Nguyễn Trương Quý
Ở Việt Nam, đất nước có một lịch sử có thể coi là dài, luôn có nhiều dịp lễ kỷ niệm trọng đại. Một trong những hoạt động là việc ghi lại dấu ấn lịch sử bằng ngôn ngữ hôm nay, và như mọi nơi trên thế giới, tượng đài là một cách chắc chắn nhất về mặt vật thể (tuy nhiên đã là vật thể thì cũng là thứ dễ gặp rủi ro và hao tốn tiền của nhất). Đập bỏ bà đầm Xoè ở Hà Nội, đi thăm một bà đầm Xoè khác ở Mỹ, đương nhiên hai cái khác nhau căn bản về giá trị do “lịch sử để lại”, mặc dù công việc của tác giả Frédéric Auguste Bartholdi là thể hiện ý niệm nghệ thuật của mình (“sự tự do chiếu sáng thế giới”) bằng một hình tượng có tính cổ điển. Người xưa nhìn Nữ thần Tự Do đứng ở mảnh đất này thay cho một cái “Quảng Văn đình” (“Đến Quảng Văn đình tớ muốn nghe, Quảng Văn không thấy, thấy đầm xòe”, thơ thế kỷ 19) với một thái độ khác với ta ngắm nhìn mô hình đồ lưu niệm Nữ thần ấy bán trên phố Hàng Mã. Dù sao thì hình tượng này là một trong số ít các tượng đài đã kịp lưu lại trong hệ thống icon của tư duy trực quan nhân loại, bất kể ta đã đập đi hay nó có những khiếm khuyết gì về mặt nghệ thuật. Trên các mặt tiền nhà theo kiểu cổ điển và baroque ở Hà Nội, không thực hiện những nhóm tượng khoả thân táo bạo như những công trình phong cách này vẫn có. Nhà hát Opera Paris có tượng Apollo khoả thân cầm đàn lire và tượng các nữ thần âm nhạc tròn căng, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội là thứ mô phỏng lại thì chỉ có các sư tử có cánh mà thôi, đầy tế nhị và che giấu nhục cảm như kiểu cách Nho học Việt Nam.
Đấy là trên diện rộng, diện quốc gia. Còn trong mỗi nhà, nhu cầu ghi lại khuôn mặt các thế hệ, nhất là có tính trang trọng như di ảnh các cụ tổ tiên, đã từng có một phương tiện được ưa chuộng là truyền thần. Thể loại truyền thần là một biến tấu của nghệ thuật nhiếp ảnh chân dung, mượn một chút phương tiện cuả quốc hoạ và lối vẽ tả chân cổ điển. Với nguồn gốc phương Tây và không khí thủ công nghiệp Á Đông, phương tiện này là một điều mới ở xã hội Việt Nam, bình dân hơn nhiều so với hội hoạ chân dung trước thế kỷ 19 của Việt Nam gần như không để lại mấy tác phẩm. Bao nhiêu danh nhân chỉ còn bức hoạ Nguyễn Trãi và một vài người khác (có tranh Quang Trung rất đẹp nhưng là người đóng thế và do người Tàu vẽ). Tượng chân dung có nhiều hơn nhưng ngả sang xu hướng tượng thờ và đặt trong một bối cảnh nơi chùa chiền gồm các cá tính không khác nhau bao nhiêu, lại chỉ dành cho thiểu số tầng lớp quý tộc và tăng lữ.
Sẽ có người bảo: Truyền thần… may lắm chỉ là thứ sản phẩm thủ công tay nghề cao thôi, có bao giờ cái anh thợ vẽ truyền thần được can dự vào hàng ngũ nghệ sĩ tạo hình. Nhưng bây giờ chữ nghệ thuật đã được dùng rộng rãi lắm rồi, ngành nào chẳng có tinh hoa và xã hội thừa nhận là có thể đạt tới giá trị cổ điển. Trong đó sự công phu, tính chuyên chú, mức độ hết mình của nó cũng đáng để xem như một nghệ thuật của cuộc đời, hơn rất nhiều trạng thái “sáng tạo” mang đầy tính nghiệp dư dù có dấu má đảm bảo của các cơ quan hàn lâm.
