Natalia Kraevskaia
“Time Out of Joint” (“Thời gian trật lề”) là triển lãm của năm nữ họa sĩ đương đại Úc, kéo dài từ ngày 9 tới ngày 17 tháng Tư tại trường Ðại Học Mỹ Thuật Hà Nội. Những tác phẩm của triển lãm đặt trọng tâm vào việc khám phá tầm quan trọng và ảnh hưởng của ký ức, tính chủ quan của nó, và mạch nối kết giữa ký ức, lịch sử và văn hóa chung. Theo curator của triển lãm, chị Carmen Grostal, phụ nữ thường được xem là những cầu nối văn hóa nối liền những thế hệ. Họ truyền tiếp cho thế hệ sau những truyền thống, tập tục, những nghi thức sinh hoạt gia đình, và lấy ký ức và chuyện kể của mình để vượt qua sự lạc lõng về địa lý cũng như xã hội.
Trong buổi khai mạc cuộc triển lãm, Ðại Sứ Úc tại Việt Nam, ông Joe Thwaites, đã nhấn mạnh rằng lịch sử của nước Úc là lịch sử của sự di dân. “Nhiều người Úc có cảm giác họ có bản sắc kép, văn hoá kép. Với 25 phần trăm dân số Úc được sinh ra ở một quốc gia khác, và 43 phần trăm có cha hoặc mẹ được sinh ra ở nước ngoài, tác động của việc di trú đối với nước Úc hiện đại ngày nay rất sâu đậm.”
Ba trong số năm hoạ sĩ của triển lãm sinh ra ở Việt Nam, và giờ đây họ trở về quê hương, mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật và kinh nghiệm sống. Hai hoạ sĩ còn lại cũng xuất thân trong một môi trường đa văn hoá. Sự khác biệt trong ký ức của họ (nhận thức về thời gian và sự dịch chuyển, những hồi ức của thời niên thiếu, những ấn tượng về một nền văn hóa mới), kỳ quặc thay, lại nhấn mạnh điểm tương đồng của họ, của những người quen thuộc và gắn bó với nhiều di sản.
Ráp nối của Hạnh Ngô, với những tấm sợi dệt dựa trên những mô-típ sứ cổ, chuyển thể những mảnh vỡ ký ức của chị thành một tác phẩm trông như trò chơi xếp hình. Tác phẩm nói tới sự ngắt quãng của một cuộc sống di dân, tới những ảo tượng dễ đổ vỡ và những hình dung lừa gạt.

Hạnh Ngô: Trung Hoa, (chi tiết) 1999 (tranh dệt – vải, sợi màu, polycarbinate khắc chìm, chì, kim bấm, 600 x 4000 cm)
Cố gắng ráp nối lại những hình mẫu, thực tế cũng như lý tưởng, từ ký ức của mình để tạo nên một hình tượng nguyên vẹn của chị cũng đồng điệu với installation tường của Helga Grove, một tác phẩm liên kết những không gian và thời gian vô cùng cách biệt. Chính trong thời gian làm việc ở Hà Nội, người nghệ sĩ Úc này đã được tặng một bản dịch tiếng Việt của bản sử thi Phần Lan mang tên Kevala, nơi cội rễ của chị. Chính sự tình cờ này đã làm chất xúc tác cho sáng tác mới của chị cho triển lãm, mà qua đó chị biểu lộ cảm xúc của mình với những nơi chốn nhất định.
Ðịa lý của những miền ký ức cũng là đầu nguồn của một tác phẩm khác, “Những con đường chưa đi qua” của Caroline Đặng Hồ Bích Tuyền. Những hình tượng của chị dựa trên những bản đồ và chia sẻ những ý niệm về di trú, trí nhớ và thời gian.

