Eric Hobsbawn
Thế kỷ hai mươi là thế kỷ mà con người bị sát hại nhiều nhất trong lịch sử. Tổng số tử vong gây ra bởi hoặc liên quan tới chiến tranh được ước lượng khoảng 187 triệu, tương đương với khoảng hơn 10% dân số thế giới vào năm 1913. Được xem như bắt đầu từ năm 1914, nó là một thế kỷ mà chiến tranh hầu như không bị gián đoạn với một ít thời kỳ ngắn ngủi không có những xung đột vũ trang có tổ chức ở một vài nơi trên thế giới. Nó bị các cuộc thế chiến chế ngự, nói cách khác, là bằng những cuộc chiến giữa những lãnh thổ quốc gia hoặc những liên minh quốc gia.
Thời kỳ từ 1914 tới 1945 được xem như là “cuộc chiến ba mươi năm”, chỉ gián đoạn do sự tạm ngưng vào thập niên 1920 – khoảng giữa cuộc triệt thoái cuối cùng của quân đội Nhật khỏi vùng viễn đông Sô Viết năm 1922 và cuộc tấn công vào Mãn Châu năm 1931. Nó được tiếp theo ngay sau đó bằng cuộc chiến tranh lạnh khoảng bốn mươi năm, ta gọi là cuộc chiến bởi nó phù hợp với định nghĩa của Hobbes về chiến tranh là bao gồm “không chỉ ở nơi trận địa hay một hành động giao chiến nhưng ở trong khoảng thời gian mà ý chí tranh chấp của cuộc chiến được công nhận một cách đầy đủ”. Những hành động quân sự của Hoa Kỳ từ sau chiến tranh lạnh có dính líu ít nhiều tới những vùng đất khác nhau trên địa cầu làm cho kỷ nguyên chiến tranh thế giới bị kéo dài thêm ra còn là vấn đề tranh luận. Dù sao ta cũng không còn hồ nghi là thập niên 1990 đầy rẫy những xung đột quân sự chính thức và không chính thức ở Âu châu, Phi châu, Tây Á và Trung Á. Toàn thể thế giới từ 1914 chưa hề có hoà bình và hiện tại nó cũng không có hoà bình.
Tuy nhiên, thế kỷ này không thể xem như là một khối riêng lẻ, theo thứ tự thời gian hoặc về phương diện địa lý. Theo thứ tự thời gian, nó rơi vào trong ba thời kỳ: thời kỳ thế chiến mà trung tâm là nước Đức (1914-1945), thời kỳ đối đầu của hai siêu cường (1945-1989) và thời kỳ từ lúc hệ thống quyền lực quốc tế cổ điển chấm dứt. Tôi muốn gọi đó là những thời kỳ I, II và III. Về phương diện địa lý, ảnh hưởng của những hoạt động quân sự hết sức không cân bằng. Với một ngoại lệ là cuộc chiến Chaco (1932-35), không có những cuộc chiến liên quốc đáng kể nào (khác với những cuộc nội chiến) ở vùng phía tây bán cầu (những quốc gia châu Mỹ) trong thế kỷ hai mươi. Những hoạt động quân sự của kẻ địch mới hơi chạm vào lãnh thổ này: kể từ vụ đột kích 11-9 ở Trung tâm Mậu dịch Thế giới và Ngũ giác đài.
Từ 1945, những cuộc chiến liên quốc cũng đã biến mất ở Âu châu nơi mà trước đó thường là những chiến trường chính. Nhưng dù sao, ở thời kỳ III, chiến tranh lại trở về vùng đông nam Âu châu. Ở những vùng còn lại của lục địa, rất có thể chiến tranh sẽ không tái diễn. Mặt khác, trong thời kỳ II với những cuộc chiến liên quốc, không nhất thiết là không có quan hệ với những thế lực đối chọi trên toàn cầu, chiến tranh vẫn chỉ có tính cách địa phương như ở Trung đông và nam Á, và những cuộc chiến lớn trực tiếp nảy sinh từ những thế lực đối chọi trên toàn cầu đã xảy ra ở vùng đông và đông nam Á (Đại hàn, Đông dương). Cùng lúc ấy, những khu vực như Phi châu thuộc vùng phụ cận Sahara, nơi được xem như không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh vào thời kỳ I (ngoại trừ Ethiopia, đối tượng muộn màng của làn sóng xâm chiếm thuộc địa bởi Ý vào những năm 1935-36), bước lên sân khấu của những xung đột vũ trang vào thời kỳ II và chứng kiến những màn chính của cảnh tàn sát và tổn thất thuộc thời kỳ III.