Các cụ già nhà mình trước đây hiếm hoi mới có vài tấm ảnh và mong muốn để lại cho con cháu một kiểu để thờ phụng, sao cho mình ngự trên ban thờ, ngày ngày dõi mắt nhìn các thế hệ sau sinh sống vui buồn ra sao, cũng ý thức với một chút mê tín là đang phù hộ độ trì cho con cháu đấy nhé. Khi ảnh chụp còn đắt đỏ và việc in tráng không dễ dàng thì truyền ra vài tấm hình là điều nhà nào cũng phải làm. Những kiểu hình truyền thần đầy chất nghệ sĩ như đội mũ phớt lệch, tóc chải bồng ngôi bên, mặt nhìn nghiêng ba phần tư…, chỉ để trưng mồi khách tại các hiệu truyền thần phố Hàng Đào. Hình các cụ luôn là ngồi thẳng nhìn chằm chằm ra phía trước, hai chân vuông góc, hai bàn tay đặt tĩnh tại trên đầu gối. Khi vẽ, ông thợ sẽ tuỳ vào hoàn cảnh và mong muốn cuả gia chủ mà cho các cụ ông mặc áo dài khăn xếp đeo thẻ bài hay com-lê cà-vạt, các cụ bà áo dài gấm đeo vòng v.v… Chỉ có khuôn mặt là tôn trọng nguyên mẫu (có thể trẻ hoá đi nhiều cũng như làm cho sáng hơn), còn từ phía cổ xuống là các tư thế muôn thuở của các hình nộm, cứng đờ vì được vẽ đồng loạt với một ý thức là phú quý hoá nguyên mẫu, dù các cụ đến lúc nhắm mắt vẫn cái cảnh bán mặt cho đất, bán lưng cho giời.
Nhưng cả ba bên đều hài lòng. Các cụ mãn nguyện khi sống tuổi già đã được người khác hình dung chỉn chu như thế, con cháu vui với niềm vui của các cụ và cũng vì xong một trách nhiệm, ông hoạ sĩ cũng nên vui vì sản phẩm được đánh giá cao.
Tinh thần truyền thần, sản phẩm kiểu truyền thần dễ làm ta tưởng có một điểm gần với nghệ thuật ngây thơ, nhưng cái tư duy ngây thơ mượn được lại đi kèm tiểu xảo thủ công làm cho loại sản phẩm này có vẻ trưởng giả nông thôn. Khi mà tinh thần ấy chi phối thị kiến của mọi người thì cách tạo nên tượng đài, tức là một hồ sơ thẩm mỹ thời cuộc, một cách đánh dấu lịch sử, hay cũng là chân dung của thời đại, luôn nằm trong thước đo “truyền-thần-có-giống-thật-hay-không”.
Tất nhiên, tượng đài không tự đứng một mình mà nằm trong môi trường kiến trúc. Cùng với sự thay đổi lớn lao về tầm vóc quy hoạch đô thị và bộ mặt kiến trúc, Hà Nội nhận được sự đầu tư về quy hoạch cảnh quan và môi trường văn hoá để tạo những mũi nhọn về thẩm mỹ không gian. Người ta ngay lập tức tính đến tượng đài. Đây là hình thức biểu đạt vật thể cô đọng và rõ nét nhất của mỗi thời đại. Chúng thuận lợi hơn các công trình kiến trúc vì không bị câu thúc bởi vấn đề công năng thực dụng, chúng gần như là mang tính biểu hiện đơn thuần. Nhưng vì thế mà đòi hỏi về giá trị nhận thức và giáo dục lại càng tăng, đương nhiên là phải đảm bảo yếu tố thẩm mỹ.
