Tôn Thất Luyện
Tôi thật sự nổi giận khi đọc bài viết hôm nay (4/3) của Lê Thạch Linh. Đã nhiều độc giả kêu ca về phong cách của kẻ này. Hãy nghe Hoàng Xuân Lãm viết: “Tại sao ban biên tập lại cho vào mục Tranh Luận những giọng nói phản tranh luận, như Lê Thạch Linh chẳng hạn (điều này nhiều độc giả cũng đã phàn nàn). Tôi sợ rằng những giọng nói “bên lề” này (mang phong cách hề chèo, xí xoá hoà cả làng) đã làm nản chí một số người muốn tham gia tranh luận một cách nghiêm túc” (Thư độc giả 01.03.2003).
Trong bài viết mới này, Lê Thạch Linh lại tiếp tục ngô ngọng, lẻm bẻm chỉ trích vô căn cứ nhiều tác giả. Mà ông ta ngọng thật cơ, ngọng líu ngọng lô. Trong phần XI, ông ta viết 3 tên tác giả Pháp (Edmon Harocour, Felix D’Arvert, Charles Dorleant), thì không ai hiểu ba ông này là ai. Ai cũng biết là chỉ có Félix Arvers, Charles d’Orléans. Còn Edmon Harocour thì Lê Thạch Linh ngọng quá, nên tôi chịu không đoán ra là ai. Khi Lê Thạch Linh chép câu thơ “N’osant rien demandé…”, thì cũng lại sai ngữ pháp.
Ông ta lại đem tên của Đoàn Cầm Thi ra mà giễu thật là tồi tệ. Bà Đoàn Cầm Thi đã cảnh báo trong nhiều bài viết về tính công/tư trong phê bình văn học: những gì liên quan đến lĩnh vực riêng tư của tác giả khác, người làm phê bình phải tuyệt đối tránh. Ông Nguyễn Hoàng Sơn bảo ông Nguyễn Thanh Sơn làm cho công ty nuôi bò của Mỹ, rồi kết tội ông này là “trưởng giả mới”, đó là một phong cách tiểu nhân. Ông Phạm Xuân Nguyên đem tên ông Nguyễn Hoàng Sơn ra cười cợt, thì vừa tiểu nhân vừa nhạt phèo. Các cụ gọi là “mauvais goût”! Trong chuyện này, bà Đoàn Cầm Thi có lý. Nên cảnh giác với thói quen này. Nó khác hẳn với hai thí dụ Lê Thạch Linh nêu ra: Túc Vinh và Tạm Thương là tên các địa điểm, việc giễu chúng không làm tổn thương đến cá nhân ai cả. Kế nữa, trong các bài viết của mình, khi nói đến một số nhà văn trẻ, bà Đoàn Cầm Thi nêu rõ tên họ. Đó là tính bà ta ưa chính xác, không thích nói mò, kiểu Thuỵ Khuê: “có nhiều” nhà văn trong nước bắt chước Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp. Nói như bà Thuỵ Khuê là nói nước đôi, để đến khi Nam Dao kể ra tên một vài tác giả rồi phê bình bà ta: “tôi có thấy họ đi bắt chước ai đâu?”, Phạm Xuân Nguyên có quyền bảo vệ: “tiếng Việt nói “có nhiều” không phải là tất cả”.
Mà sao Thuỵ Khuê và Phạm Xuân Nguyên, sau khi sổi nổi cao ngạo, lại đột nhiên im lặng đến vậy? Có thể đó là “im lặng của bầy cừu”? Thử nghe PXN trước đó nói nhé: “…diễn tả được một cách chính xác và đau đớn tình trạng của nhà văn và văn học Việt Nam”, “…tìm một giải pháp đưa văn học Việt Nam thoát khỏi tình trạng làng nhàng”, “Hội chứng Babylone, Trần Vũ đặt ra, và Thụy Khuê tiếp cận, đã vẫn là vấn đề nhức nhối. Tôi mong sẽ có một dịp khác trở lại” (Hội chứng Babylone), hay “ôi viết bài này trong một cảm giác buồn. Buồn vì một lối phê bình cũ kỹ, thô thiển vẫn còn dai dẳng sống” (Núi vàng núi xanh), hay “Tạm biệt chị (một dịch giả Nhật Bản) tôi vấn vương một nỗi buồn (…) lẽ nào chúng ta không có một cử chỉ gì để tỏ lòng biết ơn chị” (Dịch giả văn học Việt Nam “không lương”). Phải nói PXN có khả năng diễn kịch, nhất là bi kịch. Chỗ nào cũng thấy ông ta mang tâm trạng của mình ra bầy, tuyên bố rứt khoát là chỉ có mình ông ta mới đớn đau khổ sở, mới có tấm lòng với văn học nước nhà. Nhất là từ khi xuất ngoại, thì ôi thôi ông ta không kìm được nữa ! Ông gọi hẳn đầu đề của một bài viết: “Văn học Việt Nam: nỗi buồn tiểu thuyết”.
