Những điều chưa sáng tỏ
Người đọc Việt bình thường, dù sao, vẫn xa lạ với những hiểu biết của phương Tây, nên họ rất cần đọc những bài viết có dẫn giải căn bản, nhưng có lẽ, từ lâu rồi, trong cách viết, cách truyền đạt của chúng ta đã có điều gì không ổn, nên người đọc không nắm được vấn đề, và thường dị ứng với những bài viết mang tính học thuật phương Tây. Qua tiểu mục: “IV. Tìm một điểm tựa mới” gồm 6 trang viết trên TC Hợp Lưu số 68 (trong một bài viết dài 34 trang tựa đề “Vấn đề đoạn tuyệt với quá khứ để lên đường”) của nhà phê bình Thụy Khuê, chúng ta thử rút tỉa một vài kinh nghiệm, để điều chỉnh lại một số thiếu sót, hầu đạt được kết quả mong muốn trên con đường cầu học. Ðây cũng chỉ là vài nhận xét tượng trưng:
1.
Tác giả cho rằng “Post-moderne (Hậu hiện đại) của Lyotard có những nét giống Déconstruction: Post-moderne, trước hết, coi mỗi phát biểu (văn bản) là những trò chơi ngôn ngữ (jeux de langage), déconstruction coi văn chương như trò chơi của các phép tu từ (jeux de rhétorique)”
Người đọc không hiểu hậu hiện đại của Lyotard là hậu hiện đại gì? Lyotard lý giải những hoài nghi của ông về quan điểm của Lacan, vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ, về siêu truyện kể (metanarrative) qua huyền thoại, tôn giáo, triết học, khoa học, trình bày vai trò của computer và những công ty đa quốc gia vượt lên khỏi biên giới của các quốc gia. Cũng như Baudrillard luận về ảo thực, về vai trò TV trong đời sống, về cái chết của ý nghĩa, cái chết của thực tại, cái chết của chính trị và cái chết của tính dục. Tất cả đều là những lý giải đầy quyến rũ và sống động, giải thích thực trạng xã hội, lịch sử và những hiện tượng đời sống phương Tây. Còn trò chơi ngôn ngữ và trò chơi của các phép tu từ chắc không phải là cách chọn chữ, dùng chữ theo quan niệm Việt nam? Khi những triết gia khuynh tả hồ nghi những huyền hoại lớn như chủ nghĩa Mác xít, cộng sản, rút lui khỏi chính trị, nổi loạn trong ngữ học như những hành động lật đổ chính trị trong chính họ, coi ngôn ngữ như một biểu tượng của quyền lực, tiêu biểu cho cái trung tâm. Derrida lý giải về sự vắng mặt và có mặt, cái trung tâm và ngoại biên, cái ngoại biên biến thành trung tâm, và chỉ là cái trung tâm trong khoảnh khắc, vì thế những nhà thơ Ngôn ngữ Hoa kỳ đã phần mảnh ngôn ngữ và ngữ pháp đi, biến thành một trò chơi ngôn ngữ, đầy cao cấp, mà muốn hiểu phải biết cái mã số mà họ sử dụng, mã số đó chính là cú pháp văn phạm.
2.
Một điểm nữa, tác giả viết: “Sau khi các trường phái lần lượt đánh đổ nhau, hiện nay ở trong một môi trường “hầu như” tự do tuyệt đối. Mỗi người có quyền tạo ra một thứ mỹ học riêng của mình, và để hiểu những đối tượng mỹ học rất cá nhân, rất đặc thù như vậy, người phê bình phải nhìn mỗi trường hợp như một hiện tượng nghiên cứu và học hỏi khác nhau, phải dùng sự mẫn cảm của mình, cùng tài năng và trí tuệ để tìm hiểu từng hiện tượng một, bởi vì nó đã ra ngoài tất cả những qui luật chung.”
Ðọc đoạn văn trên, chúng ta không biết đó là quan điểm ở thời kỳ nào, ở Pháp hay Hoa kỳ? Ở Hoa kỳ, từ thập niên 1950 đến 1980 bao gồm trong tuyển tập Thơ Hậu hiện đại Hoa kỳ (Postmodern American Poetry), do Norton xuất bản năm 1994, liên tiếp là những phong trào tiền phong lớn, từ Black Mountain, New York school, Thế hệ Beat, Phong trào Tự thú, phong trào tiền phong Thơ Ngôn ngữ, và từ thập niên 1990 đến bây giờ là thơ Tân hình thức… Ðúng ra, nghe hao hao giống những thời đầu thế kỷ với những nhà thơ tiền phong Ezra Pound, T.S. Eliot, e.e. cummings… mỗi người đi tìm một phong cách riêng, không ai giống ai, hay như những sáng tác của Lê Ðạt, Bùi Giáng, Ðặng Ðình Hưng, Thanh Tâm Tuyền thời thập niên 1960. Ngay cả tựa đề: “Ðoạn tuyệt với quá khứ để lên đường”, “Tìm một điểm tựa mới” cũng làm chúng ta liên tưởng tới phong trào Hình tượng mở đầu cho thời hiện đại với Ezra Pound, T.E. Hulme, Amy Lowell vào năm 1912, trong thơ Hoa kỳ. Ðó là quan điểm của thời Hiện đại, chủ trương chặt đứt quá khứ (trong khi hậu hiện đại lại quay về quá khứ), đã gần một thế kỷ rồi. Những trường phái văn học hay triết học phương Tây đâu phải như trò đấu vật hay những mốt thời trang, mà là những vận chuyển tự nhiên, một trường phái này tưởng là biến mất nhưng thật ra nó chỉ biến thể để thành một trường phái khác, như những vòng xoáy của dòng sông tan đi, nhưng chẳng hề mất mà biến thành một vòng xoáy khác, nương theo những biến đổi của thời đại, đời sống xã hội và khoa học.
