc bầu cử năm 2000 so với năm 1992, khi Bill Clinton chủ ý không nhấn mạnh chủ đề, và cảm giác thịnh hành về thịnh vượng kinh tế có thể dễ chuyển thành thiện cảm lớn hơn với hợp tác quốc tế.
Sau bầu cử, có thể có sự một sự tái sắp xếp quang cảnh chính trị trong nước, với những người theo chủ nghĩa quốc tế thuộc các màu sắc khác nhau, cùng ủng hộ một xã hội mở toàn cầu. Nó có thể xảy ra trên cơ sở hai đảng, vì có một số truyền thống trong nội bộ cả hai đảng có thể được phục hồi. Trong Đảng Dân chủ, đó là truyền thống tự do, Chính sách Kinh tế Xã hội mới; trong đảng Cộng hoà, đó là truyền thống quốc tế chủ nghĩa, thị trường tự do. Tất cả cái cần cho những người ủng hộ toàn cầu hoá thuộc Đảng Cộng hoà là nhận ra xã hội mở như một mục tiêu đáng mong muốn. Như sự tán thành một Cơ quan Phát triển Thế giới của Báo cáo Meltzer, tỏ ra rằng: Nó không khó tin như nó có vẻ.
Thường cần đến một khủng hoảng để thúc đẩy một sự thay đổi có ý nghĩa về chiều hướng. Ta có thể đã hi vọng rằng: Các cuộc khủng hoảng ở Kosovo, Đông Timor và châu Phi đã đủ sốc để tập trung trí tuệ. Nếu chúng ta phải đợi một cuộc khủng hoảng có ảnh hưởng xấu đến vị thế của Hoa Kì trên thế giới, thì cơ hội cho Mĩ dẫn loài người đến một xã hội mở toàn cầu có thể mất đi. Cho nên, thật cấp bách để thiết lập xã hội mở như một mục tiêu của chính sách của Hoa Kì, trong khi Hoa Kì đang giữ vững địa vị siêu cường duy nhất.
Liên hiệp châu Âu
Trong sự tạo ra Liên hiệp châu Âu, chúng ta đã chứng kiến một thử nghiệm khổng lồ về điều mà Karl Popper gọi là “cải biến xã hội từ từ: piecemeal social engineering”. Xứng đáng để khai phá sự phát triển này cẩn thận hơn vì nó đưa ra vấn đề cốt yếu của thời đại chúng ta: Làm sao khắc phục được những cản trở do quyền tự chủ quốc gia gây ra đối với việc theo đuổi lợi ích chung. Trong sự sáng tạo ra Liên hiệp châu Âu, không phải đối mặt trực tiếp với vấn đề; giả như nếu phải như vậy, quá trình đã chẳng thể đi xa được như hiện nay. Đúng hơn, nó được tiếp cận một cách gián tiếp, bằng cách nhận diện ra một mục tiêu cụ thể và thu thập đủ sự ủng hộ cho nó. Nó khởi đầu với Cộng đồng Than và Thép, và nó đã đi xa đến tận đồng tiền chung. Mỗi bước về phía trước tạo ra một loại thiếu cân bằng nào đó, có thể được chỉnh sửa, chỉ bằng cách đi một bước nữa về phía trước.
Chẳng gì có thể thích hợp hơn với một xã hội mở. Tuy nhiên, quá trình đầy bất trắc, và thật khó nói: Nó sẽ tiến triển thêm bao nhiêu. Mỗi bước đều bị kháng cự, chủ yếu vì khả năng là nó sẽ dẫn đến các bước nữa theo cùng hướng. Những nỗi lo sợ này rất có căn cứ. Việc tạo ra một đồng tiền chung, thí dụ, hẳn có thể tỏ ra yếu, nếu không có một chính sách tài khoá chung. Liệu sẽ có khả năng thu được sự ủng hộ chính trị đủ cho việc đưa ra một chính sách tài khoá chung hay không còn là một câu hỏi bỏ ngỏ.
