Trần Thuần
Qua bài viết của Trịnh Hữu Tuệ tôi được biết Cao Xuân Hạo có đưa ra một quy tắc, theo đó ‘trong một ngữ đoạn vị từ có bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ này chỉ có thể tách ra khỏi vị từ trung tâm bằng một trạng ngữ nếu nó là một danh ngữ được dánh dấu một cách hiển ngôn là không xác định’. Bạn đọc muốn biết thêm, xin vào trang Ngôn ngữ của talawas. Trong bài viết này tôi muốn trình bày một số ý kiến tản mạn về qui tắc của Cao Xuân Hạo, và ngôn ngữ học nói chung.
Hình như chưa có sự rạch ròi trong giới nghiên cứu ngôn ngữ nước ta về sự khác biệt giữa qui tắc/ qui luật mô tả (descriptive rule), và qui tắc/qui luật chuẩn định (prescriptive rule), cái trước là đối tượng tìm kiếm của ngôn ngữ học và cái sau là của các nhà sư phạm.
Qui tắc mà Cao Xuân Hạo đưa ra thuộc loại nào? Nếu theo ý kiến dưới đây của Trịnh Hữu Tuệ thì nó phải thuộc về các nhà sư phạm,
„Xin bạn đọc đừng cuống, thậm chí xin bạn đọc hãy bình tĩnh mà làm quen với cái “quy tắc” này, vì rất có thể con của bạn sẽ phải học 300 quy tắc như thế này, nếu ước mơ của giáo sư Cao Xuân Hạo trở thành sự thật và cuốn sách 300 quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt do Tiểu ban Tiếng Việt trong nhà trường thuộc Hội Ngôn ngữ học Thành phố Hồ Chí Minh đang soạn thảo được đưa vào nhà trường để dạy người Việt nói tiếng Việt cho đúng.“
Một qui tắc như thế xem ra không sư phạm chút nào, vừa khó nhớ vì phải dùng siêu ngôn ngữ, vừa không minh xác. Thế nào là đánh dấu một cách hiển ngôn là không xác định? Bàn luận về xác định và không xác định với học sinh thì cũng như dạy tài xế kết cấu máy thay vì dạy lái xe, thế mới gây ra tai nạn. Có thể tôi hiểu sai động cơ đưa ra qui tắc của Cao Xuân Hạo. Có thể cái qui tắc ấy và ba trăm qui tắc khác có vai trò như người gác cổng văn hóa, ngăn ngừa các sản phẩm kém phẩm chất, làm suy đồi chữ nghĩa. Về vai trò người gác cổng văn hóa thì tôi đồng ý không ai xứng đáng hơn Cao Xuân Hạo với những đóng góp to lớn của ông trong dịch thuật, ngôn ngữ học… Tuy nhiên, không có người gác cổng nào minh triết, bền bỉ hơn thường dân, cái khối đông đúc ồn ào ngoài kia; nếu cho họ một cơ chế lành mạnh để tạo tác và sử dụng văn hóa phẩm giúp người đọc và người viết tự lựa chọn nhau, thì cuối cùng qui luật sinh tồn sẽ quyết định ai đi ai ở: bóng tối phải lui dần trước ánh sáng.
Còn nếu hiểu theo ngôn ngữ học thì qui tắc này xem ra gần giống với hiện tượng được mô tả theo ngữ pháp tạo sinh là Heavy NP Shift. [1] Hiện tượng này được đề cập trong một qui tắc gọi là điều kiện cận kề (adjacency constraint), có thể trình bày tóm tắt như sau. Trong tiếng Anh, động từ và giới từ chuyển giao cách (Case) cho bổ ngữ (complement), với điều kiện không có ngữ tố (linguistic elements) nào chen giữa chúng. Xét các ví dụ tiếng Anh sau.
-
- Tân drinks beer everyday.
- *Tân drinks everyday beer.
- Tân drinks everyday one glass of beer.
- Tân introduced the doctor to the student.