3.
Tác giả trích dẫn Valéry: “Thơ hay phải chuyên chở cả nội dung lẫn hình thức, hình thức là nội dung, nội dung là hình thức”
Một câu đơn giản là thế, nhưng muốn giải thích thế nào là nội dung, hình thức, phải phân tích ngôn ngữ và nguyên tắc thơ tự do Anh, Pháp, để người đọc so sánh, vì câu trên chỉ ứng dụng với thơ tự do phương Tây. Thí dụ, Tân hình thức (New Formalism), nếu hiểu theo nghĩa đen của chữ thì hỏng. Chữ “form” phải hiểu là thể thơ như thể sonnet, thể thơ không vần trong thơ tiếng Anh, hoặc thể thơ 5, 7, 8 chữ, lục bát trong thơ Việt. Thể thơ thì trung tính (neutral), không phải là thơ. Còn hình thức, thường được hiểu là hình thức trên trang giấy, liên hệ tới thơ tự do. Hình thức là nội dung kéo dài, theo quan điểm của Charles Olson, liên hệ chặt chẽ tới nội dung, mà chúng tôi đã phân tích trong bài “Tân hình thức và thể thơ không vần”, xin miễn đề cập. Còn những bài thơ tự do tu từ Việt, với những câu dài ngắn, không thể hiểu là hình thức theo quan niệm của Valéry được, vì đâu có ăn nhập gì tới nội dung.
Chỉ gọn trong một trang, tác giả đề cập tới hàng loạt những tên tuổi lớn mà ngay những học giả phương Tây cũng phải tốn cả ngàn trang, nào là Nietzsche, Heidegger, Marcel, Jasper, Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Michel Foucault, Lévi- Strauss, Derrida… Những tên tuổi ấy, người đọc phương Tây cũng chưa chắc hiểu nổi, nói gì tới người đọc Việt. Nhưng tác giả chỉ đưa ra những phán đoán mà không hề chứng minh hay giải thích rõ ràng, nên người đọc có cảm tưởng đang đi giữa đường bị trúng một cơn mưa chữ, tối tăm mặt mũi. “Nietzsche hạ bệ Thượng đế”, tại sao lại hạ bệ? Hạ bệ rồi làm sao? Chúng ta thử lý luận vui vui về đoạn này xem sao, như một trong những thí dụ đơn giản, dễ hiểu để người đọc có thể theo dõi được vấn đề:
Không bằng lòng với những giá trị thời kỳ Ánh sáng (Enlightenment values) như Thượng đế (Christian God), Ðức lý (Christian morality) hay những tiến bộ khoa học (scientific progress) – trung tâm điểm của nền văn hóa phương Tây — Nietzche bèn hạ bệ Thượng đế. Nhưng sau đó, không giống như phương Ðông, họ không thể sống an bình trong cái trống không (void), mà phải tìm cách thay thế bằng một thứ Thượng đế khác. Siêu nhân chăng? Nhưng siêu nhân lại đẻ ra hàng loạt những Thượng đế đồ tể như Stalin, Hitler, Mao… Nietzsche bị đốn ngã. Nhưng Nietzsche là một khuôn mặt vĩ đại đã làm xao xuyến nền văn minh phương Tây. Còn những nghệ sĩ thời hiện đại thì sao? Họ đi tìm những giá trị vĩnh cửu, như vai trò một siêu nhân, khám phá lại những yếu tính của con người, để làm đầy cái trống không trong thời hậu Nietzsche — mỹ học trở thành cái trung tâm, văn nghệ vị văn nghệ, làm mới (make it new), và nghệ sĩ là những kẻ sáng tạo, những bậc thầy, những khuôn mặt tiền phong. Khi nghệ sĩ trở thành kẻ sáng tạo, hiện đại trở thành hiện đại cao cấp — nghệ thuật cấp thấp và tầng lớp trung lưu bị đẩy ra ngoài lề — dành riêng cho một thiểu số ưu tú. James Joyce với “Ulysses”, thử nghiệm phong cách dòng ý thức, cuốn người đọc vào trong dòng chảy cuồn cuộn theo cá tính tâm thần nhân vật. T.S. Eliot với “Waste Land”, viết theo cách phần mảnh, đầy những biểu tượng huyền thoại, tôn giáo và lịch sử, miêu tả tinh thần và xã hội trong tuyệt vọng và phần mảnh, tìm kiếm và khôi phục cái trung tâm mới. Một trong những biểu tượng làm đầy cái trống không ấy, sau khi Thượng đế đã chết là biểu tượng cỗ máy (machine). Ezra Pound chẳng cho là chữ như những cỗ máy, và William Carlos Williams cho rằng toàn thể bài thơ là một cỗ máy làm bởi những chữ, trong tư tưởng kiến trúc hiện đại, những tòa nhà là những cỗ máy để ở, và trong chiến tranh là những lò sát sinh hàng loạt của Ðức quốc xã.
