Aleksander Genis
5.
Thiên sử thi mang ý đồ lớn của Ezra Pound – những bản Cantos đáng kinh ngạc về quy mô và đáng khó chịu về tính phức tạp – là tượng đài ngạo nghễ nhất của phương Đông tại phương Tây.
Thiên sử thi này có sứ mệnh phải giải quyết vấn đề trung tâm của thời đại. Chủ nghĩa hiện đại xác định nhiệm vụ đó như sau: tai họa của phương Tây là ở chỗ thiếu một huyền thoại phổ quát, không có nó thì thế giới sẽ không tránh khỏi sự cô độc tâm hồn và sự thoái hóa tinh thần. Huyền thoại – đó là tấm bản đồ của tồn tại, đưa lại cho mỗi người các câu trả lời cho tất cả các câu hỏi. Thế giới, được giải thích bằng huyền thoại, có thể bao quát được bằng cái nhìn tư duy, có thể hiểu được nó, có thể sống được ở trong nó. Khoa học thay thế cho huyền thoại đã tước mất mẫu số chung của Vũ Trụ. Nó đưa lại mảng rời thay cho toàn thể khi biến con người thành một chuyên gia chỉ biết tự an ủi rằng sự dốt nát của hắn không phải là về mọi mặt.
Tước đi huyền thoại của văn hóa nghĩa là để mặc mọi người không có tiếng nói chung và thế tất sẽ dẫn đến chia rẽ và chiến tranh. Pound cho rằng sự cứu vớt là ở nghệ thuật mà ông quan niệm như một phương tiện gắn kết. “Giao tiếp là mục đích của tất cả các nghệ thuật” – ông viết. Nghệ thuật chủ yếu nhất là sử thi. Đó là cuốn từ điển của thứ ngôn ngữ mà văn hóa dùng để nói. Sử thi – đó là giọng nói tập thể của văn hóa. Nó tạo ra các nghi lễ kết nối loài người. Sử thi bảo vệ chúng ta khỏi nỗi sợ trước số phận bí hiểm. Khi biến tương lai thành quá khứ, nó trừ bỏ thời gian, thay tương lai tối tăm bằng sự vĩnh hằng tươi sáng của hiện tại.
Nguyên nhân trực tiếp ra đời Cantos là cuộc Thế chiến một. Không chỉ Pound, mà cả bạn bè ông, trước hết là T. S. Eliot, đều coi chiến tranh là triệu chứng của một căn bệnh còn đáng sợ hơn – sự tan rã của một thành tạo văn hóa thống nhất là phương Tây nhiều thế kỷ qua. Thời mới sinh ra những dân tộc mới. Bị tước mất ngôn ngữ chung, mất văn hóa và đức tin, họ nhất định sẽ đánh nhau. Những cơn tai biến lịch sử xảy ra không phải bởi các nguyên nhân chính trị, mà bởi sự đánh mất các giá trị bên trong: thế giới quên đi vẻ đẹp và ân sủng trở thành nạn nhân của sự tiến bộ kỹ thuật bị mất đi chiều đo tinh thần.
Pound hoàn chỉnh ý đồ viết Cantos dưới tác động của Ulysses, tác phẩm đã có ảnh hưởng lớn đến các bạn bè của Joyce. Được gây hứng từ ông, T. S. Eliot viết rằng bằng cách thay phương pháp trần thuật bằng phương pháp huyền thoại, Joyce đã lại làm cho thế giới hiện đại trở nên thích hợp với nghệ thuật. Đối với Pound, Ulysses là động lực thúc đẩy ông viết tác phẩm chiếm trọn cả cuộc đời dài lâu và khổ ải của mình.
Khi hoàn thành bản Ulysses mới, Joyce đã tạo nên một thiên sử thi dân chủ của cái thường ngày, thiên sử thi của người thị dân bình thường – ông kể lại câu chuyện chàng Ulysses trở về nhà. Joyce đã chuyển sử thi từ quá khứ anh hùng sang hiện tại hàng ngày. Pound mơ ước về một loại sử thi xóa bỏ không gian và thời gian: nó phải thống nhất được Đông với Tây (“những đạo thần bí Hy Lạp với Nho giáo”) và làm cho quá khứ thành hiện tại. Với tính trầm tĩnh đầy hoang tưởng Pound gọi các bản Cantos của mình là “bài ca bộ lạc”, “thiên trường ca chứa đựng cả lịch sử”.