Trên một mặt bằng thẩm mỹ đô thị như đã có, ở Hà Nội chỉ tồn tại một số ít tượng đài, và chất lượng – xin chỉ bàn chuyện chất lượng như là sự tác động đến thị giác của quần chúng – thì cũng chỉ ngang hàng với cảnh quan quy hoạch chúng được đặt trong đó. Tượng đài với vị thế điểm nhấn không gian theo lý thuyết quy hoạch phương Tây cổ điển cũng như hiện đại được đặt trong những quang cảnh thích hợp: quảng trường, công viên, vườn hoa, những khoảng không gian dẫn dắt tầm mắt người thưởng ngoạn. Thường thì ta dễ nghĩ đến tượng đài như những hình khối hoành tráng, tuy nhiên bên cạnh đó, còn là những đơn vị tượng với kích thước tương đương con người đang hoạt động xung quanh. Một tượng đài Bà mẹ Tổ quốc ở Ukraina, một vách núi ở Nam Dakota với những gương mặt khổng lồ của 4 vị Tổng thống Hoa Kỳ hay một khối hình đa chiều trừu tượng của Nervin ở trụ sở UNESCO… khác nhau bao nhiêu về chất liệu, kích thước, phong cách và nội dung nhưng đều mang tính biểu tượng cao và nhất là khung cảnh chúng nằm trong đó như được sinh ra để có nhau. Thật ra chẳng cái gì tự nhiên sinh ra để lắp ghép vừa khít sẵn mà đây là tài năng của người thiết kế và sự tôn trọng cảnh quan làm cho mỗi thành tố của không gian kiến trúc có sự bổ trợ chặt chẽ cho nhau.
Tất nhiên, cũng như các loại hình nghệ thuật du nhập vào Việt Nam dưới những nguyên lý cổ điển Tây phương, bài toán đặt tượng đài chỉ phù hợp khi thiết chế quy hoạch cũng có mẫu số chung. Đi kèm với tượng đài là những thứ khá lỉnh kỉnh của nghệ thuật không gian ngoại thất: đài phun nước, mặt hồ, quảng trường, hàng cây, thảm cỏ, các tầng tán hoa, bụi được phân mảng rõ ràng và các khối cứng như đá, bê tông v.v… cho đến cái lớn hơn cả là các trục lộ dẫn dắt người xem. Những thứ đó mang một tinh thần duy lý và khoa học, hoàn toàn mới mẻ so với những khung cảnh kiến trúc có tính hồn nhiên và làng xã thị dân ở ta, vốn không mấy khi rộng rãi chừa ra những khoảng trống để đặt tạm vài cái tượng như thể đặt vội một quân cờ. Trong thời gian vài chục năm, ta cũng có thể gọi là có một quỹ tượng đài kha khá, chủ yếu ở Hà Nội và Sài Gòn. Có điều những nơi đẹp nhất sẽ không có mặt chúng, trừ một số tượng danh nhân được nghiên cứu kỹ càng và có may mắn bởi những lý do ngoài vấn đề tạo hình mà một trong số đó là khả năng “hô thần nhập tượng”, người ta tôn vinh các vị được tạc tượng bằng đèn nhang với những lễ dâng hương theo thời vụ để lấy khước (kỷ niệm ngày lễ, ngày sinh ngày giỗ, hay là lễ xuất quân của ngành thể thao, lễ báo công ngành giáo dục…). Còn đa phần những tượng đài ở các quảng trường ngã tư hay bùng binh, dưới chân chúng là những rác rến của đô thị, những biểu hiện yếu kém của văn minh đô thị. Quanh chúng có vô số biển: cấm ngắt hoa bẻ cành, cấm leo trèo (đối với trẻ con), cấm thả súc vật trâu bò (ở những vị trí giáp ranh mà bà con phát triển nghề chăn nuôi gia súc ăn cỏ, mà cỏ ở các khu tượng đài lớn rất sẵn), cấm vi phạm, cấm phóng uế, cấm v.v… Hoặc không cấm thì sẽ là “đề phòng kẻ gian lấy mất xe”, “chụp ảnh phải đăng ký”…
Thiết kế: Tìm tay cho Vệ nữ Milos