Những chuyển biến của một phong trào
Thật ra, ở vào thập niên 1980, Hoa kỳ là mảnh đất mầu mỡ, với một xã hội tiêu thụ đủ tiêu chuẩn để thực hành chủ nghĩa hậu hiện đại, và qua thời gian, đã vượt qua khỏi tầm lý thuyết. Một chủ nghĩa lớn, tiêu biểu cho một nền văn minh, ảnh hưởng sâu xa đến mọi ngõ ngách đời sống và xã hội con người, đâu phải chỉ cho là một “mớ lý thuyết” xuông. Chủ nghĩa Cấu trúc là một phương pháp luận, coi những cấu trúc văn hóa xã hội giống như cấu trúc ngôn ngữ, có thể áp dụng để phân tích, tìm hiểu những hiện trạng xã hội, văn hóa, cả trong ngôn ngữ, khảo cổ học và những hiện tượng thời trang, áp dụng vào phê bình và sáng tác văn học. Nhưng nó cũng là một triết học với một thế giới quan phong phú về kiến thức và hiện thực. Hủy cấu trúc, tiền thân của Hậu hiện đại cũng vậy – Derrida không thích tiếp đầu ngữ Post, vì cho rằng Hủy cấu trúc không tùy thuộc vào một thời kỳ hay thời đại nào – là một phương pháp (method) phân tích (analysis), phê bình (critique), mà muốn áp dụng vào trong thực hành phải am hiểu thấu đáo vấn đề, mới nắm chắc được phần lý luận, và như thế ích lợi sẽ không nhỏ, chẳng những cho người đọc mà còn cho chính người phê bình có cơ hội phát triển tài năng lý luận của mình.
Tác giả viết: “chính bản thân hai chủ nghĩa này cũng chỉ là một trò chơi của lý luận”, nhưng người đọc không hiểu tại sao đó lại chỉ là một trò chơi của lý luận, và phải hiểu trò chơi ở đây như thế nào. Trong đời sống con người cái gì không phải là một trò chơi. Chính trị kinh tế là trò chơi của bọn quyền lực, và trò chơi này kéo theo trò chơi khác, và không ai có khả năng tạo ra những trò chơi. Một cánh bướm ở Texas có thể làm bão tố ở Ba tây, một lá phiếu có thể thay đổi quyền lực, đưa một đất nước đi theo một ngả khác, làm thay đổi diện mạo thế giới, tùy theo nước lớn hay nhỏ. Những trò chơi đó được hình thành và kết hợp rất nhiều yếu tố phức tạp từ văn hóa, xã hội, kinh tế và những tiến bộ khoa học. Văn minh phương Tây và những chủ thuyết triết học đặt căn bản trên phương pháp luận, do đó muốn trình bày cho người đọc Việt hiểu phải bằng luận giải có ngọn ngành, dẫn họ theo bằng nghệ thuật lý luận. Nếu ví cuộc đời như một cuộc cờ, thì hậu cấu trúc hay hậu hiện đại là những nước cờ. Ðó là những trò chơi lý luận tuyệt kỳ thú vị của giới trí thức phương Tây, mà muốn am hiểu phải bằng lý luận, mới nhận ra những nước cờ hay, dở. Những tay đại kỳ thủ thường chuẩn bị nhiều nước cờ để luôn luôn có thể chuyển nước, nương theo những biến đổi của thời thế. Hậu cấu trúc chuyển qua hậu hiện đại, đó là một nước cờ chuyển. Nhưng mỗi khi chuyển phải có một biến cố nào gây chấn động. Hãy trở về biến cố tháng 5 – 1968, khi Việt nam vẫn còn mịt mù trong khói lửa chiến tranh, thì tại Paris phong trào sinh viên nổi dậy, được sự hổ trợ của phe Tả và các cuộc đình công của các công đoàn, nhưng không thành công. Ðiều này đã tác động mạnh mẽ tới giới trí thức khuynh tả như Jean-Francois Lyotard, Fredric Jameson, Jean Baudrillard… và họ hiểu rằng, tư tưởng mác xít chưa đủ để giải thích đời sống trong xã hội tư bản, và họ phải quay về với chủ nghĩa cấu trúc và khoa ký hiệu học (semiotics) để bổ sung thêm. Những biến cố lớn hay nhỏ tạo nên những bước chuyển lớn hay nhỏ. Sau khi Lyotard cho rằng khoa học đã không mang lại tiến bộ và phúc lợi cho con người, với hai cuộc đại chiến, những vũ khí giết người hàng loạt, và lò thiêu người, thì những nhà khoa học vẫn lẳng lặng làm công việc của họ. Lý thuyết Hỗn mang (chaos) và Hình học Fractal ra đời, thay thế khoa học Newton, mở ra một kỷ nguyên khoa học mới. Khoa học đóng góp thêm vào