Lịch sử – nhân vật chính của Cantos. Nhưng trước khi đưa nó vào thơ ca, cần phải khôi phục nó. Sự cách tân của Pound không phải ở chỗ tạo ra cái mới (điều đáng chú ý là ông coi thuyết vị lai là hời hợt), mà ở chỗ làm sống lại cái cũ, làm hồi sinh truyền thống thi ca đã bị chết cứng dưới dòng sông băng giá của các nhà ngữ văn. Công cụ của Pound là dịch thuật. Bất luận Pound để ý tới cái gì: thứ thơ Anglo-Saxon láy phụ âm, âm thanh của những người hát rong xứ Provence, chữ tượng hình của thơ Trung Quốc, ông đều theo đuổi một mục đích – biến cái cũ thành cái mới, và như ông mơ ước, thành cái vĩnh hằng.
Tính độc đáo khác lạ của Pound không hẳn do ở chất liệu thơ ông, mà chủ yếu là do quan điểm của tác giả. Những tác phẩm dường như là dịch của Pound thể hiện tâm thức của nền “văn minh khảo cổ” của chúng ta cố tìm cách dựa vào “những mảnh lụa sót lại của quá khứ” để khôi phục lịch sử như một chỉnh thể. Pound nghiên cứu “lý trí phương Tây”. Ông cố gắng hiệu đính cái bản viết rối như bòng bong này, ở đó các thời đại và các nền văn hóa rọi chiếu qua nhau. Pound không mong thu thập thêm nhiều tri thức hơn nữa. Các bản dịch của ông nhằm xây dựng lại, sắp xếp lại và thống nhất vô số những mảng rời thành một hệ thần kinh chung giăng trùm toàn bộ văn hóa loài người như tấm mạng nhện. Việc này có vẻ giống như một ca phẫu thuật thần kinh hơn là nghề văn. Các bản dịch của Pound khác thường đến nỗi sau khi công bố bản trường ca dành tặng Propertion vừa được tìm thấy lại của nhà cổ điển La Mã, một giáo sư tiếng Latin đã đề nghị dịch giả nên tự tử.
Vấn đề là ở chỗ Pound không tin vào ngôn ngữ. Điều ông quan tâm không phải là chuyện tác giả nói, mà là chuyện hắn im lặng hay nói về cái gì. Ngôn từ đối với ông không phải là chân lý, mà là chỉ hiệu. Theo dõi một tác giả qua các vần thơ của hắn, Poynd dịch chuyển mình vào thơ người khác bằng cách khoác mặt nạ một nhà thơ khác. Một trong những tập thơ tiêu biểu nhất của ông mang tên “Personae” – “Mặt nạ”. Những mặt nạ như thế có cá tính hợp thành, giống như trong kịch Noh, chúng cho phép người diễn viên quên mình đi cho cái phổ quát mà mặt nạ diễn tả.
Khi dịch, Pound làm sống lại quá khứ ở hiện tại. Những câu thơ xa xưa đã bị quên lãng, giống như những cành cây, được ghép vào thân cây chung của thơ ca thế giới. Các bản dịch của Pound gợi nhớ khu vườn hơn là tập mẫu cây. Pound mơ ước soạn được những bản Cantos của mình từ các mầm sống của lịch sử.