Mặc dù những khái niệm nghệ thuật mới, những phong cách tạo hình và nghệ thuật không gian đã đổ bộ vào xã hội ta từ lâu, nhưng có vẻ như các tác phẩm tượng đài lấy nội dung mô tả các nhân vật vẫn mang nguyện vọng truyền thần cuả bà con. Khi không giống với suy nghĩ trong đầu cuả mọi người (chắc là như thế, ai mà chả có tưởng tượng riêng của mình về một nhân vật chưa từng thấy mặt?), thì chẳng thể nào hi vọng bảo cái anh vệ quốc ôm bom ba càng kia là anh trai Hà Nội đêm 19 tháng Chạp năm 1946. Tại sao cứ phải là cụ thể rõ mồn một như thế, khói lửa cuồn cuộn bằng bê tông, sóng nước Hồ Gươm lăn tăn bằng những gợn vữa xi măng, bức tường sao không bằng gạch trần thực sự mà bằng bê tông/đá trắng rợn mình? Đó là nét chung nhất của ba phương án vào chung kết cuộc thi tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mới thay cho tượng đài cũ. Dù số nhân vật là hai người, ba người (tại sao lại là ba người thì có cái nguyên nhân: đã một anh vệ quốc và một chị áo dài, tiểu thương chợ Đồng Xuân hay nữ sinh trường Hàng Cót thì chưa biết, lại phải có thêm anh công nhân nữa), dù tượng mầu trắng. mầu đồng hay mầu ghi, thì hình thức tượng đài vẫn bó buộc trong những phương cách bám chặt lấy hiện thực như con kỳ đà bò sát mặt đất.
 |
| Tượng đài “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, vườn hoa Bà Kiệu |
 |
| Hình ảnh một số mẫu phương án thay thế được trưng bày (ảnh của V.A.) |
Xem tượng đài mà phải đọc quá nhiều chú giải mới hiểu được là điều mà tinh thần hiện thực của các tượng đài đã tạo ra. Từ nhóm tượng đài hiện đang ở vườn hoa đền Bà Kiệu sẽ bị phá đi cho đến một trong mấy phương án mới sẽ đặt ở giữa quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, chúng chỉ tiến bộ hơn về mặt không gian (buộc phải cho nhìn từ các phía, so với tượng cũ phía sau không nhìn được và chuyên bị đái bậy), còn thì như lời người xem, anh vệ quốc cầm một cái gì như phích điện ba chấu hoặc chống lên trời hoặc lao vào ổ cắm vô hình trong không trung, ngoài ra lúc đó vệ quốc quân chưa có áo trấn thủ may kiểu chần bông ô quả trám v.v… Thật ra, bộ đội ta trong hai tháng cầm cự để trước khi tiêu thổ kháng chiến đã làm nhiều điều lớn hơn nhiều so với việc để lại hình ảnh trên, cũng như khuôn mặt cô gái Hà Nội không phải cứ đằng đằng sát khí đến vậy.
Trong một không gian không rộng của khu vực giữa Hồ Gươm và khu phố cổ, tượng đài dễ bị như một con quay trong dòng giao thông của quảng trường. Trước hiện thực nhân dân đi xe cơ giới còn nhiều và quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục vẫn là nút giao thông quan trọng thì cảnh tượng chiếm diện tích của tượng đài có khả năng gây ra vấn đề cũng như lại mang vai trò bùng binh phân luồng giao thông, và giá trị của tượng đài ngoài thực tế còn khác nữa. Để đến lúc cả khu phố cổ và quanh Hồ Gươm thành những phố đi bộ nhằm làm cho tượng đài có ý nghĩa tiếp xúc thì không biết khi nào. Còn hiện tại, một tượng đài cố gắng tôn trọng phong cách hiện thực với phương châm tìm cách khả dĩ nhất để hoà nhập vào khung cảnh bề bộn dường như lại kéo mình vào một cuộc đấu tranh có tao không mày. Ba phương án đều lấy hướng chính là nhân vật chính (anh vệ quốc cầm bom ba càng) quay ra Hồ Gươm, ý là anh bảo vệ cho khu phố cổ, linh hồn của những ngày quyết tử kia, ở phía sau lưng. Ta hãy thử tưởng tượng những phông cảnh: phía sau là dãy phố Hàng Gai, Hàng Đào, Cầu Gỗ nhấp nhô ba tầng. Bên trái là dãy nhà hai tầng bán kem và hiệu ảnh. Bên phải là toà nhà Hàm Cá Mập. Tìm ra tiếng nói chung là một bài toán hóc búa. Dễ thấy là cả ba phương án trưng bày không đưa ra một mặt đứng nào để ít ra, du khách có thể bấm vài cú máy lưu niệm đẹp, vì cái thế đứng quá khó ấy.