bước chuyển, nhưng phải đợi đến biến cố 11 tháng 9 năm 2001, những nhà trí thức mới nhận ra nguy cơ thách đố nền văn minh phương Tây, và thế giới tự nó tạo ra ván cờ mới, trong lý tưởng mang lại sự chia sẻ, cảm thông, bình đẳng tới mọi con người. Bước chuyển này không còn là bước chuyển của những nước cờ nữa, mà là của một ván cờ, bởi vì những biến động bất ngờ về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Phương pháp cũng thay đổi, không ai còn có thể nói trước được điều gì, chỉ còn cách thích nghi với hoàn cảnh. Cái hay và thú vị nơi những triết gia hậu cấu trúc và hậu hiện đại là nơi những quan sát và luận giải của họ về ngôn ngữ, văn học nghệ thuật, và đời sống xã hội,.
Charles Jencks, nhà phê bình và lý thuyết kiến trúc hậu hiện đại thập niên 1980 cho rằng những nhà văn như James Joyce, Samuel Beckett, nhà soạn nhạc John Cage không phải là hậu hiện đại mà chỉ là những nhà hiện đại cuối cùng vì tác phẩm của họ quá khó hiểu. Nhưng những tác phẩm văn học thập niên 1980 cũng rất khó hiểu với những truyện phần mảnh, thơ Ngôn ngữ Hoa kỳ, và ngay cả kịch chiều sâu tâm lý của kịch tác gia tiền phong Hoa kỳ Richard Foreman, khán giả đến xem chỉ đếm trên đầu ngón tay, gồm những nhà phê bình, đạo diễn, diễn viên, chứ người bình thường chẳng có ai. Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại từ thập niên 1950-1980 có thể coi là thời kỳ quá độ của chủ nghĩa hiện đại, trước khi chuyển qua một thời kỳ khác. Chúng ta cũng có thể ghi nhận thêm, theo Baudrillard, đời sống văn hóa bị chi phối bởi những mã số, và mỗi khi trả lời “có” (yes) hoặc “không” (no), chúng ta quyết định sự chọn lựa về thời trang, quảng cáo, chương trình truyền hình, thăm dò bầu cử (poll)… Ðời sống bị kiềm chế bởi hệ thống chọn lựa đôi (system of binary choice): “hỏi/trả lời” (question/answer), “cái này/hoặc cái kia” (either/or), và ông mượn ngôn ngữ của computer để diễn đạt mã số đôi đó là “0/1”. Baudrillard cho rằng hai tháp song sinh của Trung tâm Thương mại Thế giới ( World Trade Center) ở New York biểu tượng cho hệ thống đôi này. Ðiều này có ý nghĩa gì khi hai tòa nhà đó bị khủng bố giật sập thành tro bụi. Có phải người ta phải xét lại những hệ quả của nền văn minh, khi mà khoa học kỹ thuật đã tiến vượt bực, và trong giây phút toàn thể thế giới được nhìn rõ từng góc cạnh, với đầy cảnh nghèo khó, lầm than, tương phản với tiện nghi của những xã hội tiêu thụ. Hoa kỳ với sức mạnh vô song, nhưng không thể sống biệt lập, sung túc trong khi những dân tộc khác vẫn còn ở dưới mức tối thiểu. Phản hồi và lập lại, văn minh phương Tây đang trên đường trở về với những lý tưởng thời Phục hưng, chia sẻ những khốn khó với toàn thể nhân loại, để cùng nhau kiến tạo một thế giới an bình. Trở về truyền thống không phải sao chép truyền thống, và cũng không phải như quan niệm của hậu hiện đại cho rằng, quá khứ không thể bị tiêu hủy bởi vì tiêu hủy chỉ dẫn tới sự im lặng, và rằng quá khứ phải được thăm dò lại, nhưng với sự châm biếm chứ không phải một cách vô tư. Trở về truyền thống ở đây là thay đổi truyền thống, làm thành một truyền thống khác, khó vô cùng khó, và nghệ sĩ phải là những người có thực tài. Thơ trở về với thể thơ, truyện với cốt truyện, hội họa với chân dung, phong cảnh, kịch với số phận nhân vật, kiến trúc với kiến trúc Fractal…Thế giới đang mở ra thời kỳ Phục hưng mới. Ðó cũng là một bước chuyển lớn, sau hiện đại và hậu hiện đại, 300 năm mới có một lần nếu chúng ta tính từ lúc suy tàn vào cuối thế kỷ 17 của thời Phục hưng (bắt đầu từ thế kỷ 14, với nhà thơ kiêm triết gia Ý Francesco Petrarch) và khoa học Newton hơn 300 năm trước đây.
