trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
20.10.2004
Nguyễn Ngọc Bích
Từ Harvard về đến Virginia, đi “hát rong” với Phạm Duy
 
Nhạc sĩ Phạm Duy và tác giả Nguyễn Ngọc Bích

Đã lâu rồi tôi không về Boston nên kỳ này, có dịp đi Harvard gọi là “hát rong” với nhạc-sĩ Phạm Duy là tôi nhận lời liền. Đứng ra tổ-chức là hội IVCE (Institute for Vietnamese Culture and Education) của anh Trần Thắng làm chung với Tổng-hội Sinh-viên Việt Nam vùng Đông-bắc Hoa-kỳ (Chị Nguyễn Thị Đan Thanh, hội-trưởng).

Hội-trường dành riêng để biểu diễn âm-nhạc là Paine Hall. (Sở dĩ ta biết vậy là vì bước vào trong phòng là ta thấy tên của các nhạc-sĩ tên tuổi của thế-giới được khắc trên tường, chạy dài chung quanh phòng: Beethoven Mozart, Schubert, Chopin Mendelssohn, Tchaikovsky v.v. Tôi thầm nghĩ: Lẽ ra phải có Phạm Duy giữa những hàng chữ kia, vì như một giáo-sư âm-nhạc Mỹ, bà Barbara Platenik, gần đây đã có dịp nhận xét, nhạc PD còn “hay hơn cả Beethoven, Bach lẫn Mozart… vừa dịu dàng hơn, lại cũng vừa siêu thoát hơn”-“gentler and more transcendent.”)

Bảo là “hát rong”…



Bảo là “hát rong” chứ chính thật, tôi có được hát gì đâu! Thậm chí đến ngay nhạc-sĩ Phạm Duy cũng chẳng được hát câu nào. Lý-do thật đơn giản: âm-nhạc Việt Nam ngày hôm nay không còn đơn thuần là một làn điệu để ta có thể hát một mình như một làn điệu dân-ca cổ-truyền, chẳng hạn. Thành thử, nói cho đúng, cuộc trình diễn của chúng tôi hôm đó, để dùng cho đúng chữ, phải gọi là “nhạc-thoại,” một danh-từ do chính PD đặt ra cách đây hơn chục năm.

Chúng tôi nhạc-thoại về cái gì hôm đó?

Thưa, gồm 4 phần cả thảy, theo chương-trình in ra rất trang nhã bằng tiếng Anh của hội IVCE:

Phần đầu, NNB nói về Truyện Kiều.

Phần hai, nhạc-thoại giữa Phạm Duy và NNB về quan-niệm “Minh họa Kiều.” Trước khi vào phần 3 của “Minh họa Kiều” là phần mới nhất được PD hoàn-tất, còn có phần trích dẫn và giới-thiệu “Minh họa Kiều 1 và 2.”

Phần ba, Phạm Duy trình bầy toàn-bộ mảng đầu của “Minh họa Kiều 3” gồm: “Cơn gia biến”, “Tấm lòng Kiều”, “Đã bén tay phàm”, “Tú Bà” và “Trước lầu Ngưng Bích.”

Phần bốn, Phạm Duy nói và giới-thiệu về “Hương Ca” là 7 chương-khúc mới nhất trong sự-nghiệp sáng-tác của ông sau khi đã về Việt Nam 9 lần.

Giới-thiệu vắn tắt Truyện Kiều trong tiếng Anh



Phần này do tôi đảm trách vì, một, buổi trình diễn xảy ra ở Harvard, một trong những lá cờ đầu của nền đại-học Hoa-kỳ, và hai, vì trong số khoảng trên 200 người có mặt, cũng có một số sinh-viên Mỹ đến nghe. Song điều lạ và vui nhất là cuối buổi, nhiều em đã lên khen và cám ơn tôi rối rít. “Nhờ Bác nói bằng tiếng Anh, chúng cháu mới hiểu đến nơi đến chốn câu chuyện của Kiều. Thật là một câu chuyện quá hay! Chúng cháu ở bên nhà đâu có được học, chỉ được nghe người lớn nói lõm bõm nên gần như không biết gì hết. Nay có bác kể lại mới thấy câu chuyện cảm-động quá! Thật là hay, thật là hay!” Một em gái tự giới-thiệu gốc Hà Nam Ninh ra thưa với tôi.