Carolin Đặng Hồ Bích Tuyền: Những con đường chưa đi qua, 2002 (lưới, sợi vải, màu goauche trên giấy 130 x 235 cm)
Các tác phẩm của hai hoạ sĩ khác, Trịnh Vũ và Nelia Justo, phản ánh quá trình tìm tòi của các tác giả về tác động của công nghệ vào mỹ thuật . “Tranh chấm” (“Dot Painting”) của Trịnh Vũ kết nối một kỹ thuật in ấn cổ truyền với công nghệ vi tính hiện đại và trình bày những nghiên cứu gần đây của chị về tương đồng và dị biệt .
Nelia Justo sử dụng môi trường điện tử như là một phương tiện để trình bày những tương quan giữa cái thuộc về lịch sử và cái mang tính đương đại. Những tác phẩm mang tính điêu khắc của chị nhấn mạnh sự năng động lịch sử của những tương tác Âu-Á. Những tác phẩm gần đây thể hiện những diễn dịch ẩn dụ của những mặt hàng thương mại giữa châu Á và châu Âu, và ảnh hưởng của nó đối với quá trình phát triển kỹ thuật.

Nelia Justo: Vườn rực sáng toàn hảo, 2002 (giấy bồi, MDF, vải, những vật luợm nhặt, màu sơn mài, những bộ phận máy móc điện tử, pin ắc-quy, máy xạc điện 63 x 60 x 10 cm)
Triển lãm “Time out of Joint” là một sự kiện đáng kể đối với cộng đồng mỹ thuật tại Hà Nội, không phải chỉ vì nó đem tới cho công chúng một biểu hiện của một nước Úc đa văn hoá đương đại, và tạo nên một cầu nối giữa Úc và Việt Nam. Triển lãm tại Ðại Học Mỹ Thuật Hà Nội này còn mang lại cho những hoạ sĩ trẻ và những sinh viên mỹ thuật một cơ hội tiếp cận cách sáng tạo mỹ thuật hoàn toàn khác với cách mà họ được dạy ở nhà trường. Tôi đã theo dõi phản ứng của các sinh viên ở hôm khai mạc: trông họ phân vân, có vẻ ngạc nhiên tự hỏi – đây mà cũng là nghệ thuật ư? Đồng thời, họ sẵn sàng thử và nắm bắt những mã khoá và ẩn dụ, chính những điều tạo ra nền tảng của hệ mỹ học của năm nghệ sĩ Úc này.
Với một sự kiện mỹ thuật hiếm hoi như vậy, đáng tiếc là trường Mỹ Thuật đã không coi sự hiện diện của hai nghệ sĩ và của curator (những người rất sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm nghệ thuật của họ với các nghệ sĩ Việt Nam) như một cơ hội để tổ chức một hội nghị một hội thảo, hay đơn giản một cuộc tranh luận, tương tự như các tranh luận được tổ chức kèm với các triển lãm của Viện Goethe, của Alliance Francaise, hay của Trung tâm Mỹ thuật Ðương Ðại Hà Nội. Có lẽ vượt qua những bước mòn của truyền thống hàn lâm cô độc không phải là điều dễ.
Khi va chạm với những diễn tưởng mỹ thuật xa lạ, phát hiện ra cách sử dụng không rập khuôn của những thể hình (media) khác nhau, tôi hy vọng rằng những nghệ sĩ trẻ Việt Nam sẽ tiếp tục những thử nghiệm của riêng mình mà không nảm chí, không lo sợ trượt ngã cũng như những giây phút thất bại.
Một viện bảo tàng hay một phòng tranh sẽ chẳng bao giờ là một nơi lý tưởng để ta cảm giác được những khái niệm và nhận thức vô thức về không gian và thời gian. Dù rằng mục đích chủ yếu của cuộc triển lãm – đi tìm một tương đương về mặt hình tượng cho sự ráp nối những khoảnh khắc và những nơi chốn khác nhau – đã đạt được một cách sáng tạo qua những thử nghiệm nắm bắt chuyển động, những thay đổi, quá khứ và hiện tại.
© 2003 talawas