Toàn bộ quá trình vấp phải những khó khăn. Nó được giới ưu tú chính trị phát động và đang mất sự ủng hộ của quần chúng. Ý tưởng về một châu Âu thống nhất đã vô cùng hấp dẫn, đặc biệt khi mà kí ức về Chiến tranh Thế giới II còn chưa phai mờ và châu Âu bị phơi ra cho mối đe doạ Soviet. Thực tế của Liên hiệp châu Âu (EU), tuy vậy, ít quyến rũ hơn nhiều. Về mặt chính trị, nó vẫn chỉ là một hiệp hội của các quốc gia đã uỷ thác quyền tự chủ nào đó cho một Liên hiệp lớn hơn. Trong lĩnh vực kinh tế, nơi sự uỷ thác đã xảy ra, thị trường duy nhất hoạt động đặc biệt tốt; nhưng trong lĩnh vực chính trị, hầu như không có sự uỷ thác nào, và kết quả làm thất vọng. Mọi hiệp hội như vậy của các quốc gia đều chịu cái được gọi là “thiếu hụt dân chủ: democratic deficit”. [5] Lợi ích quốc gia không nhất thiết trùng với lợi ích của người dân quốc gia đó, nhưng trong một nhà nước dân chủ, nhân dân có thể thực hiện kiểm soát ứng xử của chính phủ thông qua những người họ bầu làm đại diện; trong một hiệp hội các quốc gia, thiếu sự kiểm soát đó, vì quyền quyết định được trao cho các chính phủ, chứ không phải nhân dân.
Chính quyền Liên hiệp châu Âu đang ở giữa một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Cơ quan hành chính trung ương, Uỷ ban châu Âu, ở dưới quyền của Hội đồng châu Âu, bao gồm chính phủ của các nước thành viên. Hội đồng được hướng dẫn nhiều bởi các lợi ích quốc gia hơn là bởi lợi ích chung. Cho nên, ngay cả các quyết định tẻ nhạt cũng mang đặc tính của các hiệp ước quốc tế – khó đạt, thậm chí khó hơn để sửa đổi. Các thành viên của Uỷ ban được chỉ định trên cơ sở quota quốc gia, và hoạt động của Uỷ ban mắc mọi lỗi của một bộ máy quan liêu, phục vụ không phải một ông chủ mà là mười lăm ông. Các quan chức hay bảo vệ mình chống lại các ông chủ chính trị bằng cách tránh các quyết định mà họ có thể bị đổ lỗi. Khi họ có trách nhiệm, không phải với một mà với mười lăm chủ nhân, tác động làm tê liệt; sự thiếu hụt dân chủ được tăng cường bởi sự thiếu hụt về năng lực quyết định. Hầu như không thể tin được, mỗi Vụ là một ốc đảo đối với chính mình, và một Uỷ viên không thể ra lệnh cho người khác. Các quốc gia thành viên vô cớ cản trở chi tiêu nhằm giữ cho sự đóng góp của họ vào ngân sách EU được thấp; đồng thời, các đại sứ của họ tại Brussels làm việc miệt mài để chiếm đoạt càng nhiều ngân sách EU cho lợi ích quốc gia của họ càng tốt. Mọi chi phí, bất luận cho nông nghiệp, nghiên cứu khoa học, hay viện trợ nước ngoài, phải đi qua cùng các thủ tục nhiêu khê này. Cái mà người dân nhìn thấy từ bên ngoài là một bộ máy quan liêu nặng đầu làm việc theo cách quấn lại nhau, bị che phủ trong bí mật. Nó dường như không chịu trách nhiệm với bất kể giới cử tri nào, dẫu cho Nghị viện châu Âu mới đây có được thêm quyền hạn giám sát và Hội đồng trước đây bị hạ bệ do kết quả điều tra của Nghị viện về tham nhũng. Bộ máy quan liêu bị mất tinh thần và công chúng vỡ mộng. Nghị viện châu Âu tiếp tục ít được tôn trọng, như được chứng tỏ bởi tỉ lệ tham gia thấp trong cuộc bầu cử vừa qua.
Một thiểu số đang tăng lên bác bỏ ý tưởng về châu Âu và theo các xu hướng dân tộc chủ nghĩa và bài ngoại. Hi vọng là giới ưu tú chính trị sẽ có khả năng khích động công luận ủng hộ một bước nữa về phía trước, và lần này, bước đi phải có hướng chống lại bản thân giới ưu tú chính trị. Nhân dân phải thực hiện quyền kiểm soát trực tiếp trên chính quyền EU. Một nước đi như vậy phải đối mặt với vấn đề chủ quyền quốc gia trực tiếp hơn trước, và sự thành công của nó còn xa mới được đảm bảo. Thực ra, sự thất bại có thể dẫn tới sự tan rã của Liên hiệp châu Âu, vì nhất thể hoá, hội nhập là một quá trình động: Nếu nó không tiến lên thì nhất định lùi lại. Chính dựa vào nền này mà các vấn đề mở rộng thành viên phải được giải quyết. Triển vọng thật là mong manh.
