trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
29.10.2003
Như Huy
Viết từ triển lãm “Momentum“ của Tiffany Chung
 

Có một hiện tượng mà không mấy ai trong chúng ta chưa từng trải qua. Ðó là hiện tượng một lần nào đó, chúng ta đứng trước một tác phẩm nghệ thuật và ngẫm nghĩ: Vậy rốt cục cái tranh (tượng, xếp đặt, trình diễn…) này nói lên điều gì? Cái gì thật sự là nội dung của nó?

Hiện tượng phổ biến này có lẽ được sinh ra từ quan niệm coi tác phẩm nghệ thuật như một cái hộp, trong đó đựng một thứ gì tên là nội dung. Ðây chính là hiện tượng Susan Sontag [2] từng đề cập:

“…Sự nhấn mạnh về nội dung như vậy, đến từ những kẻ sùng bái nghệ thuật thái quá, ắt phải đưa tới ước nguyện thường xuyên và không thể tránh, là sự cần có diễn giải. Và ngược lại, thói quen tìm đến với nghệ thuật với ý định diễn giải, đã khiến chúng ta nghĩ rằng nội dung là một cái gì đó có thật, và là yếu tố cốt lõi của nghệ thuật…” [3]



Sự diễn giải nội dung, theo Susan Sontag còn được sinh ra bởi :

“…sự hung hãn đối với văn bản và sự khinh thường cái sờ sờ trước mắt…”



“…Thậm chí, trong một vài bối cảnh, diễn giải có thể là hành vi phản động, xấc xược, đê hèn, bóp nghẹt…”

Một xu hướng chung của những người xem mang tâm thế diễn giải trước tác phẩm là xu hướng buộc họ tự bắt mình phải tìm ra được một dấu hiệu nào đó ngẫu nhiên hay chủ ý và thông qua đó, diễn giải tác phẩm theo ý họ. Như thế, vô hình chung, những công chúng ấy đã trở nên một dạng 007 – James Bond dùng kính lúp soi xét kỹ khắp các ngóc ngách tác phẩm để mong tìm ra được một chi tiết, một tín hiệu, một khóa mã và dùng nó để giải mã, tìm thấy một nội dung tưởng tượng nào đó.

Có nghĩa là đối với những người ham diễn giải thì tác phẩm (theo ý nghĩa có mang một nội dung) chính là một hệ thống tín hiệu có hai vế, vế bề mặt / biểu hiện (signifier), và vế nội dung / được biểu hiện (signified).(Tuy nhiên, chúng ta đều biết mối quan hệ võ đoán của hai vế này trong lý thuyết của Saussure. Và bởi vậy, thật sự ra, chẳng hề có một đường thông dẫn nào giữa hai vế biểu hiện và được biệu hiện trong mối quan hệ ấy – dẫn đến mọi nỗ lực để giải thích cái được biểu hiện thông qua cái biểu hiện là phi lý).

Trường hợp Kafka là một thí dụ điển hình, theo Sontag:

“…Tác phẩm của Kafka, chẳng hạn, đã bị cưỡng hiếp tập thể bởi ít nhất là ba đạo quân diễn giải. Những kẻ đọc Kafka như ẩn dụ xã hội nhìn thấy sự nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ về bức xúc và áp lực của chế độ bàn giấy đương đại, ắt phải đưa đến một Chính Quyền chuyên chế. Những kẻ đọc Kafka như ẩn dụ phân tâm học ngỡ thấy sự phơi bày tuyệt vọng về sự kinh hãi của Kafka đối với phụ thân, nỗi lo về sự bị thiến, cảm thức về sự bất lực tình dục và sự lệ thuộc vào những giấc mơ. Những kẻ đọc Kafka như ẩn dụ tôn giáo thì giải thích rằng nhân vật K. trong truyện Lâu đài muốn tìm phương tiện lên trời, và Joseph K. trong quyển Vụ án bị xét xử theo công lý bí ẩn và hà khắc của Ðấng Tối Cao…”



Vấn đề diễn giải càng trở nên không ổn khi chính nghệ sỹ lại là người quan niệm tác phẩm của anh ta rốt cục nên có một nội dung dành cho công chúng và bởi thế người nghệ sỹ đó ngầm thực hiện một siêu hợp đồng với vị siêu công chúng tưởng tượng nọ bằng cách gài lại trong tác phẩm một loạt chìa khóa (dễ mở) để cuối cùng “bóp méo” và “bần hoá ” (chữ của Sontag) tác phẩm của chính mình thông qua một cuộc siêu mua bán – hay nói khác hơn – thông qua sự tự ngắm nhìn (và diễn giải) chính mình bằng cặp mắt của kẻ khác.

