Trong bài Câu chuyện dịch “Mỹ học” của Hegel (Trả lời bài Sấm Hegel của Phạm Thị Hoài), Phan Ngọc (PN) đã tránh né những vấn đề cốt yếu được Phạm Thị Hoài (PTH) đưa ra, mà thay vào đó, bằng hình thức ngụy biện, ông đã kéo người đọc ra khỏi quỹ đạo của cuộc tranh luận. Tôi viết bài này nhằm chỉ ra những hình thức ngụy biện mà Phan Ngọc, vô thức hoặc ý thức, đã mắc phải. 1
Thứ nhất, bằng việc phản chứng sai lệch trọng tâm vấn đề, PN đã sa vào thủ thuật ngụy biện vô can (the fallacy of irrelevance). Vấn đề chính được PTH đưa ra là những điểm chưa thỏa đáng về nội dung của bản dịch Mỹ học, nhưng Phan Ngọc không chú tâm vào đó, mà ông hướng vào “thái độ” của PTH. Ông viết: “Cái khó ở đây không phải là nội dung của câu chuyện mà ở thái độ: nói thế nào để không mang tiếng là người “hộ đoản” – thuật ngữ Trung Quốc chỉ người khăng khăng bảo vệ sai lầm của mình”. Bằng cách đó, Phan Ngọc muốn gián tiếp phản bác những quan điểm mà PTH đưa ra. Hình thức ngụy biện này rất dễ gây ngộ nhận, vì chỉ bằng một ví dụ về “tha hóa”, PN đã khỏa lấp vấn đề, khiến người đọc bị kéo lệch ra khỏi trục tranh luận.
Thứ hai, Phan Ngọc đã sử dụng thủ thuật ngụy biện trần tình (argumentum ad misericordiam). Thay vì bảo vệ bản dịch Mỹ học bằng giá trị của chính nó, ông muốn né tránh vấn đề bằng cách đưa ra những lời khơi dậy sự xúc cảm thuần túy. Phan Ngọc viết: “Tôi sống nhỏ bé, không nói năng ồn ào, cố gắng làm một vài việc nhỏ dù vất vả, bản dịch “Mỹ học” của Hegel chính là một trong vài việc nhỏ đó”. Vâng, dù người dịch sống thầm lặng hay ồn ào, dù công việc dịch là vất vả hay nhẹ nhàng, dù là “nhỏ” hay “lớn”, thì có liên quan gì đến chất lượng bản dịch?
Thứ ba, Phan Ngọc đã sử dụng thủ thuật ngụy biện biệt danh (argumentum ad verecundiam). Dạng ngụy biện này đánh đồng uy tín với bằng chứng cụ thể: tìm kiếm sự hỗ trợ cho quan điểm của mình bằng cách liên kết nó với cá nhân của những người được xem là có uy tín. Phan Ngọc viết: “Trong bản dịch “Mỹ học” của Hegel, tôi dịch thuật ngữ Entfremdung (tiếng Pháp là alíénation) thành “tha hoá”. Cách dịch này không phải của tôi. Nếu chị Hoài tham khảo kỹ hơn, chị sẽ thấy các anh Trương Tửu, Trần Ðức Thảo nói chung đều dùng thuật ngữ này”. Ở đoạn khác, ông viết: “Việc hiểu Hegel cho đúng quả là rất vất vả và phải có chân truyền, nếu không chỉ cãi lộn nhau mãi mà thôi. Tôi đã học Hegel với anh Trần Ðức Thảo”. Rõ ràng, đây không phải là cách phản biện logic cho những điểm chưa thỏa đáng trong bản dịch Mỹ học mà PTH đã chỉ ra. Đành rằng, Trương Tửu và Trần Đức Thảo là những cá nhân được nhiều người công nhận là có “nghề”, và ý kiến của hai ông rất đáng để ta trân trọng và suy ngẫm, song hiển nhiên, chúng không nhất thiết phải là chân lý.
Thứ tư, Phan Ngọc đã sử dụng thủ thuật ngụy biện áp chế (argumentum ad baculum). Đây là một hình thức ngụy biện khá phổ biến, và khi nói đến, tôi xin bỏ qua khía cạnh nhạy cảm. Nói chính xác, đó là cách viện dẫn quyền lực, – thẳng thừng hoặc bóng gió, ý thức hoặc vô thức -, để “áp chế” đối phương. 2 Phan Ngọc viết: “Tôi biết chị muốn dạy ngôn ngữ học tiếng Việt cho tôi. Nhưng làm sao có thể “tha hoá” tiếng Việt theo kiểu của chị được?”. Ở đoạn khác, ông viết: “Tôi không hề giận chị Hoài về cách nói. Ðời tôi đã phải chấp nhận những lời phê bình như thế suốt hơn 20 năm, cho nên tôi đã quen”. Bằng cách này, Phan Ngọc muốn đưa người tranh luận với mình vào thế yếu. Rõ ràng, việc PTH hiểu “tha hóa” thế nào không liên quan gì đến việc bà muốn “dạy tiếng Việt” cho PN hay không. Và việc PN “phải chấp nhận những lời phê bình như thế suốt hơn 20 năm” không có nghĩa là bản dịch Mỹ học là một bản dịch hoàn hảo.