Hai đặc tính khác nổi bật của chiến tranh ở thế kỷ 20, mà đặc tính thứ nhất không được rõ nét bằng đặc tính thứ hai. Vào lúc khởi đầu của thế kỷ 21, chúng ta tự thấy mình đang sống trong một thế giới mà những hoạt động quân sự cơ bản không còn nằm trong vòng kiểm soát của chính phủ hoặc những đại diện có thẩm quyền, mà ở những tổ chức đấu tranh không có những đặc tính, pháp lệnh và mục tiêu chung nào, ngoại trừ việc sẵn sàng dùng bạo lực.
Những cuộc chiến liên quốc đã bao trùm hình ảnh về chiến tranh khá nhiều trong thời kỳ I và II mà những cuộc nội chiến hoặc những xung đột vũ trang khác ở trong lãnh thổ của những quốc gia và những đế quốc lúc đó có phần bị lu mờ. Kể cả những cuộc nội chiến trong lãnh thổ của đế quốc Nga sô sau Cách mạng tháng Mười và những cuộc nội chiến xảy ra sau sự sụp đổ của đế quốc Trung hoa cũng có thể được lắp vào trong cái khung của những xung đột quốc tế, hơn nữa những sự kiện đó không thể tách rời được. Mặt khác, châu Mỹ Latin có thể chưa chứng kiến những đoàn quân vượt biên giới quốc gia trong thế kỷ 20, nhưng nó đã là đấu trường của những xung đột nội bộ nghiêm trọng như: ở Mexico sau 1911 trong một thời gian ngắn, ở Colombia từ 1948, và ở những quốc gia vùng trung Mỹ khác trong thời kỳ II. Người ta chưa chịu công nhận một cách đại khái là con số của những cuộc chiến quốc tế đã suy giảm một cách khá liên tục từ giữa thập niên 1960 khi mà những cuộc xung đột quốc nội trở nên thông thường hơn là những cuộc giao tranh giữa những quốc gia. Con số của những cuộc xung đột ở bên trong vùng biên giới quốc gia tiếp tục dâng cao cho tới khi nó được cân bằng vào thập niên 1990.
Càng ngày sự khác biệt giữa những nước tham chiến và không tham chiến càng khó phân biệt. Hai trận thế chiến của nửa đầu thế kỷ 20 đã lôi kéo toàn thể dân số của những nước tham chiến và cả hai phía tham chiến và không tham chiến đều chịu tổn thất. Trong quá trình diễn tiến của thế kỷ ấy, dù sao cái gánh nặng chiến tranh đã chuyển dần từ những lực lượng vũ trang qua thường dân, họ không chỉ là nạn nhân mà càng ngày càng trở thành mục tiêu của những hoạt động quân sự hay chính trị. Sự tương phản giữa đệ nhất và đệ nhị thế chiến thật là sâu sắc: đệ nhất thế chiến, chỉ có 5% số tử vong là thường dân; đệ nhị thế chiến, con số ấy đã tăng lên 66%. Hiện nay con số tử vong do chiến tranh gây ra được ước lượng khoảng 80 tới 90% là thường dân. Cái tỷ lệ đó được tăng lên từ khi chiến tranh lạnh kết thúc bởi phần lớn những hoạt động quân sự được điều khiển không do những đoàn quân động viên quy mô, mà do những bộ phận nhỏ của những phân đội chính quy và không chính quy, trong nhiều trường hợp được hỗ trợ và bảo vệ bởi những loại vũ khí tối tân để tránh những tổn thất. Ta không có lý do gì để còn nghi ngờ là những nạn nhân của chiến tranh sẽ tiếp tục là những thường dân.