Mặc dù chất liệu trong các bản Cantos hết sức rộng lớn và khác loại, nhưng tất cả chúng đều được xây dựng như nhau. Tạo nên động thái phức hợp của chúng là chuyển động xoáy lốc của các câu thơ quanh các lõi cốt chủ đề nối một loạt bài ca thành chuỗi. Xuyên thấu qua không gian và thời gian, các trục mẫu gốc (archetype) này hòa vận với nhau, tạo lập và đảo lật đề tài của các bản Cantos. Trong văn bản của mỗi bài ca có những dòng thơ riêng lẻ, những trích dẫn, những tên tuổi, những đoạn rời lấy ra từ các tài liệu thực, những ám chỉ các truyền thuyết cổ xưa – tất cả đó là những “chi tiết phát quang” Pound rút ra từ “bầu không khí truyền thống sống động”. Mỗi từ ở đây có ký ức lịch sử của mình mà nó không bị mất đi vì trở thành một bộ phận của toàn thể. Các nhân vật và các khái niệm mang tính mẫu gốc – Odissée, Dionys, Dante, Mặt Trời, Tinh Thể – là những ký hiệu tượng hình của thứ ngôn ngữ thơ ca đặc biệt của Pound mà yếu tố quan trọng của nó chính là những chữ tượng hình Trung Quốc thực được đặt vào những chỗ có ý nghĩa lớn và biểu thị nhiều ý nghĩa.
Cơ chế phức tạp to lớn này nhiều phần gợi nhớ kiểu nghệ thuật cắt dán lập thể nhiều chiều hay một bộ phim lập thể. Nhưng Pound không hẳn nhằm đến vô thức, mà là đến siêu thức của độc giả, cái cần phải được sinh ra trong khi cảm thụ bản trường ca.
Dự án của Pound được mô tả rõ nhất qua sự hư cấu cũng khác thường không kém của Hermann Hesse – ông cũng là một nhà hiện đại chủ nghĩa vĩ đại và cũng rất say mê phương Đông. Các bản Cantos – đó không phải cái gì khác là trò chơi xâu hạt cườm quen thuộc mà mục đích là “thâm nhập một cách huyền diệu vào các thời xa xăm và các trạng thái của văn hóa”. Hesse giải thích: “Người chơi giỏi biết chơi như nhạc công đàn organ, các phím dập và bàn đạp của anh ta bao trùm toàn bộ vũ trụ tinh thần, các khoảng âm của anh ta hầu như là vô số, về mặt lý thuyết dùng nhạc cụ này có thể tái hiện được tất cả nội dung tinh thần của thế giới”. Pound là tay sành sỏi trò chơi này. Bằng cách kết hợp cái vô hạn xa với cái hết sức gần, ông đã tạo ra một chỉnh thể từ những cái không thể đặt cạnh nhau được. Đồng thời Pound, giống như các nhà thơ Trung Hoa, để sự tổng hợp cho độc giả làm lấy. Các bài thơ trong Cantos gồm “những câu thơ không kết dính với nhau, trôi nổi trong khoảng trống” (T. S. Eliot). Để trả lại cho ngôn ngữ tính vô định hình nguyên sơ của thứ thơ tượng hình, Pound đã loại bỏ cú pháp ra khỏi bầu khí quyển thưa loãng của thơ mình. Ở đây không có thứ ngữ pháp quyền uy – nhà thơ để mặc ta với cái thế giới mà ta phải tự thu xếp lại.
Cantos – đó là những bài thơ về quá khứ, nhưng chúng tồn tại trong hiện tại. Chúng có sứ mệnh khởi xướng một quá trình mà kết quả là “bài ca bộ lạc”. Thiên trường ca của Pound – không phải là một kết quả trọn vẹn, mà là một dự án không tưởng, nó chỉ có thể thực hiện được trong một công trình tập thể thống nhất nỗ lực của cả loài người. Công trình đó là – sự ra đời của huyền thoại.
6.
Phương pháp của Cantos, thực chất, phủ nhận nhu cầu chú giải. Những ám gợi về lịch sử và triết học không cần phải giải mã, mà phải được thụ cảm trực tiếp, bỏ qua ý thức phân tích. Giá trị của mỗi chi tiết phụ thuộc vào khả năng của nó tham gia vào việc xây dựng huyền thoại. Pound viết thơ là vì thế, để các bài thơ thay thế nhà chú giải bằng nhà thơ. Sự không thành công của các Cantos là ở chỗ thường chúng hoàn toàn khó hiểu nếu không có chú giải. Tuy nhiên các bản Cantos không hẳn cần chú thích, mà là cần một sự diễn giải linh động, soi tỏ được bức họa đồ tư tưởng của tác giả. Các chú giải cho các bản Cantos tất yếu biến thành sự suy tưởng về đề tài nhà thơ nêu lên.
