Sun Shuyun là nhà văn nữ người Hoa đã lần theo bước đi của thày Trần Huyền Trang, trên hành trình đi Thiên Trúc để thỉnh ba bộ kinh, Tam Tạng. Bà đi trong một năm, trong khi thày Huyền Trang phải mất tám năm. Sau chuyến đi đó, bà viết quyển Vạn lý không một bóng mây. Ngoài ra, bà còn là con của một cán bộ trung kiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dưới đây, xin mời quý bạn đọc nghiền ngẫm nỗi chán chường của một đảng viên chuyên và hồng, sau cơn bão của Cách mạng Văn hóa.

Tôi chào đời năm 1963, cái năm mà bà tôi gọi là năm bất hạnh. Cha tôi thoát ly gia đình để cùng với hàng trăm nghìn công nhân viên chức, giáo viên, văn nghệ sĩ, kỹ sư và chiến sĩ tham gia một trong những chiến dịch vĩ đại nhất mà Mao Chủ tịch đã phát động, Chiến dịch Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa. Mục đích là để củng cố ý thức hệ cộng sản trong quần chúng. Chùa chiền bị triệt hạ, các thày lang chữa thuốc Bắc cổ truyền bị tố giác là phù thủy và tất cả các xưởng làm nhang trên đất nước đều phải thay đổi ngành nghề, chuyển sang làm giấy vệ sinh.
Khi cha tôi về nhà, bà tôi cho cha biết cái tin chẳng lành là nhà họ Tôn vừa cho ra đời một đứa con gái nữa, thay vì con trai như hằng mơ ước. Bà nói với cha tôi là lỗi tại bà vì bà không đi chùa hay đốt nhang khẩn cầu được nên mẹ tôi đã sinh gái, một thứ người ngợm chẳng đáng chi.
Cha tôi lắng nghe bà một cách dửng dưng. Ông đã tham gia chiến dịch bài trừ mê tín dị đoan ở nông thôn, nay về nhà thì lại đầy dẫy. Ông nổi cáu la lớn: “Mẹ cứ mê tín dị đoan hoài. Thần thánh có linh thiêng sao lại để cho dân chúng đói khổ trước kia? Mẹ biết không, họ chẳng bằng một phát rắm chó nữa. Tại sao mẹ chẳng chịu cầu nguyện Chủ tịch Mao có hơn không?”
Chưa đầy 16 tuổi, cha tôi tham gia cách mạng. Ông chiến đấu chống Nhật; ông hành quân qua khắp Trung Quốc để tóm thu đất nước về cho cộng sản; ông đánh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên, trở thành đảng viên cộng sản và lần hồi leo thang lãnh đạo. Ông sắt đá tin tưởng Mác, Lê và Chủ tịch Mao. Đối với cha tôi, Mao Chủ tịch, trước sau như một, là vị cứu tinh của dân tộc Trung Quốc.
Ông tôi bị Đảng gán tội địa chủ, dù ông chỉ sở hữu hai mẫu đất và mướn có hai nông dân làm công. Tuy lo ngại cho ông, trong nhật ký khi đang ở tuyến đầu Triều Tiên, cha tôi ghi: “Không được tình cảm ủy mị. Phải kiên quyết cách mạng đến cùng. Đảng bao giờ cũng đúng. Mình phải diệt trừ tệ nạn phong kiến.”
Tôi được nuôi dạy trong một bối cảnh như thế. Việc học tập chính trị nghiệt ngã xuyên suốt giáo trình của tôi đã biến tôi trở thành một con người hoàn toàn vô thần, cũng như phần đông những người Hoa sinh ra sau năm 1949. Người ta đã nhồi nhét vào đầu óc tôi quan niệm cho rằng Phật giáo là thuốc phiện của nhân dân và sư tăng và ni cô là những người ăn bám xã hội. Ở trường học, bọn tôi phải đọc quyển Sách nhỏ Đỏ của Mao Chủ tịch và tự phê tự kiểm để thấy rõ tâm tư tình cảm bản thân. Tôi ghi nhật ký, ghi nhận những sai trái của cá nhân tôi và đem ra đọc to cho cả lớp.
Năm lên lớp ba tiểu học, lúc đó tôi được 10 tuổi, có đoạn tôi ghi như thế này: “Chủ tịch Mao, lãnh tụ, người thày và người cầm lái vĩ đại của ta, có nói đoàn kết là trên hết: không có đoàn kết thì Đảng Cộng sản không làm sao thắng lợi được. Nhưng hôm nay mình lại đánh nhau với em trai mình. Nếu không đoàn kết được với ngay cả em thì làm sao đoàn kết được với tất cả mọi công dân của đất nước đây? Nếu dân chúng không đoàn kết được thì làm thế nào để đạt được mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản, là thiên đàng hạ giới đây? Mình cần phải đọc nhiều hơn nữa tuyển tập của Chủ tịch Mao, lắng nghe những gì Chủ tịch dạy và cố gắng trở thành đứa con ngoan của Người.”