Viết về chiến tranh và hoà bình của thế kỷ hai mươi sẽ dễ dàng hơn nếu giả sử ý nghĩa khác biệt giữa hai từ ngữ đó được giải thích một cách rõ ràng như hồi đầu thế kỷ khi mà những hiệp định Hague vào năm 1899 và 1907 hệ thống hoá những quy luật về chiến tranh. Những xung đột được giả thiết chủ yếu xảy ra giữa những quốc gia có chủ quyền, hoặc nếu xảy ra bên trong lãnh thổ của một quốc qua đặc biệt nào giữa những đảng phái có tổ chức đầy đủ, phù hợp với tình huống tham chiến của những quốc gia có chủ quyền khác. Chiến tranh cần được phân biệt rõ ràng với hoà bình, bằng một sự tuyên chiến ở một đầu và một hoà ước ở đầu kia. Những hoạt động quân sự cần được phân biệt rõ ràng giữa những kẻ tham chiến – được đánh dấu như bằng quân phục hoặc quân hiệu thuộc về một lực lượng quân sự có tổ chức – và những thường dân không tham chiến. Chiến tranh được giả thiết là giữa những kẻ tham chiến. Những ai không tham chiến cần phải được bảo vệ tối đa trong thời gian chiến tranh.
Điều luôn luôn được hiểu là những hiệp ước đó không bao gồm tất cả những cuộc xung đột vũ trang quốc tế và quốc nội, đáng ghi nhận là không gồm những vụ xung đột phát sinh do sự bành trướng có tính cách đế quốc của những quốc gia tây phương trong những vùng không nằm dưới phạm vi pháp quyền của những quốc gia có chủ quyền được quốc tế công nhận, mặc dù một vài (nhưng không phải tất cả) những vụ xung đột đó được xem như là “chiến tranh”. Chúng cũng không bao gồm những cuộc nổi dậy quy mô chống lại những quốc gia đã được thành lập, chẳng hạn những cuộc nổi dậy của dân tộc Ấn; cũng không gồm những hoạt động vũ trang thường diễn ra trong những vùng vượt ngoài sự kiểm soát của những quốc gia hoặc những đế quyền, chẳng hạn những vụ tấn công và thâm thù truyền kiếp trong vùng đồi núi thuộc Afghanistan hay Marocco. Tuy thế, hai hiệp ước Hague vẫn được dùng như là nguyên tắc chỉ đạo trong thế chiến thứ nhất. Trong quá trình của thế kỷ 20, những quy luật về chiến tranh tương đối rõ ràng này đã bị thay thế bằng sự hỗn loạn.
Trước hết, cái đường ranh giữa những vụ xung đột liên quốc và những vụ xung đột bên trong những quốc gia – nghĩa là giữa những cuộc chiến quốc tế và nội chiến – trở nên mơ hồ bởi cái tính cách đặc trưng của thế kỷ hai mươi không chỉ là một thế kỷ của chiến tranh mà còn là một thế kỷ của những cuộc cách mạng và sự tan rã của những đế quốc. Những cuộc cách mạng hay những cuộc đấu tranh giải phóng bên trong một quốc gia có liên quan tới bình diện thế giới, đặc biệt trong thời chiến tranh lạnh. Ngược lại, sau cuộc cách mạng ở Nga sô, sự can thiệp của những quốc gia vào nội bộ của những quốc gia khác khiến cho họ phản đối đã trở nên thông thường, ít nhất là ở những quốc gia tương đối ít rủi ro. Những trường hợp như thế vẫn còn xảy ra ngày hôm nay.