Canto XIII về “Khổng giáo” là kết đọng tinh túy đề tài phương Đông ở Pound. Pound không bao giờ rời khỏi các sách của “Thầy Khổng”. Chúng luôn bên cạnh ông ngay cả khi bị giam cầm ở Piza, ở đó ông vẫn tiếp tục việc dịch. Canto XIII – đó là sự lây nhiễm tự do các motiv chủ yếu lấy từ sách “Luận ngữ”. Những câu thơ rời được thống nhất lại với nhau, giống như trong Kinh Thánh, bằng liên từ kết hợp “và”. Các hình ảnh, trích dẫn, ý nghĩ và miêu tả xâu chuỗi vào nhau không theo một trật tự nào.
Trong Canto XIII, Pound thể hiện Khổng tử giữa các học trò. Tất cả các nhân vật được mô tả thoáng qua nhưng rõ nét này gặp nhau ở khát vọng hoàn thiện đạo đức. Mỗi người đi tới mục đích đó theo con đường riêng của mình. Các học trò, giống như những người trò chuyện với Socrat trong các đối thoại của Platon, đại diện cho một kiểu người nhất định, một mô hình ứng xử đặc biệt, một phương thức riêng quan hệ với xã hội. Pound chú trọng tô đậm sự khác biệt giữa họ. Mỗi học trò nhận được từ thầy một lời khuyên – “tùy theo bản tính anh ta”. Khổng tử không sợ các mâu thuẫn – ông thấy chân lý nằm ở chúng. Lời của Khổng tử phù hợp với người. Nó không áp đặt, mà chỉ ra. Do biết giới hạn của lời nói nên nhà hiền triết không tìm cách nói ra cái chính yếu. Bài học tinh thần của ông là ở sự nêu gương, sự nhẫn nại, ý muốn làm điều thiện. Lời khuyên của ông thầy chỉ giúp cho người học trò lắng nghe mình, về gần lại mình, trở thành cái mà anh không thể không trở thành.
Sự thông thái của Khổng tử không phải ở những điều răn dạy, khuyên bảo, mà ở thái độ phản ứng uyển chuyển đối với tình huống và cá nhân. Thế giới biến chuyển thường xuyên, con người phải tìm cách thoát khỏi cái ách nặng của quy luật bất biến. Phản đề của quy luật – đó là lễ. Hành lễ không thể ép buộc, cưỡng bức. Đó là cái gánh tự nguyện. Nó làm vui sướng, chứ không phải đè nặng. Hình mẫu của thế giới gắn bằng lễ mà không phải bằng luật – đó là gia đình. Vì thế Khổng tử đứng về phía người cha che giấu đứa con phạm tội giết người. Đối với ông, quy luật tự nhiên của tính người (điều nhân) cao hơn quy luật nhân tạo của nhà nước.
Sự thể hiện cao nhất của lễ – trật tự, là trục mẫu gốc của Canto XIII. “Trật tự” là cách Pound dịch cái từ tượng hình “lễ” có rất nhiều nghĩa trong tiếng Trung Quốc. Khác với truyền thống Aristote đi tìm trật tự trong các cấu trúc tư duy, trật tự Trung Quốc gắn với cấu trúc bên trong của chính sự vật. Nó không phải được đưa từ ngoài vào bằng ý chí của Chúa hay sự tùy tiện của con người, mà khởi thủy đã có ở trong thế giới. Nhiệm vụ của chúng ta là để cho nó tự bộc lộ, không cản trở trật tự hiện ra trong chúng ta. Nó không cần đến sự áp chế của nhà nước. Trật tự nói chung không đòi hỏi gì, nó chỉ đưa lại – đưa lại cuộc sống như vốn có bằng cách để cho mỗi người ở đúng phận vị đã được định sẵn theo bản chất riêng của mình.
Cuộc sống tự nhiên không cần đến cái siêu nhiên. Vì thế Khổng tử của Pound bác bỏ sự siêu hình bằng cách không nói gì đến chuyện “cuộc sống ở phía sau”. Ở Trung Quốc không có hố thẳm giữa Chúa và người, cái thường xuyên gây nên bão táp trong tâm hồn phương Tây. Tại phương Đông, nơi mọi thứ đều theo cặp, Trời chỉ tồn tại cùng với Đất. Chúng đều khởi xuất từ Đạo – khoảng trống không sinh ra sự sống, Đạo là nơi tìm về của sự nhận thức mọi vật. Bản chất sự vật là bất khả giải, bí ẩn và chất phác như bản chất Chúa vậy. Vì vậy Khổng tử không dạy thần học, mà dạy tôn giáo – dạy cách biết đặt cái tiểu ngã của mình vào cái đại ngã của vũ trụ. Theo lý tưởng này là khó, nhưng chỉ là bởi vì không ai khác ngoài chúng ta có thể vạch được con đường đi tới nó. Chỉ bằng phương pháp thử và sai chúng ta mới học được mà không đi chệch đường: “Mọi thứ thái quá thì bất cập”.
Khác với Khổng tử truyền thống, Khổng tử của Pound không tranh luận với các trào lưu tư tưởng khác của Trung Quốc, mà tổng hợp chúng lại. Dấu hiệu hòa giải với đạo gia nằm ở cuối bài, trong những câu thơ thể hiện câu nói được gán cho Khổng tử về sự vô bổ của mọi học thuyết. Thực ra câu đó là của Trang tử, người đã chế giễu Khổng tử trong các câu chuyện ngụ ngôn của mình. Khi thống nhất các bậc thầy phương Đông lại với nhau, Pound thể hiện sự thông thái không phải của nước Trung Quốc lịch sử, mà của một phương Đông không tưởng, được ông nêu lên như một hình mẫu đối với phương Tây.
7.
Canto XIII
Khổng tử đi qua
ngôi thế miếu
và bước vào một rừng tùng
rồi đi qua con sông thấp
cùng đi với ông có Nhiễm, Xích
và Điểm người ít nói
Và Khổng tử nói “Chúng ta không ai biết đến cả”
“Ngươi sẽ làm người đánh xe chăng?
“Khi đó ngươi sẽ được biết đến
“Hoặc có lẽ ta sẽ làm người đánh xe, hay người bắn cung?
“Hay thực hành diễn thuyết trước mọi người?”
Và Tử Lộ nói, ” Con sẽ đưa việc binh vào khuôn phép,”
Và Nhiễm nói, “Nếu con cai quản một tỉnh
“Con sẽ làm cho nó tốt hơn thế này.”
Và Xích nói: Con thích một ngôi miếu nhỏ trên miếu hơn
“Với công việc nề nếp
với lễ nghi thích hợp”
Và Điểm nói, bàn tay đặt trên dây đàn
Những âm trầm vẫn vang ra
sau khi bàn tay đã rời dây
Và âm thanh bay lên như khói dưới vòm lá
Và chàng nhìn theo tiếng đàn:
“Cái hồ bơi cũ
“Và lũ trẻ nhảy ra khỏi ván,
“Hoặc ngồi dưới bụi cây thấp chơi đàn.”
Và Khổng tử cười với cả mấy môn sinh.
Và Công Tây Hoa muốn biết”
“Người nào trả lời đúng?”
Và Khổng tử đáp: “Họ đều trả lời đúng cả,
“Mỗi người nói theo bản tính của mình.”
Và Khổng tử chỉ gậy vào Yuan Jang,
Yuan Jang là học trò lớn tuổi nhất của ông,
Vì Yuan Jang đang ngồi bên vệ đường vờ như
tiếp nhận điều thông thái.
Và Khổng tử nói
“Anh già này, đứng lên
“Đi làm việc gì có ích đi.”
Và Khổng tử nói
“Phải tôn trọng thiên tư của con trẻ
“Từ khi nó bắt đầu hít thở không khí trong lành
“Nhưng người đã năm mươi tuổi mà không biết gì
Thì không đáng trọng.”
Và “Khi vương hầu tập hợp được quanh mình
“Tất cả các học giả và nghệ sĩ, thì của cải của ông ta sẽ được sử dụng đầy đủ.”
Và Khổng tử nói, và viết trên lá tre:
Nếu một người không có lễ trong mình
Hắn không thể tỏa được lễ quanh mình;
Và nếu một người không có lễ trong mình
Gia đình hắn sẽ không làm đúng lễ;
Và nếu vương hầu không có lễ trong mình
Ông ta không thể gây được lễ trong lãnh địa của mình
Và Khổng tử đưa ra chữ “lễ”
và chữ “huynh đệ”
Và không nói gì đến “cuộc sống sau khi chết”.
Và ông nói
“Ai cũng có thể chạy quá mức
“Bắn qua đích thì dễ
”Đứng chắc ở giữa mới là khó”
Và các trò hỏi: Nếu có kẻ sát nhân
Cha anh ta có nên bảo vệ con, che giấu con không?
Và Khổng tử nói:
Ông ta nên che giấu hắn.
Và Khổng tử đã trao con gái cho Kong-Tchang
Dù Kong-Tchang đang ở tù
Và ông đã trao cháu cho Nam Chi
dù Nam Chi đã thôi chức.
Và Khổng tử nói “Vương trị nước ôn hòa
“Nên dưới thời ông nước thái bình
“Và thậm chí ta nhớ
“Cái ngày các sử quan để trống trang sử
“Ý ta muốn nói, vì họ không biết viết gì cả
“Nhưng thời ấy hình như qua rồi
Cái ngày các sử quan để trống trang sử
Nhưng thời ấy hình như qua rồi.”
Và Khổng tử nói, “Thiếu tính cách người sẽ
“không thể chơi được loại đàn đó
“Hoặc tấu được bản nhạc Tụng.
“Những cánh hoa mơ
“bay từ đông sang tây
“Và ta cố giữ chúng khỏi rơi.”
8.
Các Cantos là một sự phá sản mà Faulkner gọi là “chói sáng”. Bi kịch của Pound là ở chỗ những mảng miếng có tư tưởng mạnh mẽ, những trích đoạn có vẻ đẹp hiếm hoi, những câu thơ xuyên thấu chiều sâu tình cảm, những chi tiết rỡ ràng khó quên không kết lại được với nhau thành tổng thể. Thiên sử thi đã không thành. Văn bản các Cantos nằm lại trong lịch sử văn học, chứ không đơn giản là trong lịch sử.
Pound mong ước tạo ra một thứ ngôn ngữ biểu trưng-tượng hình có tính phổ quát có thể diễn đạt được mọi tình huống và hiện tượng. Giống như Kinh Thánh, “Odisée” hay quy phạm Nho giáo, các Cantos đưa ra một hệ thống hình tượng bao chứa tất cả kinh nghiệm của loài người. Khả năng của các Cantos mô tả cái vĩnh hằng và cái toàn thể lẽ ra phải làm cho bản trường ca trở thành “bài ca bộ lạc”.
Không thành được như thế. Pound đã không thể đem lại được cho thế giới một ngôn ngữ mới, còn cho văn hóa – một công cụ mới. Trò Chơi xâu hạt cườm của ông đã bị hỏng. Ông đã gặp phải cái y như đã xảy ra với nhân vật của Hesse. Hans Knecht, sau khi quyết định kiểm tra giá trị của Trò Chơi, đã tốn mất mấy năm vào việc giải mã từng ký hiệu của một ván chơi. Khi chuyển các biểu trưng “đại số” đã được khái quát hóa ngược trở lại – vào thế giới “số học” cụ thể, anh ta đã tháo tung tấm vải dệt ra thành các sợi chỉ rời, do đó phá hủy ý nghĩa cốt yếu của Trò Chơi.
Pound tin rằng văn hóa thế giới sẽ vang lên trong bản trường ca của ông bằng một hòa âm. Nhằm đến sự cảm thụ trực giác, bản trường ca sẽ đến được với từng người. Pound tính rằng mọi người sẽ nắm bắt được ông, – số ít người hiểu được ông. Một sự sai khác mang tính hủy diệt, bởi vì nó xóa bỏ mất cái chính – tư tưởng của thiên sử thi.
Trong các Cantos Piza có tính tổng kết cả cuộc đời, Pound đã gọi mình là “con kiến đơn độc trong tổ kiến bị vỡ”. Câu này ở đây không chỉ nói về châu Âu sau chiến tranh trong cảnh hoang tàn đổ nát. Tổ kiến – hình ảnh của chí hướng quên mình, của sự hiểu nhau vô điều kiện và của tình đoàn kết toàn thể, tất cả trở thành bản năng. Không biến được thành “tổ kiến”, các Cantos mất đi ý nghĩa cao cả được đặt ra cho nó.