Làm cho vấn đề tồi hơn, Liên hiệp châu Âu đã không thành công chút nào trong lĩnh vực chính sách đối ngoại. Cột trụ thứ hai của Hiệp ước Maastricht dành cho một chính sách đối ngoại chung, nhưng nó đã không ảnh hưởng đến chủ quyền của các nước thành viên. Kết quả đã có thể tiên đoán được: Chẳng có chính sách chung nào hiện lên. Chính sách đối ngoại vẫn lệ thuộc vào đời sống chính trị nội bộ của các nước thành viên. Chính sách chung bị mất tín nhiệm ở chính hành động đàm phán Hiệp ước Maastricht: Như một phần của cuộc mặc cả dẫn tới hiệp ước, nguyên bộ trưởng ngoại giao Đức, Hans-Dietrich Genscher, người được châu Âu công nhận vì một Croatia và Slovenia độc lập, do đó đã đẩy nhanh chiến tranh ở Bosnia. Liên hiệp châu Âu hiếm khi có khả năng nói cùng một tiếng nói về các vấn đề chính sách đối ngoại, và thậm chí là tiếng nói của một cường quốc nhỏ. Điều này là hiển nhiên trong cách Liên hiệp châu Âu xử lí vấn đề tan rã của Nam Tư – rất, rất thận trọng. Bây giờ dáng vẻ này có thể thay đổi do Liên hiệp châu Âu đã chỉ định một ông hoàng của chính sách đối ngoại, Javier Solana, nguyên tổng thư kí NATO, nhưng ngay dù có đúng như thế, vẫn không có đồng thuận rằng Liên hiệp châu Âu phải trở thành một quyền lực lớn. Tình hình hiện thời, nói nhẹ đi là không thoả mãn, và Liên hiệp châu Âu, giống như Hoa Kì, cần một liều mạnh về tự vấn lương tâm khi đụng đến các quan hệ quốc tế. Hiệp ước Ổn định cho Đông Nam Âu được dùng như một cuộc sát hạch.
Có nhiều vấn đề trong chính sách đối ngoại mà các nước thành viên có những lợi ích dân tộc xác định khác với các lợi ích của các thành viên khác, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và đầu tư. Sẽ khó biện minh một sự uỷ thác quyền lực cho Liên hiệp châu Âu về các vấn đề như vậy. Lấy một ví dụ đơn giản: Ðại diện ngoại giao ở các tổ chức quốc tế. Anh, Pháp, và Đức có các lợi ích tài chính và công nghiệp khác nhau mà Liên hiệp châu Âu không thể đại diện một cách thoả đáng.
Tuy nhiên, có các vấn đề mà lợi ích chung phải có ưu tiên hơn các lợi ích của các quốc gia thành viên riêng lẻ. Trong các trường hợp này, lợi ích chung thường vượt quá Liên hiệp châu Âu. Cái gì xảy ra ở khu vực Balkan, Trung Đông, Bắc Phi, và Liên Xô trước đây liên quan không chỉ đến Liên hiệp châu Âu mà cả Hoa Kì và phần còn lại của thế giới nữa. Có các xã hội mở là một lợi ích chung của tất cả các xã hội mở. Để theo đuổi mục tiêu đó, đòi hỏi sự hợp tác vượt ra ngoài Liên hiệp châu Âu đến Hoa Kì và các nước dân chủ khác.
Có thể thấy rằng: Hầu hết các vấn đề trong chính sách đối ngoại phải được giải quyết, hoặc ở mức cao hơn hay thấp hơn mức Liên hiệp châu Âu. Liên hiệp châu Âu cần tạo dựng một liên minh của các nhà nước dân chủ – thậm chí còn hơn cả Hoa Kì.
© 2004 talawas
[1]Chú thích của dịch giả :
fractal: cấu trúc hình học tự lặp lại ở mọi qui mô để tạo ra các hình thù không đều, không thể tạo ra bởi hình học cổ điển. Các fractal được sử dụng rộng rãi để mô phỏng bằng máy tính các hiện tượng tự nhiên, một khái niệm quen thuộc của các hệ thống có độ phức tạp cao.
[2]Henry Kissinger,
Diplomacy (New York: Simon and Schuster, 1995).
[3]So với IMF, Ngân hàng Thế giới độc lập hơn đối với ảnh hưởng của Hoa Kì; ngay dù có đúng như thế, phó tổng giám đốc cao cấp và kinh tế gia trưởng trực tính của nó, Joe Stiglitz, đã thấy phù hợp trong việc xin từ chức, khi các quan điểm của ông chọc tức Hoa Kì.
[4]Tôi không tán thành lí lẽ này, vì vấn đề không nảy sinh, chừng nào một toà án Hoa Kì sẵn lòng xét xử, thí dụ, vụ tàn sát Mỹ Lai.
[5]William Maynes, “America’s Fading Commitments,”
World Policy Journal (Summer 1999).