Thứ đến, sự biện biệt giữa chiến tranh và hoà bình trở nên mơ hồ. Không kể đây đó, thế chiến thứ hai không bắt đầu bằng sự tuyên chiến cũng không kết thúc bằng những hiệp ước hoà bình. Tiếp theo sau là một thời kỳ thật khó mà phân loại nó thuộc về thời chiến hay bình theo nghĩa cũ mà người ta phải tạo ra một từ mới là “chiến tranh lạnh” để miêu tả nó. Tính tranh tối tranh sáng nói chung của tình thế này kể từ thời chiến tranh lạnh được minh hoạ qua tình trạng hiện nay ở Trung Đông. Cả hai từ “hoà bình” hay “chiến tranh” đều không miêu tả chính xác được tình trạng ở Iraq từ khi chiến tranh vùng Vịnh chính thức kết thúc – quốc gia này vẫn bị dội bom hầu như mỗi ngày bởi những thế lực nước ngoài – hay những liên hệ giữa Palestine và Israel, hay giữa Israel và những quốc gia láng giềng như Lebanon và Syria. Tất cả đấy là di sản không may của những cuộc chiến thế giới ở thế kỷ 20, nhưng cũng còn là của bộ máy tuyên truyền quy mô của chiến tranh mỗi ngày một hùng mạnh và của một thời kỳ đương đầu giữa những ý hệ xung khắc và đầy cuồng nhiệt, vốn đã được đem vào chiến tranh như một yếu tố vận động lớn có thể sánh với những vụ xung đột tôn giáo thời quá khứ.
Những vụ xung đột này, không giống như những cuộc chiến truyền thống của hệ thống quyền lực quốc tế, càng ngày càng được tiến hành cho những mục đích không thể thương lượng như “đầu hàng vô điều kiện”. Từ khi người ta xem chiến tranh và chiến thắng như là điều tuyệt đối, bất kỳ giới hạn nào nhằm vào khả năng chiến thắng của kẻ tham chiến đã được ấn định bởi những hiệp ước được chấp thuận về chiến tranh ở thế kỷ 18 và 19 – kể cả những tuyên chiến chính thức – đã bị bác bỏ. Kể cả bất kỳ giới hạn nào áp đặt lên thứ quyền uy như để xác nhận ý chí của những kẻ chiến thắng. Kinh nghiệm cho ta thấy những thoả thuận đạt được trong những cuộc hoà đàm cũng có thể bị xé bỏ dễ dàng.
Những năm gần đây tình hình trở nên phức tạp hơn vì có xu hướng trong quần chúng đã khoa trương danh từ “chiến tranh” dùng để ám chỉ những lực lượng có tổ chức dùng quân sự để chống lại những hoạt động có tính cách quốc gia hoặc quốc tế khác nhau được xem như phản xã hội, thí dụ như “chiến tranh chống Mafia” hoặc “chiến tranh chống những tổ chức buôn lậu ma tuý”. Trong những vụ xung đột đó, hành động của hai loại lực lượng vũ trang thường bị lẫn lộn. Một loại – hãy gọi họ là “binh lính” – được chỉ đạo chống lại những lực lượng vũ trang khác với mục đích là tiêu diệt đối phương. Loại kia – gọi là “cảnh sát” – được đặt định để duy trì hay tái lập luật lệ ở mức độ cần thiết và trật tự công cộng trong một thực thể chính trị hiện có, điển hình cho một quốc gia. Sự chiến thắng, vốn không mang hàm ý đạo đức cần thiết, là mục tiêu chính của loại một. Mang những kẻ chống phá luật pháp ra xét xử, việc này có hàm ý về đạo đức, là mục tiêu của loại hai. Tuy vậy, một sự minh bạch như thế dễ vạch ra trong lý thuyết hơn là trong thực hành. Hành động sát nhân của người lính khi giao chiến chính nó không phải là một sự vi phạm luật pháp. Nhưng nếu một thành viên của tổ chức Đoàn quân Cộng hoà Ái nhĩ lan (IRA) tự xem mình như kẻ tham chiến, mặc dù luật pháp chính thức của Anh quốc xem hắn như kẻ sát nhân thì sao?
Có phải những hoạt động quân sự ở bắc Ái nhĩ lan là một cuộc chiến tranh mà tổ chức IRA đã tiến hành, hay là một toan tính công khai của những kẻ hạm luật nhằm duy trì một chính phủ tùng phục trong một tỉnh của Anh quốc? Bởi vì không phải chỉ một lực lượng cảnh sát địa phương mà cả một quân đội quốc gia được huy động để chống lại tổ chức Đoàn quân Cộng hoà Ái nhĩ lan (IRA) trong khoảng 30 năm, ta có thể kết luận nó là một cuộc chiến nhưng được điều hành một cách có hệ thống như chiến dịch cảnh sát, trong mức độ nào đó để giảm thiểu số thương vong và rối loạn của cuộc sống trong vùng. Những phức tạp và rối rắm như thế về mối liên hệ giữa hoà bình và chiến tranh vào khởi đầu của thế kỷ mới này, chúng được minh hoạ bởi lực lượng quân sự và những chiến dịch khác mà Hoa kỳ và đồng minh hiện đang tiến hành.
Hiện tại cũng như suốt thế kỷ hai mươi, là sự hoàn toàn vắng mặt bất cứ thẩm quyền quốc tế thực sự nào có khả năng kiểm soát hay ổn định những tranh chấp vũ trang. Toàn cầu hoá có được lợi thế trong hầu hết mọi lãnh vực – kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, kể cả ngôn ngữ – trừ lãnh vực: chính trị và quân sự. Chỉ những quốc gia có lãnh thổ riêng mới có những thẩm quyền thực sự đó. Trên thế giới chính thức có khoảng 200 quốc gia nhưng thực tế chỉ một vài quốc gia đếm được trên đầu ngón tay mà Hoa kỳ là cường quốc áp đảo nhất. Dù sao, không một quốc gia hay đế quốc nào lớn, giầu và mạnh đủ để duy trì quyền bá chủ trên nền chính trị thế giới, đừng nói tới việc thiết lập uy thế chính trị và quân sự trên toàn cầu. Một siêu cường đơn độc không thể bù lấp cho sự vắng mặt những tổ chức có thẩm quyền trên thế giới, đặc biệt là thiếu những hiệp ước – liên quan tới việc giải giới quốc tế, hay việc kiểm soát vũ khí – đủ mạnh để được chấp thuận một cách tự nguyện như là sự liên kết bởi những nước lớn. Những tổ chức có thẩm quyền hiện nay như, đáng kể là Liên hiệp Quốc, một vài tổ chức kỹ thuật và tài chánh khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO), và những toà án quốc tế. Nhưng những tổ chức đó không có bất kỳ quyền ảnh hưởng nào ngoài những quyền mà những thoả hiệp giữa những quốc gia đã ban cho họ, hoặc được sự hỗ trợ bởi những cường quốc, hoặc chấp thuận một cách tự nguyện bởi những quốc gia đó. Đáng tiếc thay, không có điều gì thay đổi trên thế giới trong một tương lai gần.
Vì chỉ có những quốc gia là vận dụng thực quyền, điều không may là những cơ quan quốc tế sẽ bị thiếu hiệu quả hoặc thiếu sự hợp pháp quốc tế khi họ phải đương đầu với những vi phạm được coi như “tội ác chiến tranh”. Kể cả những toà án quốc tế được thiết lập bởi sự thoả hiệp chung (ví dụ như Toà án Tội phạm Quốc tế được thành lập do quy chế của Liên hiệp quốc ở Rome ngày 17.07.1998), những phán quyết của toà án sẽ không nhất thiết được chấp thuận như là sự hợp lệ và có sự ràng buộc bao lâu mà những cường quốc còn ở trong tư thế coi thường những phán quyết đó. Sự kết giao của những cường quốc có thể đủ mạnh để bảo đảm rằng những kẻ vi phạm của những nước yếu hơn sẽ được đưa ra trước những toà án này, có lẽ sẽ hạn chế được sự tàn bạo của xung đột vũ trang ở một số vùng. Dù sao đó là một thí dụ về việc thực thi có tính cách truyền thống về thế lực và ảnh hưởng ở trong một hệ thống quốc gia có tính cách quốc tế, chứ không phải là việc thực thi luật pháp quốc tế.