Văn hóa thế kỷ XX, như bao giờ cũng vậy, đã tiêu dùng di sản của Pound không như tác giả mong ước, – nó lấy của ông không phải mục đích mà là phương pháp. Marshall Macluen, người từng đến thăm Pound tại viện tâm thần, thấy ông là nhà thơ đầu tiên của “cái làng toàn thế giới”: khi thống nhất thế giới bằng tấm lưới các Cantos của mình, Pound đã tìm cách tạo ra sợi nấm của loài người.
Thậm chí nhìn thoáng lướt cái thế kỷ đang trôi qua cũng thấy lộ ra cái không thể không nhận thấy: phương Đông đã kịp lạ hóa phương Tây, đã làm cho nó trở nên mới, như Pound từng mơ ước. Cái huyền thoại được Fenellosa và Pound nhồi làm tiêu bản đã được nhóm “Beat” thừa hưởng. Bản luận văn của Fenellosa trở thành tuyên ngôn của họ (đến nay nó đã được in ra tại nhà xuất bản của hiệu sách “City Lights” ở San-Francisco, nơi phong trào này ra đời). Các Cantos đã giúp nhóm “Beat” gắn kết Whitman với những nhà thơ Trung Quốc để tạo ra không chỉ một loại thơ mới, mà cả một loại văn hóa mới – phản văn hóa. Khi Allen Ginsberg (1926-1996, nhà thơ Mỹ nổi tiếng của nhóm “Beat” với tập thơ “Tiếng hú” 1956 – ND)) đến gặp Pound đang sống tuổi già ở Venise, ông ta đã mang theo mình những đĩa nhạc “Beatle”.
Kinh nghiệm của Cantos không trôi qua vô dấu vết đối với thời nay của chúng ta. Cuộc hôn nhân Đông-Tây tuy vậy vẫn diễn ra và kết quả của nó là nghệ thuật hiện đại, nghệ thuật này gắng vượt lên sự tuyệt vọng để tìm kiếm một phương thức giao tiếp mới. Người nghệ sĩ mong muốn rút ngắn khoảng cách giữa các trí tuệ. Hắn tìm cách nâng nghệ thuật lên một cấp độ bản thể luận mang tính phổ quát, ở đó tự nhiên chứ không phải văn hóa mới làm chúng ta thống nhất lại với nhau. Bứt qua ngôn ngữ, hắn giao tiếp với chúng ta không phải bằng lời, mà bằng những xung động sinh ra lời. Vì thế trong nghệ thuật hiện đại, giống như trong công thức thơ của Nabokov, “ít ý mà nhiều nghĩa”.
Nghệ thuật hôm nay đang mơ về một sự tiếp xúc ngoài lời, ngoài khái niệm, cho phép ý thức này chảy được qua ý thức khác. Nghệ sĩ không nói, mà chỉ ra cái không thể nói, hắn tìm cách truyền đạt cái không thể hiểu, hắn kể về các sự vật bằng ngôn ngữ của chúng, hắn học cách không phải phản ánh thế giới mà hòa lẫn với nó, quên mình đi. Bởi vì chỉ khi thoát khỏi cái “quy chế vượt lên trên tự nhiên” mà truyền thống phương Tây đưa lại cho hắn, con người mới lại có thể trở thành “không phải ông chủ của cái đang có, mà là tên mục đồng của tồn tại” (Heidegger).
Khi nền nghệ thuật vĩ đại của phương Tây trở nên tinh tế và sâu sắc đã đi hết giới hạn nhận thức, nó dừng lại trong sự câm lặng bi thảm trước cái không thể nói ra được. Trên con đường vòng tránh chướng ngại này, mọi cái mới chân chính trong nghệ thuật đều hoặc tự giác tìm đến kinh nghiệm phương Đông, hoặc vô thức lần theo dấu vết của nó.
1999
Aleksander Genis, 1953, nhà nghiên cứu văn học Nga, sống ở Mỹ.
© 2003 talawas