Bà tôi chắc vô cùng cô đơn giữa chúng tôi. Cũng như hầu hết những người cùng thế hệ, bà theo đạo Phật (Mẹ của Mao cũng là người tin tưởng Phật giáo và, chịu ảnh hưởng của bà, hồi còn trẻ Mao cũng thờ cúng Đức Phật và còn có ý định lôi cuốn cha của ông theo Phật giáo nữa). Bà mất bảy người con trong số chín người, trong những năm có dịch đậu mùa, và rồi ông tôi lại mất sớm. Thế nên, quá nhiều điều bất hạnh của cuộc đời đã làm cho bà trở nên con người bơ vơ và ai ai trong làng cũng lánh xa bà. Bà cho rằng chắc là bà đã làm điều gì khủng khiếp lắm cho nên phải bị trừng phạt tàn nhẫn đến như thế.
Để sám hối, bà khấn vái ngày đêm và ăn ở tử tế với mọi người. Thế nhưng, niềm tin của bà lại làm hại sự nghiệp cách mạng của cha tôi. Tai và mắt của Đảng nằm trong các ủy ban phường khóm nên họ biết hết những gì xảy ra trong mọi nhà. Cha tôi có thể phải gặp khó khăn vì “không thu xếp được chuyện nhà”. Thậm chí cha tôi còn đem “những đồ vật dị đoan” của bà bán ra cho người thu mua phế liệu phế phẩm, như tượng Phật Quan Âm bằng đồng quý nhất của bà.
Bà buộc phải lén lút cầu khẩn trong bóng tối. Ngay cả bây giờ, tôi còn nhớ rõ mồn một cái đêm tôi phát hiện được bí mật của bà. Tối tôi ngủ chung một giường với bà, nằm trái trả, đầu người này ngó chân người kia, mãi cho đến khi tôi rời nhà vào đại học. Kỷ niệm đầu tiên và tồn tại mãi trong trí nhớ của tôi là khi chiếc chân bó của bà đạp vào mặt tôi. Bà không ngủ nhiều. Mỗi khi tôi thức giấc ban đêm là tôi thấy bà đã ngồi đó.
Ða phần vì tối quá nên tôi không trông thấy được bà, nhưng thỉnh thoảng mặt bà lảng vảng trên mặt tôi trong ánh sáng lờ mờ của vầng trăng. Bà trầm lặng; mắt bà gần như lòa, nhìn quanh quẩn như đang tìm một vật gì; mái tóc bạc trắng của bà rực sáng dưới ánh trăng; môi bà thầm lặng mấp máy trong khi bà liên tục bỏ những hạt đậu vào trong một cái chén đặt trước mặt. Chắc là bà đang cầu nguyện? Rồi có một đêm tôi hỏi thì bà gật đầu. Bà đếm từng hạt đậu để nhớ xem bà đã niệm Phật bao nhiêu lần [thay cho tràng chuỗi hạt].
Tôi rất đỗi ngạc nhiên, không biết phải khóc hay phải cười nữa. Tôi cảm thấy buồn vô hạn và muốn ôm lấy bờ vai mảnh khảnh của bà, lay cho bà tỉnh lại. Tại sao bà dốt nát quá vậy? Làm sao bà lại biết chắc rằng trên kia có thần linh chứng giám cho những lời nguyện cầu của bà? Ngoài ra, có thần thánh tiên Phật để làm gì khi họ chẳng giúp gì cho bà ngoài việc làm cho bà cảm thấy thiếu sót bổn phận nên ơn trên không bằng lòng?
Dẫu sao đi nữa, tôi cũng thừa biết rằng tôi chẳng khi nào thuyết phục được bà. Cha tôi còn chưa làm nổi huống gì tôi. Niềm tin đó đã cứu rỗi bà suốt cả đời. Đó là cuộc đời và lẽ sống của bà. Chúng tôi sống trong những thế giới khác biệt nhau. Mãi nhiều năm sau này, khi tôi lên đường đi tìm hiểu và phát hiện ra có những cái còn thâm thúy sâu xa hơn niềm tin của bà nữa, và tôi bắt đầu trân trọng điều đó.
Đời sống của chúng tôi đảo lộn quay cuồng trong thời Cách mạng Văn hóa những năm cuối thập niên sáu mươi và đầu bảy mươi. Nơi trú quán của gia đình đã làm cho cha tôi nhớ lại cảnh chiến trường, với tiếng súng máy, tiếng trọng pháo và tiếng bộc phá nổ ngày đêm. Chúng tôi không được phép ra khỏi nhà, một cái nhà trông gần như pháo đài, bao cát chất đầy cửa ra vào và cửa sổ bị bít kín bằng ván. Một người hàng xóm của chúng tôi bị đánh đập đến chết trước mặt vợ con, chỉ vì bọn Hồng Vệ binh không bằng lòng với cung cách ông ta thưa chuyện với họ. Bà rất bối rối, bèn hỏi cha tôi: “Bộ có giặc đến nơi rồi hả? Tại sao thiên hạ lại chém giết lẫn nhau thế?”. Cha tôi không trả lời.