Thứ năm, Phan Ngọc đã sử dụng hình thức ngụy biện xúc xiểm (argumentation ad hominem). Thay vì bàn vào trọng tâm vấn đề, ông đã quay sang công kích cá nhân. Ông viết: “Tôi không tranh luận với chị được còn vì hiểu biết Hán học của chị không giống ai và chị là người đầu tiên (theo tôi biết?) đã cho rằng chỉ cần biết tiếng Ðức thông thường là hiểu được Hegel”. Hình thức ngụy biện này, rất đáng tiếc, vẫn thường được sử dụng, nhất là ở các cuộc tranh luận chính trị. Tuy nhiên trong học thuật, nó xa lạ. Chẳng khác nào thay vì chỉ ra điểm không thỏa đáng trong lập luận của đối phương, tôi lại nói rằng, tôi không tranh luận với anh, vì anh ngu.
Thứ sáu, Phan Ngọc đã sa vào hình thức ngụy biện kích động (argumentation ad populum). Ông viết: “Tôi nấn ná không trả lời ngay, một là vì bận nhiều, hai là vì bạn bè còn bảo tôi không nên trả lời”. Ở đây, PN đã đưa ra ý kiến của “bạn bè”, tức là của một “nhóm quần chúng” nào đó, để biện hộ cho việc làm của ông, nhằm tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng, ngoài việc khỏa lấp vấn đề, nó không có nội dung gì cả.
Trên đây là sáu hình thức ngụy biện mà Phan Ngọc đã mắc phải. Đây cũng là sáu trong bảy hình thức ngụy biện lộng thuyết phổ biến, được William S. Sahakan và Mabel L. Sahakan trình bày trong phần Lộng thuyết (fallacies of irrelevant evidence) của tác phẩm Ideas of Great Philosophers. 3
Cuối cùng, để kết thúc bài này, tôi xin được sử dụng một trong những hình thức ngụy biện ở trên – ngụy biện trần tình – để “giãi bày” hai điểm sau: 4
1. Bài viết này chỉ có mục đích chỉ ra những cách ngụy biện mà PN đã mắc phải (dù vô tình hay cố ý, ý thức hay vô thức) trong bài Câu chuyện dịch “Mỹ học” của Hegel. Nó tuyệt đối KHÔNG có ý khái quát hóa bất kỳ điều gì về phong cách luận lý Phan Ngọc nói chung.
2. Bài viết này KHÔNG có mục đích bênh vực hoặc phản bác các quan điểm của PTH trong bài Sấm Hegel.
Hà Nội, 10.02
____________
Chú thích
| 1) |
Các hình thức ngụy biện được đề cập đến trong bài này có thể được tìm thấy trong cuốn Ideas of the Great Philosophers của William S. Sahakian và Mabel L. Sahakian, Barnes & Noble Books, December 1993. Bản dịch tiếng Việt của Lâm Thiện Thanh và Lâm Duy Chân, nhà xuất bản TP HCM, 2001: Tư tưởng của các triết gia vĩ đại. |
| 2) |
Người sử dụng thủ thuật ngụy biện áp chế không nhất thiết phải có “quyền lực” hơn đối phương theo nghĩa đen. Mà bất kỳ hình thức nào buộc đối phương vào thế “yếu” đều được quy về ngụy biện áp chế. Ví dụ, một người trẻ tuổi, thay vì dùng luận lý để đánh đổ quan điểm của một người khác lớn tuổi hơn, anh ta lại nói: tôi biết rằng tôi còn trẻ, không xứng đáng với tầm của ông, nhưng ông già cả mà nói thế, tôi cứ thấy thế nào ấy. Đây cũng là một cách đặt đối phương vào thế “yếu” hơn để lảng tránh vấn đề, vì thế nó cũng được quy về ngụy biện áp chế. |
| 3) |
Hình thức ngụy biện thứ 7 được hai tác giả Sahakian trình bày trong phần Lộng thuyết là ngụy biện bất trí, hay bất trí luận (argumentum ad ignorantiam). Một trong những điểm nổi bật của hình thức này là người sử dụng nó cho rằng điều có khả năng đúng là thực sự đúng, hoặc cho rằng một luận đề được coi là đúng bởi vì không ai chứng minh được nó là sai. Ví dụ, luận đề “sở dĩ có người ngoài trái đất, vì chúng ta không ai chứng minh được không có người ngoài trái đất” được coi là một luận đề ngụy biện bất trí. |
| 4) |
Một số luận lý gia cho rằng, đôi khi người ta được phép sử dụng hình thức trần tình luận như một cách lập luận hợp lý, nhưng không phải để né tránh hoặc khỏa lấp vấn đề cốt yếu, mà để làm rõ hơn những điểm có thể gây hiểu lầm do tính nhạy cảm của sự kiện, hoặc do định kiến về đạo đức, chính trị, tôn giáo. Trong một số trường hợp, luật sư bào chữa cũng được phép sử dụng hình thức lập luận trần tình để kêu gọi sự cảm thông cho bị cáo trước tòa án. |
© Talawas 2002
Thảo Hảo: Tôi nghi ngờ ông Heghen!
Hoặc Ngữ: Vài suy nghĩ về bản dịch bộ Mĩ học-Hegel của Phan Ngọc
Phạm Thị Hoài: Sấm Hegel
Phan Ngọc: Câu chuyện dịch “Mỹ học” của Hegel(Trả lời chị Phạm Thị Hoài)
Phạm Việt Vinh: Vài ý kiến nhận xét thư trả lời Phạm Thị Hoài của Phan Ngọc