Hướng ra phía ngoài tối đa trong khi cùng lúc lại lùi vào trong tối đa – hình tượng con rắn hai đầu cùng lúc muốn đi cả về cả hai hướng, và vì thế cứ bất động mãi tại chỗ trong một thế nước đôi – chính là một hình tượng đắc địa để diễn tả tình trạng này của người nghệ sỹ với cái hợp đồng siêu mua bán nói trên.

Ðể chống lại con cá mập háu đói mang tên diễn giải – cũng theo Susan Sontag “…nghệ thuật hiện đại đã tự vệ bằng cách trừu tượng hóa hoặc trở nên bình dân hóa (pop hoá )…” – trong trường hợp đầu tiên, nó cắt đứt mọi mối dây liên hệ và trong trường hợp thứ hai, nó giản đơn hóa một cách tuyệt đối mọi thứ phức tạp để trở nên trong suốt và vô hình trước con cá mập diễn giải.

Và như thế, nhiệm vụ một nghệ sỹ giờ đây chính là việc chọn một cách thể hiện sao cho có thể tự vệ được trước sự diễn giải nội dung, chứ không phải là việc cài đặt những tầng nghĩa được nén (zip) sẵn vào tác phẩm để phục vụ cho nhu cầu diễn giải nội dung của những vị “nouveau- smart”, hay tệ hơn thế, những vị “nouveau rich” (theo cách nói của Robert Stor).

Cuộc trưng bầy của Tiffany Chung tại mai’s Gallery, theo tôi, chính là một ví dụ rõ nhất để minh họa cho việc một nghệ sỹ đã chọn cách thứ hai (tự làm trong suốt) như thế nào, để chống lại con cá mập háu đói mang tên “diễn giải nội dung”.

Tác phẩm của Tiffany là một sắp đặt chung, trong đó chia làm 5 phần nhỏ:

  1. Sáu bức hình (ba trên, ba dưới – xếp ngược chiều nhau) của một cô gái quay lưng đang cẩn trọng đi trên một hàng xô nước lật úp
  2. Hai bức hình quay ngang đối diện vào nhau cũng chính cô gái đó đang lấy một túi xốp che mặt.
  3. Một bồn hoa nhiều mầu bằng plastic
  4. Một xe theo kiểu xe bán hủ tiếu với những hộp nhỏ chứa những viên plastic
  5. Những túi xốp để ngồi trên sàn nhiều mầu

Tác phẩm của Tiffany, như cô nói (trong một cuộc trò chuyện với tôi) diễn tả tâm trạng của cô về một đô thị tươi mát và về những giả thiết của cô cho cái đô thị ấy trong tương lai bởi tác động của sự hội nhập toàn cầu.

Chúng ta thấy gì ở đây?

Cái chúng ta thấy, trước hết là sự trong suốt giữa mục đích và việc làm của Tifany:

Ðầu tiên, ta hãy lướt sơ qua các tác phẩm.

Ở bức tường bên phải là ba bức hình một cô gái đang cẩn trọng đi trên một hàng xô nước lật úp, và ngay dưới nó là cũng ba bức hình ấy quay ngược trở lại, như cái bóng soi của ba bức hình trên.

Hình ảnh này, ngay lập tức (một cách trào phúng) đã làm tôi liên hệ tới một chiếc cầu khỉ bắc ngang con kinh và trên đó là một cô thôn nữ đang đi lấy nước.



Phải chăng, bức ảnh cô gái mặc áo may ô bước trên dẫy xô lật úp thể hiện chính cái tương lai của cô thôn nữ mặc bà ba trên chiếc cầu khỉ trong cách hiểu ngộ nghĩnh và hài hước hóa của Tiffany?


Một tác phẩm khác là chiếc xe hủ tiếu mầu mè với những viên plastic – phải chăng cũng chính là tương lai ngộ nghĩnh của ngành mì gõ, khi hủ tiếu (hay phở, hoành thánh v.v… ) được sản xuất viên hàng loạt?

Cũng như vườn hoa nhựa được trưng chính trong cái hồ nằm ở giữa của gallery – cái thứ hoa có thể mua hàng đống trong siêu thị – thứ hoa sẵn dành cho những nhu cầu đời sống vội vã của tương lai.