Cách đọc và viết
Ảnh hưởng sâu đậm tinh thần Ðường thi, nền văn chương Việt dựa vào nghệ thuật tu từ, chọn chữ, dụng từ sao cho đắc địa, ít lời nhiều ý, nên chúng ta không có thói quen giải thích, lý luận. Những nhà văn nhà thơ nổi tiếng được của nền văn chương này đều là những người giỏi về thuật tu từ. Ngay cả trong nhạc, lời của nhạc cũng chẳng khác gì lời thơ, đầy ẩn dụ, mông lung, khó hiểu, và cái hay là ở lời chứ không phải ở nhạc, không giống nhạc phương Tây, lời rất bình thường dễ hiểu, nhưng cái hay lại là cái hay của nhạc, nhạc làm cho lời hay thêm. Còn những nhà thơ làm thơ tự do như Nguyễn Hoàng Nam, Ðỗ Kh. và một số nhà thơ, nhà văn tiếp nhận những cái học trực tiếp từ các trường ốc phương Tây, thơ hay truyện của họ không thuộc loại tu từ, vì thế ít được chú ý, có khi còn bị coi là không hay, đồng hóa cái bình thường giản dị với tầm thường. Cách sáng tác theo tu từ như vậy nên khi phê bình, nương theo những ý nghĩa mù mờ không rõ ràng của chữ để suy diễn, đôi khi quá đà, dễ rơi vào cảm tính, dùng những lời lẽ lớn lao, không đúng với thực chất tác phẩm, chỉ viết về những tác giả mình thích, hoặc quen biết, còn không thì không đề cập tới hoặc chê bai — nhất là khi nhà phê bình lại dùng những kiến thức từ sách vở phương Tây để suy diễn, dù rằng tác giả hay tác phẩm đó chẳng ăn nhập gì tới phương Tây. Khác biệt giữa ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, xã hội và thời đại nên khi tiếp cận với một nền văn học khác, làm sao chúng ta cảm và hiểu được, dù một bài thơ, một cuốn truyện, như người đọc của nền văn học đó. Vì thế những tác phẩm Việt nam nếu có ảnh hưởng thì cũng chẳng bao nhiêu, thí dụ khi những nhà thơ tự do Việt tiếp nhận thơ tự do Pháp, chỉ qua tác phẩm trên mặt giấy, nên dù có hòa trộn những tư tưởng hiện sinh, siêu thực… vẫn biến thành loại thơ tự do tu từ, đặc biệt Việt Nam. Những người viết nhận định phê bình thập niên 1960, đã không đúng khi dựa vào những bài viết phê bình của những nhà phê bình phương Tây, rồi mang những tác phẩm Việt ra so sánh một cách gượng ép. Viết theo kiểu trích dẫn không sai, nhưng trích dẫn mà không giải thích là một điều khó chấp nhận được. Những tiến bộ kỹ thuật ngày nay đang làm thay đổi đời sống và nhận thức con người, chẳng phải chỉ ở phương Tây mà toàn thế giới, giúp chúng ta biết được tại sao bộ môn văn học lại rơi cái vòng luẩn quẩn đó, như Lý thuyết hỗn mang giúp nhìn rõ được những biến cố tự nhiên trong đời sống con người, và nhận ra những quan niệm sai lầm trước kia của khoa học thời Newton. Trong đời sống xã hội phương Tây, mỗi cá nhân có nhiều bộ mặt, và mỗi bộ mặt là một mã số. Nếu ngôn ngữ bị chi phối bởi mã số văn phạm cú pháp, thì đời sống văn hóa bị chi phối bởi rất nhiều mã số khác nhau qua quảng cáo, TV, báo chí, ngay cả sách dạy nấu ăn, video tính dục, video thể dục thẩm mỹ… Qua những mã số chúng ta biết chúng ta là ai. Nếu mua nhà hay mua xe trả góp, họ sẽ coi xem mình có credit tốt hay xấu, có khả năng trả nợ hay không, chứ không ai lại xem gia cảnh vợ con người mua như thế nào… Trong văn học cũng vậy, phê bình theo phương pháp tu từ, chúng ta dùng tu từ, phát hiện những lời hay ý đẹp trong tác phẩm. Ðã có không ít những bài viết hay về thơ Ðường, Tiền chiến, Truyện Kiều, đều dùng cách này, chọn lời, chọn chữ, sao cho đọc lên nghe hay là được. Nếu đọc là giải mã để bước vào tác phẩm thì chúng ta phải biết tác phẩm đó thuộc về mã số nào, vì mỗi mã số có những yếu tố và nguyên tắc khác nhau. Biết được mã số mới thưởng thức được cái