Tự mình làm khó mình, cũng là chuyện vườn hoa Indira Gandhi, tức vườn hoa Chí Linh. Đồng thời có hai dự án: bãi đỗ xe ngầm thay vào cái hầm trú ẩn thời Pháp và tượng đài vua Lý Thái Tổ, hiện đã dựng mô hình bằng bìa carton phía trước, trông ra Bờ Hồ. Hình dung ông vua Lý ra sao giữa một vườn hoa Tây, xung quanh toàn nhà Tây (Nhà khách Chính phủ tức Bắc Bộ phủ cũ, Bưu điện Bờ Hồ, Toà thị chính, Ngân hàng Nhà nước, Ấu trĩ viên tức toà nhà thời Pháp của Cung Thiếu nhi) là điều bàn đã nhiều (vì không kiếm ra chỗ đẹp nào nữa để đặt tượng, mặc dù cái hình dáng ông vua với đủ cân đai áo mão thật bơ vơ giữa chốn chật hẹp ấy, sẽ lại phải chặt đi vài cây xanh), và coi như việc phải chịu. Ta xem bảy phương án tượng và lại thấy như gặp một bức truyền thần bằng đồng. Hoặc ông vua đứng, hoặc ông vua ngồi, hoặc ông giơ tay trái hạ tay phải, tay cầm Chiếu dời đô hay cầm gươm cầm bút… Ông đội mũ cánh chuồn hay mũ bình thiên, ông già hay trẻ, ông có làn sóng có vầng mây có thăng long làm nền… Chả ai biết có phải đó là Lý Công Uẩn không. Chỉ thấy ông luôn trong một tư thế khá đối xứng (làm sao mà nghẹo đầu nghẹo cổ được?) và thiếu việc ông ngồi trên ngai vàng, là hoàn chỉnh một phong cách truyền thần mẫu mực của Hàng Đào Hàng Gai.
Nhưng truyền thần còn dựa trên một nguyên tắc là có hình ảnh cụ thể để mà theo, Lý Công Uẩn sẽ ra sao trừ vài dòng như “vua ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan thứ nhân từ, tinh tế hoà nhã, có lượng đế vương” (Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư, kỷ nhà Lý, Thái Tổ hoàng đế). Làm tượng bán thân là một phương án khôn ngoan, ít ra là tránh được lỗi về nhân trắc học: người Giao Chỉ xưa thân ngắn, không đạt đến tỷ lệ tám đầu của Hy La mà các điêu khắc gia trường phái cổ điển thuộc lòng và cả thế giới phương Tây hai nghìn năm sau vẫn tô chuốt lại. Tuy thế, lại có thể nói làm bán thân thì nhàn nhưng lý sự cùn thì có thể bảo như vậy cũng có nghĩa là tự giới hạn “năng lực sáng tạo” của nghệ sĩ. Nhưng nếu năng lực sáng tác chỉ để mô phỏng da thịt của nhân vật và phủ lên những môtip hoa văn trang trí khảo cổ thì rất nên mở một lối khác chứ không là một tập hai đáng chán của bóng ma quá khứ ám ảnh. Hoặc ta có thể làm như bức tượng vua Lê Lợi tựa một pho tượng thờ bé xinh rước từ trong điện thờ đặt lên cây cột thức Corinthian trong tinh thần “Nam-Pháp đề huề” được làm đầu thế kỷ 20 ở bên kia Hồ Gươm.