Sự gắn liền và trong suốt hóa một cách cố ý giữa mục đích của nghệ sỹ và tác phẩm chỉ bị chênh ra đôi chút (cũng một cách cố ý) bởi cái nhìn hài hước của nghệ sỹ trong cách cô đặt ra những cặp nhị phân đối lập giữa tương lai và quá khứ, giữa tưởng tượng và hiện thực, giữa những gì gọi là tác phẩm nghệ thuật với những gì từ cuộc sống thực tế. Những cặp nhị phân mà một vế ẩn luôn nằm trong khả năng liên tưởng của người xem với vế đang hiện diện – mà cái vế đang hiện diện ấy thì lại đã bị nghệ sỹ làm mờ đi đôi chút bằng lớp phấn mầu hài hước.

Sự hài hước này, theo tôi, được Tiffany làm nên bằng cách tự đặt góc nhìn của mình trùng vào góc nhìn của con trẻ và từ đó phóng chiếu cái nhìn trong veo vào thế giới. Và… lạ lùng sao! Một cách bất ngờ, thế giới cũ đã hiện lên, không còn như một tổng thể của những lý do nữa. Chính cái thế giới ấy giờ đây đã trở thành một tổng thể mới, gồm những đồ vật ngộ nghĩnh trong một không gian thơ ngây tiền diễn giải.

Cái nhìn hài hước này đã giữ cho tác phẩm của Tiffany một mối dây liên hệ với công chúng

(cái công chúng đến xem triển lãm với mục đích diễn giải nội dung nhưng đang thất vọng vì bị tước mất câu đố).

Tất cả các chất liệu mà Tiffany dùng trong triển lãm này: plastic, nhiếp ảnh… đều là những chất liệu dùng cho việc tái sản xuất hàng loạt và vô cá tính (chất liệu của một xã hội công nghiệp). Khác xa với những chất liệu mang trong mình khả năng thủ công, gìn giữ tính riêng và độc đáo (như sơn dầu, mây, tre, lá, nứa… chẳng hạn).

Mầu sắc mà Tifany dùng trong tác phẩm của cô cũng đã chính là cái sắc mầu trong suốt từ đời sống, chính xác hơn là cái mầu sắc “hơn hớn” bắt nguồn từ văn hóa số đông (mass culture), từ những gì Tiffany thấy, trải nghiệm và tưởng tượng về cái thành phố nơi cô chào đời.

Từ cách chọn chất liệu, lối dùng mầu sắc cho tới mục đích của tác phẩm – Tiffany đã cho thấy một nghệ sỹ có thể để cho tác phẩm của mình giảm sự trung gian xuống “độ không” như thế nào – để trực tiếp tới với công chúng, để tác phẩm mang ý nghĩa sử dụng chứ không còn mang ý nghĩa một huyền thư của Nostradamus chỉ dành cho ngành giải sấm ngữ.

Ta hãy trở lại ước muốn của Susan Sontag:

“…Ðiều tối cần bây giờ là tìm thấy lại giác quan. Chúng ta cần phải biết nhìn, biết nghe, biết cảm giác sâu đậm hơn…”



Vâng, và tôi nghĩ, điều Sontag ước muốn cũng chính là điều mà tác phẩm của Tiffany đề nghị với chúng ta. Như mọi nỗ lực nhằm tránh khỏi diễn giải của cô, theo tôi, cũng chỉ nhằm khuyến nghị chúng ta một điều: hãy buông xả mọi lý do, buông xả mọi câu hỏi, buông xả mọi cơn cớ và kinh nghiệm, để “tìm thấy lại giác quan, để biết nhìn , biết nghe và biết cảm giác sâu đậm hơn”.



Cũng có nghĩa: thay vì là một câu đố biệt lập, tác phẩm của Tiffany sẽ là nơi hạnh ngộ của chúng ta với chính chúng ta, thông qua việc hân thưởng trọn vẹn mọi khía cạnh mà bản thân tác phẩm đem lại.

Cái “chúng ta” mà chúng ta sẽ gặp ấy bao gồm cả Tiffany (không biết có phải chính là người con gái được chụp trong tác phẩm của cô hay không? Cái người con gái luôn quay lưng lại, giấu đi khuôn mặt của mình).

© 2003 talawas


[1]Tại mai’s Gallery, 16 Nguyễn Huệ, Thành phố Hồ Chí Minh, từ 15.10.2003 đến 05.11.2003
[2]“Chống diễn giải”, Susan Sontag, bản dịch của Nguyễn Ðăng Thường (www. talawas.org)
[3]Tất cả những chữ in nghiêng trong bài đều là của Susan Sontag (trích từ bản dịch nói trên của Nguyễn Ðăng Thường)

 
© talawas 2026