Trần Thị Trường
1.
Tôi nghe nói Hitler từng bảo: “Có lột da tôi, tôi cũng không làm được một câu thơ”. Nếu điều này có thật thì cái thằng cha đảo lộn cả trật tự thế giới vào những năm 40 của thế kỷ trước, thằng cha đưa chủ nghĩa phát-xít của Mussolini lên một mức “hoàn hảo” và tự phong thánh cho mình ấy té ra là một người hiểu ngôn ngữ nên biết kính trọng thơ ca. Lẽ ra, cứ theo lý luận thì hắn không thể là kẻ lột da người, thiêu sống cả triệu dân Do Thái và đẩy chiến tranh thế giới thứ II đến mức kinh hoàng táng đởm đến như vậy. Hay là, hắn hiểu thơ ca song lòng tự ái của hắn đã thắng và cái đẹp dù đã giác ngộ hắn vẫn bị nhấn chìm vào một khát vọng vô bờ? Giống như Nero, đã đốt cả thành La Mã để tìm thi hứng?
Song dù thế nào thì tôi cũng tin rằng những câu thơ đã làm cả bạo chúa cũng là “người” nhất khi nói câu nói ấy là rất hiếm hoi. Không dài dằng dặc như Faust, không quá siêu hình như Mallarmé, sẽ ngắn hơn một chút so với Truyện Kiều của cụ Nguyễn ở Tiên Ðiền và… đành rằng các cụ ấy là những đại thi hào. Các cụ có là mãi mãi không? Không biết. Nhưng tôi cứ tự hỏi, hôm nay, thế hệ tư duy và giao tiếp bằng computer có bao nhiêu còn đọc, đã đọc và thích thơ các cụ?
2.
Chú tôi bảo cô tôi tư duy và giao tiếp… bằng thơ. Cô tôi là người loáng thoáng biết chữ Hán, thuộc sử Việt và học quốc ngữ, biết làm toán như học sinh lớp 5 ngày nay. Khi bảo tôi hương nhang, nấu cơm, cất áo trời mưa, cô đều nói có vần. Ðôi lúc cô đã nói bằng thơ của thiền sư thời Lý, của thi nhân đời Ðường hoặc bằng ca dao Việt, bị tôi phát hiện cô đỏ mặt: “Lẫn lúc nào không biết”. Chú tôi nghe chúng bạn gọi cô tôi là Nhà thơ. Phần lớn thơ của cô đều do cô “nghĩ thế nào nói thế” , cô dùng phương tiện ngôn ngữ để chuyển tải ý nghĩ, đơn giản trong câu chữ và thường sử dụng lời nói bình dị . Những bài ngắn, ý tứ, câu chữ tự nhiên, chú trọng một sự kiện, một tâm tình, tâm trạng… dần dần được thay thế bằng những bài dài hơn, câu chữ tự nhiên hơn nhưng khái quát được vấn đề rộng hơn và sâu sắc hơn. 30 năm qua đi, bây giờ đọc lại những bài thơ ấy của cô, tôi thấy chúng ngô nghê làm sao, song thừa nhận rằng nó đã thành những ấn tượng đẹp đẽ sống mãi trong ký ức của tôi.
3.
Tôi lớn lên, mang mặc cảm về sự thận trọng của Hitler và sự hồn nhiên của bà cô. Tôi kính trọng thơ và các nhà thơ song đôi khi cũng xem thường họ. Với tôi, thơ là đỉnh cao của ngôn ngữ. Tôi vừa tin rằng thơ được sản sinh bởi những bộ óc siêu việt lại vừa không lý giải được tại sao có những người ở những nấc thang đầu tiên của nhận thức có thể làm được những câu cũng rất thơ (mặc dầu trong cả cuộc đời họ không có mấy những bài như thế). “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ” ở chỗ này chăng? Thật không sao hiểu được.
4.
Không hiểu tại sao tôi lại có duyên với những cuộc nói chuyện thơ mà ban tổ chức muốn mời tôi chứ không mời… các nhà nghiên cứu. Kẻ lắm mặc cảm lại thường tự tin. Tôi tự tin đến mức nhận lời. Và cuộc nào cũng thấy người ta vừa trả tiền cao vừa… “lần sau lại mời chị đến”. Nhiều cuộc trôi chảy. Song một lần, trước những người “tuổi cao, trí càng cao” nhưng một lý do gì đó khiến họ không bận quản lý nữa, bỗng muốn… sáng tác và cụ thể là muốn làm thơ, tôi hơi bất ngờ. Nhìn quanh một lượt, nghĩ lẽ ra phải họ nên dự lớp tập huấn “Suối nguồn tươi trẻ” luyện thở trước, khi dồi dào sinh lực thì ngẫm nghĩ về …thời gian đã mất rồi hãy… Nhưng, đã đến phải nói… Có những bài tôi rất thích song hôm ấy tôi không thể đem ra mà nói. Chẳng hạn: “…Những khúc buồn lên tiếng lúc chiều sang/ Những tím nụ bằng lăng nhẹ vờn khi tắt nắng/ Những tiếng nói cuối ngày thả ra bầy chim đêm lẳng lặng/ Những ngôi sao sáng lên khi khuất ánh mặt trời…“. Những câu như thế hẳn sẽ làm họ ngủ gật, mặc dù…