- *Tân introduced to the student the doctor.
- Tân introduced to the student the doctor who has cured the US president.
Câu (1a,d) theo đúng ngữ pháp tiếng Anh về chuyển giao cách: không có ngữ tố nào chen giữa động từ và bổ ngữ. Câu (1b,e) sai ngữ pháp vì có ngữ tố chen giữa động từ và bổ ngữ trực tiếp: everyday, to the student. Nhưng câu (1c,f) với một bổ ngữ ‘nặng’, có nhiều ngữ tố bổ sung (one glass of beer, the doctor who has cured the US president), thì không cần theo điều kiện cận kề.
Nếu cứ dịch các câu trên sang tiếng Việt, thì ta cũng có kết quả tương tự, it́ ra theo phán xét của tôi và một số người khác. [2] Các câu (2b,e), sai ngữ pháp, có thể cũng vì lý do như các câu trong tiếng Anh.
-
- Tân uống bia mỗi ngày.
- %Tân uống mỗi ngày bia.
- Tân uống mỗi ngày một cốc bia.
- Tân giới thiệu ông ta cho anh sinh viên.
- %Tân giới thiệu cho anh sinh viên ông ta.
- Tân giới thiệu cho anh sinh viên ông bác sĩ đã điều trị cho Tổng thống Mỹ.
Nếu đem các câu tiếng Anh sai ngữ pháp nói trên hỏi người nói tiếng Anh vì sao sai, tôi tin chắc là họ chỉ cười xòa vì không trả lời được. Có lẽ Bộ Giáo dục Mỹ đã sai lầm khi không đưa cái ‘điều kiện cận kề’ này vào chương trình học. Họ còn sai hơn nữa vì không dạy ngữ pháp tiếng Anh cho học sinh. Môn English cấp trung học ở Mỹ theo chỗ tôi biết chỉ dạy đọc và viết, viết thật sự, không hô khẩu hiệu và nhái văn. Còn ở cấp đại học thì English có nghĩa là văn chương Anh-Mỹ, môn Nhập môn Ngôn ngữ học, Introduction to Linguistics, chỉ là môn nhiệm ý ở một số trường. Học sinh Việt nam ‘may mắn’ hơn nhiều. Họ được tiếp xúc khá nhiều với các khái niệm của ngôn ngữ học hiện đại, thuộc nằm lòng ngôn bản là gì, động từ ngữ vi ra sao, và vô vàn tên gọi khác. Họ cũng thuộc nằm lòng các bài văn mẫu được chọn lọc cẩn thận. Đáng tiếc là họ không được rèn luyện để viết, đọc thực sự, như một nhu cầu nội tại, để khám phá bản thân và chia sẻ̉ với mọi người xung quanh.
Trở lại với các ví dụ trên. Giả sử có người Việt nào đó không đồng ý với tôi về tính ngữ pháp của các câu vừa xét, nghĩa là họ xem chúng đúng sai không giống tôi. Đây là chuyện bình thường.Vậy thì ai đúng? Chomsky có lần nói đại loại khái niệm ngôn ngữ cũng giống như khái niệm quốc gia, trên trái đất này làm gì có ranh giới tự nhiên rạch ròi giữa các quốc gia, ranh giới ấy do con người vạch ra. Ngôn ngữ cũng thế, nếu ta xem ngôn ngữ là những gì có trong đầu một người nói thứ tiếng nào đó, còn tên gọi A hay A’ hay B là do các yếu tố khác ngoài ngôn ngữ qui định. Một ví dụ hay được trích dẫn là các phương ngữ tiếng Hoa: Xét về ngôn ngữ học, như tính có thể giao tiếp (communicability), chúng là những ngôn ngữ khác nhau, nhưng chính trị đã gọi chúng là những phương ngữ của tiếng Hoa. Theo lô gích này thì, chừng mực nào đó, trong đầu chúng ta có các tiếng Việt khác nhau, dù chỉ đôi chút, hay nói cách khác, tôi nói tiếng Việt một phẩy (V’), còn người có phán xét khác tôi nói tiếng Việt hai phẩy (V’’). Nếu đa số người Việt nói tiếng Việt của tôi thì họ sẽ tuân theo ‘điều kiện cận kề’ một cách vô thức, còn nếu họ nói tiếng Việt hai phẩy thì việc đưa ra một qui tắc như của Cao Xuân Hạo buộc họ tuân theo xem ra hơi phí thời gian, vì làm như thế cũng giống như nhà vật lý buộc ngọn lá phải rơi theo đúng qui luật rơi mình vừa tìm ra.
Nếu lý giải trên là đúng thì vai trò của sách vở ngữ pháp ở đâu? Chúng có nâng cao kiến thức ngôn ngữ của người bản ngữ không? Trong các ví dụ dưới đây, người Việt nào cũng nhận ra sự khác biệt mà không cần phải học sách giáo khoa dạy tiếng Việt.
-
- Tân rất thích Lan.
- Lan Tân rất thích.
- Tân chỉ thích Lan.
- Lan Tân chỉ thích.
Trong hai câu đầu, (3a) có thể xem là đồng nghĩa với (3b), cả hai đều nói về loại tình cảm và mức độ tình cảm của Tân đối với Lan, chỉ khác về chủ đề (topic): câu đầu là Tân và câu thứ hai là Lan. Nhưng tình hình ở hai câu sau hoàn toàn khác: câu (3c) mơ hồ vì có thể hiểu là Tân thích Lan chứ không ai khác, hay Tân thích chứ không yêu Lan. Trái lại, câu (3d) thì chỉ có một cách hiểu: Tân chỉ thích Lan chứ không có tình cảm nào khác: yêu, thương, phục… Chính kiến thức về tiếng Việt giúp người nói tiếng Việt phân biệt được sự khác nhau này. Mô tả cái kiến thức ấy là công việc của người nghiên cứu ngôn ngữ, qua đó kiến thức ngôn ngữ học được thành hình. Công việc ấy có thể thành, bại, hay chưa hoàn hảo, nhưng không hề ảnh hưởng đến sự phân biệt nói trên hay kiến thức về tiếng Việt, nói chung, của người Việt.
Vậy thì kiến thức ngôn ngữ học sẽ giúp gì cho người bản ngữ? Thử tưởng tượng hệ cơ của một lực sĩ và hệ cơ của một nhà nghiên cứu cơ thể người. Có lẽ là hệ cơ của chàng lực sĩ phát triển tốt, bền bỉ hơn cúa nhà nghiên cứu, còn kiến thức về hệ cơ của nhà nghiên cứu chắc chắn phong phú hơn chàng lực sĩ. Nhà ngôn ngữ học cũng không khác nhà nghiên cứu cơ thể kia mấy. Nếu nhà nghiên cứu muốn có bộ cơ săn chắc thì chịu khó rèn luyện cơ thể, và nhà ngôn ngữ học thì phải viết lách thường xuyên mới trau giồi được kỹ năng viết. Còn đóng góp của ngôn ngữ học? Xét cho cùng, tương tự như nhà nghiên cứu cơ thể người, mà tầm quan trọng tùy thuộc vào trình độ y khoa nơi người ấy hoạt động, mức độ đóng góp của nhà ngôn ngữ học tương ứng với trình độ ứng dụng của các ngành liên quan khác trong đất nước nhà ngôn ngữ ấy phục vụ.
© 2004 talawas
[1]Xem Chomsky (1982), Lectures on Government and Binding, Edward Williams (1987) Introduction to Theory of Grammar. Ngữ pháp chức năng cũng có nêu hiện tượng này; rất tiếc là hiện tại tôi không nhớ nguồn xuất xứ.
[2]Tôi dùng ký hiệu % với ý nghĩa có người không cùng phán xét như tôi về tính ngữ pháp của các câu trên.