Rồi trong một bài về Trần Dần, trong lòng đầy “tâm trạng”, Phạm Xuân Nguyên kết: “Và như thế tôi đã được catharsis một lần để dẫu cách một ô vuông kính gặp ông bình tâm nói với ông: Tôi học nơi ông một cách Sống / Tôi sống nơi ông một dòng Thơ / Tôi thờ nơi ông một Con Người (Lời ghi sổ tang). Hà Nội, ngày giỗ đầu Trần Dần”. Điều kinh hoàng nữa là trong bài về Tố Hữu, ông ta cũng nặng lòng với nhà thơ của Lãnh tụ lắm, lời bình cứ rưng rưng nước mắt. Chẳng thế mà talawas đã đăng lại bài này nhân dịp Tố Hữu qua đời! Ghê thật: lúc viết về Trần Dần thì ký tên Xuân Nguyên, lúc viết về Tố Hữu lại ký tên Ngân Xuyên! Về tính hai mặt của PXN, đã có những phản ứng dữ dội. Ví dụ Nguyễn Trung viết: “Bây giờ tôi mới biết ông Phạm Xuân Nguyên chính là Ngân Xuyên. Quả là bậy thật, vì ông ta “ăn lương hai mang”. Trước khi đăng bài làm ra vẻ quí trọng Trần Dần, ông ta cũng có một bài tỏ lòng mến yêu Tố Hữu. Người Pháp hay nói ai đó “mange à tous les rateliers” (tức là “máng nào cũng xơi”), ứng cho ông Nguyên quả là hợp. Tôi cũng nghĩ: có lẽ vì cần tiền mà ông Nguyên làm thế chăng? Mỗi bài báo, nhất là báo Xuân, được trả khá tiền lắm, có thể làm một chầu nhậu đẹp. Tôi bắt đầu ngờ việc ông Phạm Xuân Nguyên khăng khăng bảo vệ Thụy Khuê trong khi nhà phê bình này có những lỗi sai rành rành. Phải chăng vì một lý do nào khác?” (Gởi ban tổ chức Talawas, 04/03/2003).
Ấy vậy mà Lê Thạch Linh lai muốn bào chữa cho Phạm Xuân Nguyên. Chắc là “ngưu tầm ngưu mã tầm mã”! Lê Thạch Linh không phải là một người có tư cách. Nếu đàng hoàng, ông ta chẳng phải xưng “mình” (khi dám trực diện độc giả, không ai ăn nói như vậy), và cũng chẳng phải chơi trò đánh trận giả giúp ông Phạm Xuân Nguyên. Mà Phạm Xuân Nguyên chắc cũng chẳng tự hào về ông luật sư này lắm đâu.
Tôi cũng nghĩ là ban biên tập talawas nên thận trọng hơn với những bài viết của Lê Thạch Linh. Việc ông ta đem ban chủ trương Tiền Vệ ra chế giễu, tôi e rằng sẽ gây những hiểu nhầm (không nên có) giữa talawas và Tiền Vệ. Càng đáng tiếc hơn, khi thực sự hai bên rất tôn trọng nhau, cứ qua việc talawas quảng cáo cho Tiền Vệ, rồi một số tác giả chủ chốt của Tiền Vệ tiếp tục viết trên talawas thì biết!
Luân Đôn – 04.03.2003
© 2003 talawas