Dù sao, giữa thế kỷ 20 và 21 có một sự khác biệt lớn: cái quan niệm rằng chiến tranh xảy ra ở một thế giới được chia thành nhiều lãnh thổ thuộc thẩm quyền của những chính phủ có sự độc quyền thực sự bằng những phương tiện quyền lực và cưỡng chế công khai đã thôi không còn được áp dụng. Cái quan niệm đó chưa thể áp dụng với những quốc gia đang trải qua thời kỳ cách mạng hoặc những quốc gia vừa tách ra khỏi những đế quốc bị tan rã. Nhưng cho tới thời gian gần đây, hầu hết những chế độ mới vừa trải qua thời kỳ cách mạng hoặc hậu thuộc địa – Trung hoa trong giữa năm 1911 và 1949 là một ngoại lệ chính – nhanh chóng nổi lên tương đối có tổ chức và làm nhiệm vụ của kẻ kế nhiệm những thể chế và nhà nước. Tuy nhiên, khoảng hơn 30 năm qua, vì những lý do khác nhau, những cường quốc đã mất đi sự độc quyền truyền thống về lực lượng vũ trang, cả sự ổn định và thế lực đã có từ trước, và ngày càng mất đi tính hợp pháp cơ bản hay ít nhất sự lâu bền đã được chấp nhận để cho phép những chính phủ áp đặt những gánh nặng lên những công dân chịu phục tùng, chẳng hạn như đánh thuế và bắt lính. Hiện nay, những thiết bị vật liệu cho chiến tranh có thể kiếm mua được dễ dàng bởi những tổ chức tư nhân, kể cả việc tài trợ cho chiến tranh phi quốc gia. Trong chiều hướng đó, cán cân thăng bằng giữa quốc gia và những tổ chức phi quốc gia đã thay đổi.
Những vụ xung đột vũ trang ở trong những quốc gia trở nên nghiêm trọng hơn và có cơ tiếp diễn hàng chục năm mà không thấy bất cứ triển vọng nghiêm túc nào của chiến thắng hay hoà giải: Kashmir, Angola, Sri Lanka, Chechnya, Colombia. Trong những trường hợp khắc nghiệt, như một vài nơi ở Phi châu, một quốc gia có thể gần như ngưng hoạt động để tồn tại. Hoặc như ở Columbia, chính quyền trung ương không còn thực thi được quyền hành ở một vài nơi trong lãnh thổ. Kể cả ở những quốc gia mạnh và ổn định, thật khó mà trừ khử được những nhóm vũ trang nhỏ và không chính thức như tổ chức IRA ở Anh và tổ chức bán quân sự Eta ở Tây ban nha. Sự khác thường của tình trạng này cho ta thấy sự thật là một quốc gia hùng mạnh nhất trên hành tinh bị khủng bố tấn công và cảm thấy bị bắt buộc phát động một chiến dịch quy mô nhằm chống lại một tổ chức quốc tế, vô chính phủ và nhỏ bé hay một mạng lưới không có cả một lãnh thổ lẫn một quân đội có thể nhận diện được.
Những thay đổi đó ảnh hưởng thế nào đến cán cân giữa chiến tranh và hoà bình vào thế kỷ tới? Tôi không muốn dự đoán về những cuộc chiến có thể xảy ra hoặc những kết quả của chúng. Dù sao, cả cấu trúc của sự xung đột vũ trang lẫn những phương thức hoà giải đã thay đổi một cách sâu xa bởi sự biến đổi hệ thống thế giới về những quốc gia có chủ quyền.