Và tôi đã đem những câu sau đây ra đọc: “Chăn trâu đốt lửa trên đồng/ Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều/ Mải mê đuổi một con diều/ Củ khoai nướng để cả chiều thành tro. Kèm theo lời bình: “Câu 1: biểu tượng về cuộc hoá sinh của một người, của một đời. Câu 2: Trong cuộc hoá sinh ấy cái thực, cái sờ nắm được thì ít (rạ rơm) mà cái ảo, cái không nắm bắt được thì nhiều. Câu 3: mỗi người đều mải mê đuổi theo một cái gì đó, cao, xa, đẹp, khó… (thơ chẳng hạn) để câu 4: củ khoai (cái vật nuôi sống thân xác, hoặc chính cái xác thân mình) thành tro (tro bụi)… “. Thấy người nghe suýt soa, tôi dấn thêm: “Ðồng Ðức Bốn đã khái quát hoá kiếp nhân sinh nói chung và đời sống văn nghệ sĩ nói riêng, rất tài tình…Ðồng Ðức Bốn cũng tham dự … mải mê… cũng… được – mất và cảm thấy mình hạnh phúc “. Chỉ tiếc rằng, những người nghe thơ hôm ấy chẳng còn cơ hội để đuổi theo một cái gì hơn nữa… Ở một cuộc khác, toàn phụ nữ. Nhìn các chị háo hức nghe thơ, tôi lại đem câu “…Ðừng buông giọt mắt xuống sông/ Tôi về dẫu chỉ đò không cũng chìm… Tôi tán: “Các chị thấy không, người ta nói nặng tình. Chúng ta nặng về tình chứ không nặng về… pháp luật. Cứ đem tình ra đối – đãi, ứng – xử, giao- tiếp, làm- lụng… là mọi cái trôi chảy. Nói thế thô, thậm chí tục. Thơ ư, phải nói như Ðồng Ðức Bốn, cái giọt mắt của các chị chỉ buông xuống sông thôi mà thuyền của anh ta đi ngang cũng chìm đấy.”. Rồi tôi nhìn thấy vẻ tái tê, rưng rức, háo hức… trên mặt các chị. Một lần khác với một số người trẻ tôi đọc: “Chiều nay Hồ Tây có giông/ Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm“. Tôi nói với họ: Câu này của Ðồng Ðức Bốn ngang ngửa , thậm chí thoáng đãng hơn câu: “Làm chi cũng chẳng làm chi/ dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao/ Làm sao cũng chẳng làm sao/ dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi ” của tiên sinh Phan Khôi (trong giới hạn những câu lục bát). Tôi động viên rằng: Thế đấy, các bạn trẻ , mọi gian nguy cuộc sống chẳng có gì đáng ngại nếu ta có trong ta một tri thức, một cái ví nhiều tiền, một sự liều lĩnh và một chút anh hùng… Cuối cùng người nghe đã… vỗ tay cho tôi!
Nếu gọi đó là thành công thì Ðồng Ðức Bốn rất thành công. Tôi yêu quý, kính trọng nhiều nhà thơ. Thơ, ngoài tài năng ra còn là đỉnh cao của lao động chữ nghĩa. Tôi cũng đã từng nhớ lục bát của Bùi Giáng (Em đi từ tỉnh mộng đầu/ Hết vui hết khổ hết sầu trăm năm/ Cõi nào rất mực xa xăm/ Máu tim băng giá bóng tăm mơ màng) hay những câu lục bát của Nguyễn Bính, Nguyễn Duy mà nhiều người bạn của tôi đã vì nó mà nghiêng cả cuộc đời thì với những lúc “nguy cấp”, bất ngờ như những hôm tôi gặp ấy cũng không sao nhớ được cách trọn vẹn, hoặc có nhớ mà đem ra đọc thì tôi cũng cảm thấy không đủ khả năng nói cho… kín nhẽ (cho ra nhẽ) như với lục bát của Ðồng Ðức Bốn.
5.
Có người nói: Cái tên anh ta bao hàm cái nghĩa: Ðức của anh đủ bốn đồng. Nhiều cái gắn anh với con số 4. Cả 4 phương của Ðạo, nơi nào anh cũng đến và phương nào cũng thấy có những giai thoại kể về anh ta, thôi thì đủ cả. Nhưng phải chăng anh ta lăn lóc hết mình như thế để có được: “Tôi thường đi trên lưỡi dao/ Tay cầm cơn bão đem vào cho em” và để có: “…Ðã qua nhiều những chông gai/ thì sau cái chết ban mai phải hồng…” cũng như: …Vớt bùn không lấm bàn tay/ vịn nắng thấy bão trên cây còn nhiều/ đã từng gom bão làm chiều/ thì ai gieo gió đặt điều cũng qua…”
6.
Tôi đã từng phải đi qua một quãng dài rộng của không gian và thời gian, phải nỗ lực học cách đào bới vào những vỉa tầng của ngôn ngữ, học cách giải mã các biểu tượng của từ, của âm thanh và nhạc điệu, học cách làm trống không bản ngã để hiểu vô ngôn trong thơ… thì mới nhìn thấy chiều kích của những câu Faust, Mallarmé hay Apollinaire… Lê Ðạt, Trần Dần, Dương Tường… và… và… vân vân. Song thừa nhận rằng vừa thích cả thế giới thi ca kia tôi vừa thích một vài câu của Ðồng Ðức Bốn. Một vài thôi trong tổng số bài của anh. Tôi tiếc, giá anh đừng có nhiều những hình ảnh lặp đi lặp lại trong một hình thức sáu-tám giống nhau, giá anh biết vứt bớt một số lục bát không thơ của mình… thì anh là một thứ hạng rất cao trong làng lục bát, những còn lại sẽ mãi mãi có mặt trong tâm thức thơ của người Việt chúng ta.
Và nếu tôi không nghe kể về những chuyện rất không thơ như chuyện anh ta mắng bạn gái của tôi (TBT một tờ báo có uy tín) vì đã không kịp in thơ của anh vào số Tết, và một số những chuyện… khủng khiếp khác về anh thì…tôi có thể tin câu người ta vẫn nói: thi nhân mang gương mặt của những … thánh thần.
3/4/03
© 2003 talawas