 |
Mẫu tượng đài Lý Thái Tổ được lựa chọn và hiện trường dựng tại vườn hoa Indira Gandhi (tức Chí Linh) (ảnh của VnExpress.net)
|
Tượng danh nhân – truyện tranh dã sử
Thường thì những bài học kinh nghiệm sẽ là những bà đỡ tốt cho việc ra đời các công trình mới. Nhưng trong tình trạng không kinh nghiệm nào vừa với hiện trạng, luôn là gọt chân cho vừa giầy. Trong khi đó, kế hoạch từ nay đến năm 2010 riêng Hà Nội có 6 tượng đài lớn phải hoàn thành: Thánh Gióng, An Dương Vương, Lý Thái Tổ, Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng và Tượng đài Thành phố vì Hòa bình. Toàn những đầu bài cực khó nếu xét về việc tìm ra vị trí đặt chúng. Người thì cho là “cần cải tạo triệt để không gian” (Nguyễn Mỹ, Thể thao văn hóa, số 25, 26-3), người khác lại nói “cần đưa tượng Lý Thái Tổ vào vị trí điện Kính Thiên” (Phỏng vấn G.S Lê Văn Lan, Lao Động, xuân Giáp Thân). Thứ nhất, đặt thêm một yếu tố mới vào một khu vực hài hòa sẵn về tự nhiên ở vườn hoa có nhiều cây cổ thụ to đẹp là đẻ ra những thay đổi: chặt bớt cây để lấy tầm nhìn, đào bới lên để đắp một vài phù điêu…, lại là thứ không “thuận thiên” (mà người sáng tác đã ca như vậy) cho lắm. Thứ hai, một tượng đài đồ sộ trong một khu vực “nóng” về khảo cổ như điện Kính Thiên và hiện vẫn còn bị đóng kín bởi lý do quân sự là điều khó.
Tuy nhiên, nếu ta đi trên phố Nguyễn Tri Phương, bên phía đông Hoàng thành (nếu lấy trục điện Kính Thiên là trung tâm) thì có thể thấy rất nhiều hạng mục công trình to lớn theo lối chân đế Pháp, cột cổ điển và mái dốc kiểu đầu đao của các nhà thiết kế quân đội, nhưng không thấy công bố thông tin nào về khai quật khảo cổ, mặc dù trong bản đồ khu vực này quan trọng không kém gì so với khu hội trường Ba Đình là đối xứng phía Tây đang được khai quật tưng bừng? Người ta có thể lấy lý do bảo vệ an ninh để biện minh, nhưng việc đưa ra phương án Bảo tàng Lịch sử Quân đội mới hình cánh cung vây lấy Cột Cờ thì giải thích bằng yếu tố nào? Phương án với một hình thức vẫn là chiết trung, với nhiều dầm cột gờ phào, mái chóp, cao 4-5 tầng tức là khoảng 20m chạy một hình cong lấy tâm là Cột Cờ có chiều cao 33,4m. Nhà thiết kế có mô tả là làm tôn lên Cột Cờ và trục Thần Đạo của Hoàng thành, tuy nhiên trục này nếu có thì lại vô lý để làm cát tuyến [1] cho cái đường cong kia? Chưa nói đến Cột Cờ sẽ trở nên kỳ dị trước “tấm bìa” kia, nó đang thuộc về một tổng thể khác chứ không phải là con út của bảo tàng như một cột Obelique người Pháp lấy từ Ai Cập đặt vào Quảng trường La Concorde hay đơn giản là cái ống khói nhà máy gạch Đại La ở phố Cát Linh giờ làm cọc tiêu cảnh cho khách sạn Hanoi Horison, cũng có kiểu hai cánh cung sừng