Một em khác, người Việt gốc Hoa, nói với tôi bằng tiếng Anh: “Chắc cháu phải học tiếng Việt cho đến nơi đến chốn để có thể đọc được Truyện Kiều. Bác làm cho cháu muốn học. Chứ cháu về Việt Nam, nói được có chút ít, rất bực mình!”

Tiến-trình âm-nhạc Việt Nam



Được tôi hỏi vì sao ông đã nghĩ đến minh-họa Kiều, nhạc-sĩ Phạm Duy cho biết: nền âm-nhạc nào thì cũng phải tiến từ đơn-điệu, từ một giai-điệu (“melody”) đến cái phức-tạp hơn như hát bè, đa-điệu, đối-điểm, có đệm một đàn rồi nhiều đàn, rồi nhạc không lời, khí-nhạc (“instrumental music”), hòa-âm, nhạc giao-hưởng (“symphonic music”) v.v. “Đối với tôi,” ông nói tiếp về một tiến-trình tương-tự, “sau hàng trăm bài ca đoản khúc, là những trường-ca 10 hay 20 chương-khúc… rồi tới tổ-khúc. Và bây giờ là Minh hoạ Kiều với bề thế gần giống như một đại-nhạc-kịch (opera).”

Ông cũng cho là nhạc Việt Nam giờ đây, ở trong cũng như ở ngoài nước, đang nghèo quá. Vì thế nên phải có người ý-thức để làm một cái gì mới, có thế ta mới mong bắt kịp được với thế-giới chứ không thể mù quáng đi theo Mỹ, Nhật, Tàu hay Đại-Hàn mà mong có được một nền âm-nhạc với những đặc-tính Việt Nam mà vẫn so sánh, sánh vai được với người.

Cái mới trong “Minh họa Kiều”



Để chứng minh cái mới mà ông đem vào âm-nhạc Việt Nam, Phạm Duy đưa ra một số tỷ dụ:

Phần “giáo đầu” của “Minh họa Kiều 1” là như phần mở màn của một tuồng xưa (tiếng trống thùng thùng rồi mấy lời “giáo” lên: “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh…”).

Cụ Nguyễn Du viết “Cỏ non xanh tận chân trời…” Làm sao mà tiếng nhạc có thể diễn tả được cái mênh mông mát rượi của màu xanh cỏ kéo dài đến vô biên?

Hoặc trong phần Kim Trọng và Kiều gặp riêng với nhau thì cụ Nguyễn Du chỉ đưa ra tên bốn bài nhạc xưa của Trung-hoa. Làm sao mà diễn tả được một trận chiến thư hùng như “Hán Sở Chiến Trường” hoặc Tư-mã Tương Như tán gái trong “Tư Mã Phượng Cầu”? Đó là cả một vấn-đề và nhạc phải phản ảnh được tâm-cảnh của các nhân-vật trong từng giai-đoạn.

Sang phần 3 của “Minh họa Kiều”, Phạm Duy cho rằng ta có quá nhiều biến-cố dồn dập, từ “cơn gia biến” do thằng bán tơ vu oan giá họa đem thảm-kịch đến gia-đình đang yên ấm của họ Vương cho đến “tấm lòng Kiều” phải “nhờ em, em có cậy lời / ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa…” Rồi trong “Đã bén tay phàm,” tác-giả còn phải mô tả cả một cuộc hiếp dâm (Mã Giám Sinh hiếp Kiều) bằng nhạc, hay kịch-tính trong màn “Tú Bà” đay nhiếc Kiều, toàn những cao-điểm để rồi phải lắng xuống với bài “Trước lầu Ngưng Bích.”