hay của tác phẩm. Mã số của thơ Tiền chiến và tự do Việt là mã số tu từ vì sáng tác theo phương pháp tu từ. Thơ tự do phương Tây, Tân hình thức Việt là mã số văn phạm cú pháp, mã số để đọc và viết về những chủ thuyết triết học là lý luận, và mã số của thơ chụp bắt được rút ra từ Dada, Pop Art, Hội họa Ý niệm… Không có mã số nào là dở, là hay, chỉ có tác phẩm dở và hay. Không phải ai cũng có tài thơ như Ðinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Lê Ðạt, Ðặng Ðình Hưng, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền… dù họ làm theo cách tu từ. Và không ai lại dùng mã số tu từ để đọc thơ chụp bắt hay Tân hình thức. Tác giả có thể dùng phương pháp tu từ để phê bình những tác phẩm thơ văn Việt vì những tác phẩm đó không đúng với những tiêu chuẩn phương Tây, nhưng không thể dùng mã số này để đọc mã số khác, chẳng khác nào dùng chìa khóa này để mở cánh cửa khác. Mở như thế thì làm sao mở được cửa, đọc như vậy thì chẳng bao giờ thấy hay. Không ai có thể viện cớ không biết luật để phạm luật, viện cớ không biết mã số, để đọc sai một loại hình văn học.
Chúng ta thấy, cách đọc, cách viết của tác giả có vẻ giống như cách đọc, cách viết của thập niên 1960 ở Sàigòn cũ, mở sách ra tìm ý, như kiểu lượm lặt những danh ngôn rồi phán đoán theo cảm tính. Vấn đề cách viết đó sai, vì họ không hiểu rằng những tác giả phương Tây thuộc về những hệ thống và mã số khác. Viết sai đưa đến cách đọc sai. Ðọc chỉ cốt lấy ý để viết, nên không có khả năng lý giải hay lập luận, vì muốn giải thích hay lý luận phải am hiểu vấn đề từ căn bản, nhưng vào thập niên 1960, sách báo nhập cảng toàn là tác phẩm của những tác giả nổi tiếng, khó kiếm được những sách căn bản. Ngay ở Hoa kỳ, muốn có những kiến thức phổ thông, có thể học ở các trường đại học, nhưng muốn có những hiểu biết căn bản thì không có trường nào dạy, chỉ có cách tìm kiếm lấy, tự mình vừa là học trò vừa là thầy mình. Thí dụ, những cuốn sách nghiên cứu về hậu hiện đại, xuất bản vào thập niên 1990, bầy bán hàng loạt ngoài tiệm sách, vì cần thời gian nghiên cứu, nên những sách đó phần đông chỉ đề cập tới những gì đã xảy ra 5,7 năm trước, thập niên 1980 chẳng hạn, và cũng chỉ trình bày những quan điểm, tư tưởng của từng triết gia hay từng phong trào chứ không giúp người đọc sắp xếp thành hệ thống lý luận có đầu đuôi, để hiểu vấn đề cho tường tận. Những sách đó thường dành cho độc giả phương Tây đã quen với nguyên tắc lý luận rồi, còn những tác phẩm của những triết gia, thì chỉ dành riêng cho những học giả đọc rồi viết sách phê bình, chứ độc giả bình thường cũng không đọc nổi. Cứ tin theo sách rồi tưởng bây giờ vẫn còn ở 20 năm về trước, thì cứ từ cái sai này đến cái sai khác. Khi tiếp nhận những hiểu biết phương Tây bằng phương pháp tu từ, trích dẫn và suy diễn, những người viết ở thập niên 1960 của miền Nam không thể làm khác hơn, vì đó là thời kỳ mới làm quen với phương Tây, chưa đủ thời gian để rút ra những ưu khuyết điểm. Nhưng thập niên 1960 ở miền Nam cũng có được một nền văn học xứng đáng, tuy rằng vì những hạn chế đó, nên đã không tạo được một nền tảng nào, để từ đó làm sức bật cho những thế hệ sau vươn lên. Ðiều này rất rõ, khi những người viết trẻ ở Việt nam bây giờ, không có nguồn nào khác để đọc nên đã quay về tìm cái nguồn dịch thuật, sáng tác, phê bình ở miền Nam cũ, và họ đang rơi vào ngõ cụt, luẩn quẩn với cách thế tu từ, trộn lẫn với những suy nghĩ siêu hình, siêu thực, hiện sinh… không lối thoát và chẳng đi đến đâu, trong khi thế giới đang đi những bước đi vạn dặm.