sững án ngữ ngã tư. Nên nhớ là nhà Bảo tàng hiện tại thực chất là một vài dãy nhà dạng đồn lính Pháp xây thời đầu khi xâm chiếm Hà Nội. Những dãy nhà này cao 2 tầng và không có gì đặc biệt về hình thức, chỉ đơn giản là xây cất nhanh, ta còn có thể gặp rải rác trong thành và ở khu Bệnh viện 108 tức Nhà thương Đồn Thủy ở khu Nhượng địa Pháp xưa. Người Pháp đã có một động tác vi phạm thô bạo vào khu vực quanh Cột Cờ, nay ta lại có việc triển khai một hình ảnh kiểu “ghồ ghề” khẳng định sự có mặt của mình như hiện nay thật vẫn cứ là bóng dáng kiểu cách ấy. Trong khi công trình này nên hiểu là một sự can dự có tính phụ trợ khiêm nhường thì có lý hơn, một khi đã có ý nhắc đến diện rộng là Thành cổ Thăng Long – Hà Nội. Điều này càng đặt ra gay gắt hơn khi người ta có nói mong muốn tạo dựng tổ hợp công trình Bảo tàng cùng Cột Cờ thành một biểu tượng hay tượng đài có sức sống lâu bền với thời gian.
Tinh thần thể hiện kiểu nhắc lại nguyên mẫu theo số đếm: có một người mẹ đau khổ, một người chị căm thù, một đứa em ngây thơ… là cách dễ làm vừa lòng các chủ đầu tư vì họ nhìn là thấy, không phải suy luận mãi mới ra. Cho nên tượng đài chiến sĩ Điện Biên cũng “gồm bốn nhân vật, gồm ba chiến sĩ đứng trên nắp hầm của tướng De Castries, một người phất cờ, một người cầm súng, một người bế một em nhỏ dân tộc Thái tay cầm hoa. Tượng cao 12,6m, gồm 12 thớt, chiều dày trung bình 3 cm, chỗ dày nhất 7 cm, được đúc bằng 220 tấn đồng, tượng đặt trên bệ cao 3,6m. Trị giá của pho tượng là hơn 20 tỉ đồng”. Đó là cách mô tả lại tượng đài trên báo Thanh Niên [2] .
Làm thế nào để tượng đài sẽ không phải là tượng ông tướng canh đền [3] bị cáo cầy làm ruỗng mọt bên trong, rồi sụp đổ tan tành đến cái bát hương không còn, hoặc không chỉ là sản phẩm cúng cụ, trách nhiệm trước hết ở người thiết kế. Một bức tượng kiểu đổ khuôn xác chết có đủ mắt mũi mồm, không ai chấp nhận, nhưng cũng không thể khiên cưỡng theo lối biểu hiện đặc trưng ngầm hiểu như Lý Thái Tổ đứng trên ba bậc cấp mô tả yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa, tương ứng với niên hiệu Thuận Thiên, chân đế có hình bốn cổng thành Hà Nội (?) với tỷ lệ bằng một nửa kích thước đôi giầy (có thể gọi là hài hay ủng, tôi không biết tên chính xác) của bức tượng. Có trời mới biết người xem luận ra sao khi nhìn thấy bức tượng trần sì với mưa nắng và tác giả không thể đứng canh tại đó mà giảng giải, cũng như không ai làm một bản mô tả ý đồ như kiểu tấm bia dựng chùa thời xưa. Có thể người thường không hiểu hết ý đồ nghệ thuật của tác giả nhưng cách thuyết minh đầy tính lãng mạn như vậy xem ra đắc dụng khi dessin [4] tự thân không đủ ngôn ngữ thuyết phục.