Với một hành-trình âm-nhạc như vậy, không lạ là Phạm Duy đã tận-dụng đến tối-đa những khả-năng của ngành âm-nhạc điện-tử mà người con của ông, Duy Cường, đã thành một chuyên-gia lão luyện. Chính Duy Cường là người đã về Việt Nam để đi thu tiếng của các loại đàn cổ-truyền Việt Nam ngõ hầu có thể đưa vào, đan vào với các âm-thanh của nhạc-khí Tây-phương. Cũng Duy Cường đi nghiên cứu nhạc phim của Trung-quốc để diễn tả những đoạn đi đường trường (tỷ như đoạn Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm-truy, kéo dài tới một tháng trời) hoặc đưa tiếng hét, tựa như tranh “The Cry” của Edvard Munch, vào đoạn muốn tả sự uất ức của Kiều dưới làn roi của Tú Bà.

Hơn thế nữa, trong “Minh họa Kiều” Phạm Duy còn có tham-vọng làm một thứ “opera” gần giống nhạc-kịch của Tây-phương, trong đó có đối-thoại, có đôi co, tranh chấp, thậm chí có cả đánh nhau.

Ông có thành công không? Đó là một điều mà nếu ta chỉ nghe một lần, hai lần thì chắc chắn chưa thể lãnh-hội được hết những cái mới mà ông tìm cách đưa vào âm-nhạc Việt Nam. Muốn hiểu “Minh Họa Kiều” có lẽ ta còn phải nghe đi nghe lại, nghe tái nghe hồi để cho nhạc trong đó nhập tâm ta và từng hồi, từng hồi, từng bản một xâm chiếm hồn ta. Lúc bấy giờ ta mới có thể có một sự phán-đoán chính-xác về tác-phẩm lớn này trong toàn-bộ sự-nghiệp âm-nhạc của Phạm Duy.

Hương Ca



Trái với cái công khó mà Phạm Duy đã bỏ vào “Minh họa Kiều,” những bài “Hương Ca” về quê hương “đổi mới” sau chiến-tranh huynh đệ tương tàn và sau khi hòa-bình được lập lại trong những năm qua, đã đem lại một niềm tin và sức sống thật trẻ cho quê hương-bất kể cộng-sản muốn gì. 82 triệu dân Việt Nam hôm nay sống, sống tràn trề với nghị-lực của riêng họ, và Phạm Duy, sau khi về nước đã tới 9 lần từ 4 năm qua, cho rằng như một nghệ-sĩ, ông không thể không nhìn thấy cái sức sống mãnh liệt đó của dân-tộc.

Vì thế nên ông đã đi tìm về những bài thơ của các thi-sĩ hiện-đại mà phổ thành những bản nhạc trẻ trung, đầy hy-vọng, sức sống vươn tràn. Dù như:

Em là con ngựa non thon vú

Giữa rừng người hoang vu

Anh và em lạc vô thành phố

Vó ngựa buồn quanh co…

(“Ngựa biển”, theo thơ Hoàng Hưng)

và dù như

Quê hương buồn một thời, một thời đau yếu

Bao loạn ly làm xơ xác miền quê yêu



song, cũng như người Pháp có thói nói, “Après la pluie, le beau temps”, nên



Bão và mưa, rồi nắng tỏa trưa, chiều

Trên đường làng hay trong vườn, nắng chiếu…

Quê hương phận nghèo trong năm tháng xấu

Nhớ rồi quên, ta phải sống với nhau

Có gì đâu mà ôm hoài mối sầu

Buồn với than, cũng xong rồi nỗi đau.

Quê hương một đồi non lá um

Em mơ màng, lả lướt, bước chân mềm

Vai kề vai, nắng Xuân

Đưa người trên lối quen

Không về cõi cũ, không chờ cõi tiên.