Sự tan rã của Liên bang Sôviết có nghĩa là cái hệ thống siêu cường đã thống trị mối quan hệ quốc tế gần hai thế kỷ và, với những ngoại lệ hiển nhiên, đã thi hành việc kiểm soát những xung đột giữa những quốc gia, không còn tồn tại nữa. Sự biến mất của nó đã gỡ bỏ đi sự kiềm chế chủ yếu lên loại chiến tranh liên quốc và sự can thiệp vũ trang của những quốc gia vào việc nội bộ của những quốc gia khác – những vùng biên giới lãnh thổ của những nước láng giềng với nhau ít bị xâm phạm bởi những lực lượng vũ trang trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Trong quá khứ, cái hệ thống tổ chức quốc tế đã tiềm tàng một sự bất ổn mặc dù kết quả có một số nước nhỏ và khá yếu, tuy vậy đã được chính thức công nhận như là những thành viên “tối cao” của Liên hiệp quốc.
Sự phân rã của Liên bang Sôviết và những chế độ cộng sản ở Âu châu rõ ràng là đã gia tăng sự bất ổn. Cho dến nay, xu hướng đòi ly khai của một số tổ chức ở những nhà nước-quốc gia khá ổn định hiện nay như Anh, Tây ban nha, Bỉ và Ý còn có thể tăng thêm nữa. Trong khi đó, con số những tổ chức bí mật trên hiện trường thế giới được tăng lên bằng cấp số nhân. Có cơ chế nào để kiểm soát và ổn định những xung đột đó? Tài liệu cho thấy những dấu hiệu không mấy hứa hẹn. Trong thập niên 1990, không một cuộc xung đột vũ trang nào được kết thúc với một thoả hiệp ổn định. Những định chế, những thừa nhận và lối khoa trương thời chiến tranh lạnh còn sót lại đã giúp làm cho hồi sinh sự ngờ vực (giữa những quốc gia) đã có từ trước, làm cho những đổ vỡ trong vùng đông nam Âu châu thời hậu cộng sản thêm trầm trọng và tạo khó khăn cho những thoả hiệp trong vùng đất Nam tư.
Những gì được thừa nhận thuộc thời kỳ chiến tranh lạnh, có tính ý hệ và thế lực chính trị, sẽ phải vứt bỏ đi nếu ta muốn mở rộng kế hoạch kiểm soát sự xung đột vũ trang. Bằng chứng cho thấy Hoa kỳ đang thất bại và sẽ không tránh khỏi thất bại bởi thứ quyền lực đơn phương trong việc áp đặt một trật tự thế giới mới (dưới bất cứ hình thức nào), dù có nhiều sức mạnh quân sự đang nghiêng về phía nó trong lúc này, và thậm chí được hỗ trợ (ngắn hạn tất yếu) bởi một số quốc gia đồng minh. Hệ thống quốc tế sẽ vẫn phải là đa phương và sự điều hành nó còn tuỳ thuộc vào khả năng của những nước lớn có chịu thoả thuận với nhau dù rằng một trong những nước đó đang hưởng ưu thế về quân sự.
Những hoạt động quân sự trên thế giới được điều động bởi Hoa kỳ sẽ đi tới đâu còn tuỳ thuộc trên những thoả hiệp được thương lượng bởi những quốc gia khác là điều hiển nhiên. Nó cũng hiển nhiên là việc dàn xếp những cuộc chiến bằng đường lối chính trị, kể cả những cuộc chiến mà Hoa kỳ tham dự, sẽ do đàm phán mà không do những áp lực từ một phía. Thời kỳ mà những cuộc chiến được kết thúc trong sự đầu hàng vô điều kiện sẽ không trở lại trong tương lai gần.
Vai trò của những tổ chức quốc tế hiện có, đáng kể là Liên hiệp quốc, cũng cần phải xét lại. Lúc nào cũng sẵn sàng và thường hay được gọi đến, nhưng nó không có một vai trò rõ ràng trong việc dàn xếp những tranh chấp. Những sách lược và hoạt động của nó luôn phó mặc vào sự đổi thay của những thế lực chính trị. Sự vắng mặt của một vai trò trung gian quốc tế được xem như thật sự trung lập và có khả năng hành động mà không cần phải xin phép Hội đồng An ninh, đã là cái lỗ hổng rõ ràng nhất trong hệ thống điều hành những tranh chấp.
Từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, việc điều hành hoà bình và chiến tranh trên thế giới có tính cách ứng biến. Thí dụ như ở vùng Balkan, những cuộc xung đột vũ trang ở đây được ngăn lại do sự can thiệp vũ trang từ bên ngoài và tình hình sau chiến sự được duy trì bởi quân đội của những quốc gia đệ tam. Ta không biết một mô hình chung cho việc kiểm soát những xung đột vũ trang trong tương lai có thể hình thành từ những sự can thiệp vũ trang như nói trên vẫn chưa được rõ ràng.
Cán cân giữa chiến tranh và hoà bình trong thế kỷ 21 sẽ còn tuỳ thuộc không do thiết lập thêm những cơ chế có hiệu quả cho việc đàm phán và dàn xếp mà do sự ổn định nội bộ và tránh những xung đột về quân sự. Với một vài ngoại lệ, hiện nay những tranh chấp và xích mích giữa những quốc gia đưa đến xung đột vũ trang trong quá khứ sẽ ít xảy ra hơn. Ví dụ, có một vài tranh chấp tương đối mãnh liệt giữa những chính phủ về biên giới quốc tế. Mặt khác, những xung đột nội bộ dễ trở thành bạo động: cái nguy cơ chính của chiến tranh là ở sự can thiệp của những quốc gia bên ngoài hay những hành vi quân sự trong những vụ xung đột đó.
Những quốc gia với một nền kinh tế thịnh vượng, ổn định và sự phân phối tài sản trong dân chúng tương đối công bằng thì tổ chức xã hội và chính trị ở nước đó thường ít bị giao động hơn những quốc gia nghèo, xã hội thiếu quân bình và nền kinh tế bất ổn. Để tránh hay kiểm soát được những bạo động vũ trang ở trong một quốc gia hơn nữa còn tuỳ thuộc trực tiếp vào thế lực và thành quả làm việc của chính quyền trung ương và chính quyền ấy có được lòng dân. Hiện nay, không một chính phủ nào còn được hưởng quyền cai trị một tập thể dân chúng mà không có những nhóm tổ chức vũ trang hay một mức độ trật tự xã hội như có từ trước ở Âu châu. Hiện nay, không một chính phủ nào ở vị thế có thể bỏ sót hoặc gạt bỏ những nhóm thiểu số có vũ trang ở trong nước.
Thế giới ngày càng được phân ra thành những quốc gia có khả năng cai trị những lãnh thổ và công dân của nó một cách hiệu lực và đang nảy sinh nhiều lãnh thổ bao bọc bởi những ranh giới được quốc tế chính thức công nhận, với những chính quyền được xếp loại từ nhu nhược và thối nát tới ngưng hoạt động. Những vùng đất đó hay xảy ra những cuộc đấu tranh nội bộ đẫm máu và những vụ xung đột quốc tế như ta thấy đã xảy ra ở Trung phi. Dù vậy, ngay lúc này ta không thấy có triển vọng cho sự cải thiện lâu dài ở vùng đất đó và chính quyền trung ương ở những quốc gia thiếu ổn định càng trở nên yếu đi. Hoặc nếu để tình hình ở vùng Balkan ảnh huởng và lan ra trên bản đồ thế giới, chắc chắn là những nguy cơ xung đột vũ trang sẽ tăng lên.
Một dự đoán thăm dò: chiến tranh trong thế kỷ 21 chắc sẽ không ở mức độ sát hại như trong thế kỷ 20. Nhưng bạo động vũ trang, gây nên những thiệt hại và mất mát thiếu cân đối, sẽ vẫn xảy ra khắp mọi nơi và địa phương – thường ở địa phương – chiếm một tầm rộng lớn của thế giới. Cái triển vọng về một thế kỷ hoà bình vẫn còn xa vời.
© 2005 talawas