Anh sinh viên kiến trúc có được 45 tiết học môn điêu khắc và tượng đài. Bài tập 1 (15 tiết làm tại lớp): dùng đất sét thể hiện lại bản khắc thạch cao hoạ tiết cổ (ví dụ bức chạm chùa Thái Lạc hay lan can đá chùa Bút Tháp). Bài tập 2 (30 tiết làm ở nhà): phác thảo tượng đài, mỗi nhóm có 3-4 người làm và có kết quả chung. Tuy nhiên, khi xem điểm ở văn phòng, các nhóm thắc mắc về số điểm khác nhau cho từng người trong nhóm dù thầy chẳng biết đứa nào làm những gì cụ thể (điều này gây nghi kỵ nhau ghê gớm, có thể nó hơn mình 1 điểm vì đã đến nhà thầy). Nhưng cái chính là chẳng biết thầy phát biểu ý kiến cho cái lũ nghệ sĩ nửa mùa làm chưa được cái gì, đúng sai ra sao và thế nào là tượng đài đẹp? Phải chăng an toàn nhất trước các thầy hay trước các cấp duyệt là cứ chăm chút tả kỹ những hình tượng “gương soi của hiện thực” kiểu truyền thần? Khi thời được vẽ lại cách xa đến 1000 năm và hình tượng cũng hú họa như những mẩu truyện tranh dã sử? Có điều ai cũng mộng ước công trình của mình “sống mãi với thời gian”, thế nhưng ta không ngại ngần chất chồng vật liệu hôm nay lên một mảnh đất còn giấu nhiều tầng ký ức (như khảo cổ chẳng hạn) và chẳng đếm xỉa gì đến cái cảnh đến phiên mình lại chịu phận nằm dưới một “tầng văn hóa” khác của tương lai.Chất liệu vĩnh cửu của hôm nay chẳng là gì so với sự tiên tiến của ngày mai. Tất cả những tượng đài đã sụp đổ khi đương thời đều chẳng phải đã được xây cất bằng vật liệu tốt nhất lúc đó hay sao? Sau khi Tháp đôi WTC ở New York – một loại tượng đài của nền kinh tế phương Tây – sụp đổ ngày 11.9, người Mỹ đã lo ngay ngáy cho tượng Nữ thần Tự Do bị nguy cơ tan tành do các nhóm khủng bố đặt bom.
Nhưng tất nhiên, không ai nghi ngờ rằng dù tượng đài Nữ thần Tự do có bị phá hoại thì tư tưởng Tự do vẫn còn.
© 2004 talawas
[1]Cát tuyến: trong hình học phẳng, là đường thẳng cắt đường tròn khép kín tại hai điểm.
[2]Việc đưa bức tượng lên nơi đặt cũng rất phức tạp: Tượng được chia ra làm 12 thớt tượng nằm trên 11 xe – trong đó có 4 xe chuyên dụng của Công ty dịch vụ vận tải 2, Bộ GTVT – đưa lên Điện Biên theo đường bộ và đường thủy. Ngoài Quốc lộ 6, đoàn xe xuống 7 sà lan ở Hòa Bình để tránh đoạn đường hiểm trở khu vực Mộc Châu và sau đó cập cảng Tà Hộc, Sơn La để đi lên Điện Biên theo con đường kéo pháo qua đèo Pha Đin thuở nào. Xe chở tượng cũng là loại xe đặc biệt, đầu kéo của Đức, rơ-moóc của Ý với khả năng cân bằng tự động, chống nghiêng, đổ cho dù đi vào những địa hình phức tạp. Đi theo đoàn là một cần cẩu 150 tấn. Chưa hết, đoàn xe được một lực lượng hùng hậu cảnh sát giao thông đường bộ và đường thủy dẫn đường và hướng dẫn giao thông. Ngày chạy, đêm nghỉ, tốc độ xe được cảnh sát giao thông khống chế để đạt độ an toàn cao nhất. (Theo báo Thanh Niên, 1.3,
http://www.thanhnien.com.vn/TinTuc/VanHoa/MyThuat/2004/2/29/9516/).
[3]“Ông tướng canh đền”: tên một truyện ngắn của Nguyễn Kiên.
[4]Dessin: tiếng Pháp, thuật ngữ dùng trong tạo hình để chỉ một dáng, đường nét, mẫu hình thể.