(“Trăng tàn trăng khuyết, Hoa nở hoa tàn”)

Có lẽ Phạm Duy đã bắt mạch được 82 triệu dân trong nước mà 60% dưới tuổi 30, nghĩa là không còn bao nhiêu ký-ức chiến-tranh, nên chỉ ham sống cho ngày hôm nay (“Không về cõi cũ, không chờ cõi tiên”). Cũng thế, từ xưa đã có câu ca-dao

Trăm năm dù lỗi hẹn hò

Cây đa bến cũ, con đò khác xưa



nên Phạm Duy đã chỉ đổi một chút để nhắc chúng ta là nếu đợi trăm năm thì chắc chắn là lỗi hẹn với quê hương cũng như lỗi hẹn với người tình (vì trăm năm thì đã đủ để có tới 4, 5 đời người lái đò rồi):

Nào đâu có trăm năm, đâu có trăm năm

Mà chờ mà đợi? Mà chờ đợi?

Nào đâu có kiếp sau, đâu có kiếp sau?

Mà đợi mà chờ?

Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang sông

Đất Mẹ, đất NÀNG, con sáo sang sông

Trăm năm bến cũ, có còn đó không?

Còn đó không?



Cây đa bến cũ còn lưa, bến cũ còn lưa

O đò năm trước đi mô không về…



(“Trăm năm bến cũ” phổ thơ Lưu Trọng Văn)

“Sexy” nhất trong mấy bài Hương Ca, nhưng cũng chứng tỏ ông già 84 còn gân lắm-và trong tinh-thần còn trẻ lắm-là bài “Tắm sông trăng”:

Lột áo ngang đầu, buông quần chùng xuống đất

Nhào xuống dòng sông, ý a sông sâu.

Ngâm mình trong nước gột hết u sầu

Giạng hai chân rộng bơi vào vào mộng mơ

Lặn sâu trong cõi thơ…

Lặn sâu trong cõi mơ…



Một giường sông trinh trắng

Mà tình yêu còn thiếu vắng

Một gối sông trầm lắng

Vì chưa hề biết mặn nồng

Chăn là mây còn thiếu

Mùi thơm ấm áp của bông

Ngân hà xưa lạnh vắng nay

Cuồn cuộn sóng yêu đương.

Vùng vẫy đôi bờ, khi chìm sâu xuống đáy

Khi ngóc đầu reo ý y a sông ơi!

Rộng rãi sông dài, ôm người yêu, sóng cưỡi

Tình đuối ngoài sông ý y a sông ơi!

Nhưng có lẽ không ai đi nghe Hương Ca mà ra về không thấy vang vang trong đầu những ấn-tượng mạnh của bài “Hương rừng” (theo ý thơ Sơn Nam) với những tiếng “ư,” “á” hay “ha” rất mạnh ở cuối các câu nhạc:



Trong khói sương mong manh (ư)

Có bóng người vô danh

Từ bên này sông Tiền (ư)

Qua bên kia sông Hậu…



Mang theo chiếc độc huyền



Và điệu thơ Lục Vân Tiên



Tới Cà Mau, Rạch Giá (á)

Cất chòi giữa rừng thiêng (ha ha)



Muỗi, vắt nhiều hơn cò (cò ơi)

Chướng khí mù như sương (mù sương)

Thân không là lính thú (u ú)

Sao không về cố hương (Ha)



… Yêu khu rừng dâng nước (ha)

Yêu tràm đứng hiên ngang (ha)

Yêu vo ve đàn muỗi (há)

Yêu lạch nước thân thương



Ta yêu đời mưa nắng (ha)

Yêu bùn cũng là yêu (ha)

Yêu quê hương ruộng đất (há)

Yêu sông rừng Cà Mau

Ôi Sông Rừng Cà Mau

Ôi Sông Rừng Cà Mau.

© 2004 talawas

 
© talawas 2026