Thơ Tân hình thức
Những phân tích trên cho chúng ta thấy những vấn nạn của văn học Việt, khi áp dụng một phương pháp sai, mọi nhận thức đều sai. Những phản bác thơ Tân hình thức gần đây đều rơi vào tình trạng lúng túng, thiếu tự tin, thiếu lập luận, mà chỉ là những cáo buộc đầy cảm tính với những nhận xét mơ hồ vô căn cứ, từ Nguyễn Vũ Văn, Ðinh Linh, Nguyễn Quốc Chánh, Phan Nhiên Hạo và mới đây là Thụy Khuê. Tất cả đều là những người được coi là cấp tiến, cấp tiến phút chốc biến thành bảo thủ. Nhưng thật ra, Tân hình thức cũng chỉ là giọt nước làm tràn ly, những hậm hực đã chất chứa từ lâu với những bài thơ chụp bắt và tính dục trên TC Thơ mấy năm trước đây. Ðối với những bài thơ chụp bắt như “Bud weis er”, “Những Ngày Vô Cảm”, “Bưu Thiếp của Người Anh Ở Mỹ”, thì đại khái cho rằng Tây Mỹ họ đã làm rồi từ lâu, bây giờ mới bắt chước. Nói như thế thì chẳng hiểu gì về tiến trình sáng tạo. Cái bồn tiểu của Marchel Duchamp, bây giờ không còn nhưng tại sao đã gần một thế kỷ rồi ai cũng nhắc tới, và những phong trào Pop Art, Hội họa Ý niệm cũng từ đó mà ra, và họ cũng chỉ chụp bắt trong hội họa, điêu khắc chứ đâu chụp bắt thơ. Cách làm có thể giống nhau, nhưng thành phẩm thì khác nhau. “Cách làm” cũng như những thể thơ, chỉ là phương tiện biểu hiện, như vậy thì thể lục bát đã có người làm từ lâu rồi, đừng làm lục bát nữa. Còn những bài thơ về tính dục thì sao? Những bài thơ trên TC Thơ của Nguyễn Ðăng Thường, Ðỗ Kh., Nguyễn Hoàng Nam… có lẽ là thể hiện những khác biệt giữa hai nền văn hóa Ðông Tây. Bởi vì ngay trong đời sống thường ngày, giữa những thế hệ di dân, trong gia đình, ngoài xã hội, cách nghĩ cách cảm, cũng đầy những xung khắc, vì vậy đọc những bài thơ tính dục phải đặt vào hoàn cảnh, đời sống xã hội nơi họ đang sống. Nếu không chúng ta tưởng những bài thơ loại này (cả thơ chụp bắt) chỉ cốt để tạo sốc. Thật ra thì thơ nào không tạo sốc, chỉ tùy mức độ thôi, ngạc nhiên cũng là một tình trạng sốc ở mức vừa phải. Thập niên 1970, thơ Tự Thú Hoa kỳ cũng luôn luôn gây sốc, và nói ngay mọi bộ môn thời hiện đại, chủ trương làm mới, từ kịch nghệ, hội họa, thơ truyện, đều ứng dụng hiệu quả tạo sốc, để gây cảm xúc mạnh. Chúng ta đang sống trong một xã hội phương Tây, theo Baudrillard, tính dục đã chết vì ở đâu cũng có tính dục, trong quảng cáo, thời trang, TV, phim ảnh. Tính dục không còn là những gì riêng tư, cá nhân, bí ẩn, nó phơi mở, khuyến khích, không giới hạn, không cấm đoán qua những mã số tính dục (sexual code). Vì hiện diện hàng ngày ở khắp mọi nơi như thế nên tính dục mất đi ý nghĩa, không thực, và trở thành bình thường như bất cứ cái gì bình thường khác, giúp con người giải thoát khỏi những ám ảnh và căng thẳng về tính dục. Như vậy, mọi thứ đều là tính dục, và nếu mọi thứ đều là tính dục thì không có gì là tính dục. Trong khi ở thế giới Hồi giáo, phụ nữ ra đường còn phải che mạng, thế thì chúng ta phải đứng ở vị trí văn hóa nào để đọc và phê phán những bài thơ tính dục? Vấn đề trở nên không đơn giản nữa, và mã số để đọc những bài thơ tính dục là sự khác biệt văn hóa.
Nhưng thơ chụp bắt hay thơ tính dục mang tính xung đột văn hóa, đã qua thời kỳ của nó, tác giả những bài thơ này đang chuyển qua những thử nghiệm khác, và chắc chắn thơ Việt sẽ không còn có thêm những bài thơ loại này nữa. Một điều nữa là những loại thơ này thuộc về loại thơ của thời hiện đại và hậu hiện đại thập niên 1970-80. Bây giờ, bước qua tân thế kỷ, mọi bộ môn nghệ thuật đang có những chuyển biến mới. Một trong những chuyển biến này là thơ Tân hình thức. Nói đến Tân hình thức thì cũng như thơ chụp bắt, những cái gì không thuộc vùng thẩm âm của người đọc thì đương nhiên là không hay, là thất bại. Ai cũng có cái quyền thích hay không thích, dĩ nhiên. Nhưng với một nhà phê bình thì ngoài cái thích hay không thích phải khách quan và tìm hiểu vấn đề tới nơi tới chốn. Trong ca dao, tác giả trích: “Hỡi anh đi đường cái quan, dừng chân đứng lại cho em than đôi lời! Ði đâu vội mấy anh ơi!” Ðây là một câu hò hát, trong câu nói đời thường không có ai nói với nhau như vậy. Những câu đối đáp trong câu nói đời thường có thể kể bài “Kiều” của Ðỗ Kh. Tân hình thức chủ trương phục hồi nhạc tính cho thơ, nhưng không biết tác giả quan niệm nhạc tính của thơ như thế nào, là âm vang của con chữ chăng? Hay nhạc tính trong thơ giống như nhạc tính trong nhạc với nhịp 2/4, 3/4, 4/4, gần với loại thơ phổ nhạc hay hát hò của ca dao lục bát? Sự khác biệt nhạc tính trong thơ và nhạc tính trong nhạc, và những nguyên tắc thơ tân hình thức cũng đã được phân tích rõ ràng và nhiều lần trên TC Thơ. Thơ Tân hình thức đâu chỉ thô thiển là vắt dòng, cũng như lục bát đâu phải chỉ là câu 6, câu 8. Còn thơ Tân hình thức đi về đâu? Có lẽ, đó mới chỉ là lời báo của một thế hệ chưa đến và sẽ đến, và câu trả lời phải thuộc thẩm quyền của họ. Ðọc qua những bài thơ Tân hình thức, tìm những chỗ chưa tới rồi phê phán sai lạc theo cảm tính, không hiểu rõ những lập luận và nguyên tắc thơ, là không công bình và coi thường hiểu biết của người đọc.
Không nắm được sự biến chuyển của nền văn minh, những tiến triển từng thời kỳ của văn học nghệ thuật phương Tây khó mà thấy được cái mới, cái lạ trong trong những bài thơ chụp bắt, hay Tân hình thức. Tân hình thức là một phong trào non trẻ, trong thực hành chưa thể toàn bích, và vì thế mới thấy được lòng nhiệt thành, sống động và can đảm của những nhà thơ thực hành nó, dám thách đố, coi thất bại hay thành công chỉ như một thử nghiệm, cung cấp đồng đều phương cách cho mọi nhà thơ có thể phát huy tài năng của họ. Nói cho cùng, chúng ta sống quá lâu trong nền văn chương tu từ, đã đến lúc phải tìm ra một lối thoát khác, và Tân hình thức là một cố gắng đó. Nhưng tu từ đã trở thành một quán tính, một bức tường thành dày đặc, khó lòng chỉ một sớm một chiều là thay đổi được, có chăng đợi một vài thế hệ nữa. Bởi vì, khi suy diễn này được suy diễn từ một suy diễn khác, hòa trộn với thuật tu từ mông lung khó hiểu, không căn cứ trên một nền tảng lý luận nào, chúng ta chỉ tạo nên những hỏa mù, những ảo tưởng, lập đi lập lại cách viết cách đọc từ nửa thế kỷ trước. Như vậy, khi xa rời những nguyên tắc căn bản, chúng ta xa rời văn chương, và khi xa rời văn chương, chúng ta dễ lạc vào những cái không văn chương, chính trị chẳng hạn. Nhưng trước khi viết phải đọc, mà chưa ai chịu bàn đến việc thay đổi cách đọc. Ðọc như thế nào để biến cách đọc trở thành một lạc thú, áp dụng được vào trong thực hành, chứ không phải chỉ là một chiếc áo trí thức. Ðã đến lúc những nhà phê bình trẻ hơn cả trong lẫn ngoài nước, còn sinh hoạt với văn chương Việt, tiếp nhận trực tiếp được văn học nước ngoài, hãy bàn tới cách đọc, hướng dẫn người đọc bằng những hiểu biết căn bản vì chỉ những nhà phê bình mới có điều kiện tìm kiếm học hỏi, áp dụng những lý luận, tư tưởng, một cách có bài bản, ảnh hưởng được đến cách đọc của người đọc. Và cuối cùng, qua bài viết, chúng tôi chỉ muốn làm sáng tỏ vài điều liên quan tới thơ Tân hình thức, bổ khuyết thêm một số giải thích để bạn đọc khỏi ngộ nhận chứ không cốt ý tranh luận đúng sai với tác giả. Tác giả phán xét theo chủ quan của mình, chúng tôi cũng bảo vệ những ý kiến mà chúng tôi thấy hợp lý, phần nhận xét thuộc thẩm quyền bạn đọc, như thế mới bình đẳng và dân chủ.