Cha tôi thường nói trong suốt quãng đời cách mạng, ông chưa từng thấy nhiều tai ương đến như thế xảy ra nhân danh một chính nghĩa. Cha tôi vào Đảng từ năm 1942, từng giết quân thù ở mặt trận không chút hối hận, chẳng một lời than thở khi ông tôi bị tố giác là một “kẻ thù của nhân dân”, và không hề băn khoăn giằn vặt khi Mao bắt giam hàng triệu trí thức vì tội dám nói lên suy nghĩ của mình.
Nhưng lần này thì chuyện gì đây? Xưa nay, chưa bao giờ cả nước, hàng trăm triệu con người, phải suy nghĩ như nhau, nói lên một tiếng nói duy nhất, chỉ đọc tác phẩm của một người, và bị xét xử qua tiêu chuẩn của một cá nhân. Xưa nay, chưa bao giờ truyền thống của ta bị xáo trộn đến như thế, gia đình tan nát, chồng chống lại vợ và con cái chống lại cha mẹ.
Đảng không còn ai lèo lái nữa, tất cả lãnh đạo cấp cao đều bị đi tù hoặc bị giết chết. Công nhân không làm việc, nông trại ngừng sản xuất, chuyên viên khoa học và văn nghệ sĩ vào trại lao cải, quan tòa, thày kiện và cảnh sát đi nằm nhà pha chứ không phải bọn tội phạm, thanh niên nam nữ bị đưa về nông thôn để đi học tập cải tạo.
Ngoài việc hủy hoại thể xác ra, tác động tâm lý đến mỗi cá nhân còn thâm độc hơn. Cách mạng Văn hóa làm cho con người hư đốn tận cùng. Nhân danh cách mạng, họ rình rập, tố cáo, phản bội và sát hại nhau, không phân biệt người dưng nước lã, bạn bè, đồng chí hay bà con thân thuộc gì cả. Chừng ấy hy vọng, chừng ấy đau khổ và hy sinh, để được gì?
Cha tôi chẳng hiểu tại sao một lý tưởng đã từng làm cho ông tận tụy trung kiên đến như thế mà sao nay đã trở nên sai quấy một cách khủng khiếp. Ông không bao giờ nói nhiều, nhưng rõ ràng là ông đang nản lòng. Cha tôi cũng bắt đầu ân hận vì đã đối xử khắc nghiệt với bà trước kia, nhất là trong những năm cuối cùng của thập niên tám mươi, lúc Phật giáo được hồi sinh mạnh mẽ ở Trung Quốc.
Cha tôi mất năm 1997. Ông rất khỏe mạnh, không có lấy một ngày nghỉ bệnh, nhưng nỗi phiền muộn đó đã tàn phá sức khỏe của ông. Ông mắc bệnh tiểu đường và không mấy chốc mà bị bại liệt và mù lòa. Lẽ ra, công ty gỗ quốc doanh, nhiệm sở cuối cùng nơi ông lãnh đạo, phải chăm sóc ông, nhưng họ nói rằng không có khả năng để đài thọ y tế phí cho ông.
Cha tôi không bằng lòng để tôi đứng ra trang trải mọi thứ cho ông. Ônh cứ tin tưởng rằng nhà nước phải chăm sóc ông từ khi nằm nôi cho đến lúc xuống huyệt; ông đã cống hiến nửa thế kỷ đời mình cho Đảng thì nay phải đòi cho kỳ được. Sau khi cha tôi mãn phần, mẹ tôi lại tiếp tục đấu tranh cho quyền lợi của ông. Mẹ cứ đứng bên ngoài văn phòng của viên quản lý công ty ngày này qua ngày nọ trong khi xác cha tôi cứ nằm ở nhà quàn. Mãi cho đến khi, cuối cùng, họ chịu trả một nửa y tế phí của ông.
Trối trăng sau cùng của cha tôi là đừng tẩm liệm ông với bộ Âu phục mà tôi đã mua cho ông, cũng không phải là với bộ quân phục cũ, mà với cái áo đại cán kiểu Mao màu xanh dương. Quả thật là một ước muốn khó thỏa mãn vì nay không còn ai mặc thứ áo đó nữa. Chúng tôi đi lục lạo tìm kiếm cả ba ngày trời, cuối cùng mới tìm được ở một cửa hàng nhỏ vùng ngoại ô thành phố. Gia đình muốn chôn cha tôi với chiếc áo đó vì nó là hiện thân của ước vọng suốt đời của ông, của lý tưởng và của niềm tin vô tận, dù ông đã chết như một người tuyệt vọng. Cha tôi đã nhìn thấy tận mắt những gì ông tin tưởng đã sụp đổ tan tành quanh mình và không bao giờ ông tìm được một niềm tin khác.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas