trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
1.1.1990
Lê Thanh Ðức
Suy nghĩ cuối thế kỷ về Văn hóa Thị giác
 
Trong số tháng 6 năm 1999, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (của bộ NHTT) đăng bài "Suy nghĩ cuối thế kỷ về văn hoá thị giác" của Lê Thanh Ðức. Bài viết gây nên những phản ứng trái ngược nhau và, đã dẫn đến vài bài viết "Trao Ðổi". Riêng trên TCVHNT, sau đó đăng hai bài, bài đầu: "Về một bài báo của họa sĩ Lê Thanh Ðức" của Triệu Thúc Ðan (số tháng 10/1999), bài sau: "Ðôi điều về bài báo suy nghĩ cuối thế kỷ về văn hoá thị giác" của Vũ Ðức Tân (số tháng 12/1999). Bước sang năm 2000, Tạp chí Mỹ thuật Ngày nay của Hội Mỹ thuật Việt Nam đăng lại bài viết của Triệu Thúc Ðan dưới một tựa đề khác: "Một quan điểm sai trái về mỹ thuật Việt Nam cần trao đổi" (số tháng 2/2000). Và mới đây nhất, cũng trên tạp chí này, là bài "Cảm nghĩ qua hai bài báo" của Nguyễn Trọng Ðức (số tháng 4/2000). Nhìn chung, trong bầu không khí học thuật bổng dưng trở nên im ắng của làng mỹ thuật VN lâu nay, việc có một cuộc trao đổi kéo dài như thế là rất đáng chú ý. Và, hẳn nhiên, cho dù như thế nào, thì nó cũng bổ ích.

Lâu nay, giới nghiên cứu-phê bình mỹ thuật ở nước ngoài thường dùng hai thuật ngữ mà ở ta ít gặp, đó là tư duy thị giácvăn hoá thị giác. Trong phạm vi bài này, tôi xin nêu vài nhận xét nhỏ xung quanh văn hoá thị giác. Bản thân từ ngữ văn hoá đã hàm chứa nội dung rất rộng, được hiểu và giải thích nhiều cách, từ lâu đời, mở đầu bằng văn, một khái niệm mênh mông xuất hiện trong triết học Trung Hoa thời cổ. Ta hãy tạm đóng khung ở đây vào cách hiểu khái lược, rằng văn hoá là quá trình và kết quả mọi hoạt động của con người để tự vươn lên. Nội hàm này rộng hơn “học vấn uyên thâm”, và cũng cao hơn cả “văn minh”. Văn hoá, hiểu như vậy, chủ yếu tổng hợp cả ý thức đạo lý, nhân cách và trí tuệ.

Vậy, văn hoá thị giác là gì? Ðịnh nghĩa nôm na dễ hiểu, đó là trình độ thưởng ngoạn cái đẹp. Mỗi cách cảm nhận cái đẹp đều phản ánh một tầm nhìn của văn hoá thị giác. Người có văn hoá thị giác cao, là người biết xem đến tinh tuý của tranh, tượng, của hình ảnh, biết ngắm phong cảnh, hoa lá, chiêm ngưỡng giai nhân… tóm lại là nhìn và cảm đuợc mọi vẻ đẹp trên tầm cao. Phải nói tầm cao, là bởi lâu nay ta ít quan tâm phân biệt các cấp độ văn hoá nói chung, và văn hoá thị giác nói riêng.

Một thực tế gây nhiễu trong phạm trù này, là trong thời đại điện tử-tin học, việc ngắm xem và cảm nhận cái đẹp đang bị lũng đoạn bởi loại hình văn hoá nghe nhìn, sản phẩm đặc thù mà quảng cáo là vũ trường náo nhiệt nhất (vũ trường hiểu theo cả hai nghĩa: nơi múa may, và nơi đấm đá). Có thể lấy Nhật Bản làm một tiêu mẫu. Hiện nay, Nhật Bản đã trở thành quốc gia ứng dụng nhanh nhất và rẻ nhất nhiều phát minh khoa học cơ bản của nước khác (chẳng hạn điện thoại và truyền hình của Mỹ, thu phát hình ảnh và âm thanh laser của Hà Lan v.v…) Trong khi cung cấp cho toàn thế giới những giàn máy nghe nhìn, những máy ảnh và video-camera vừa tốt vừa rẻ hơn của Âu-Mỹ, thì người Nhật cũng làm ra vẻ quên đi rằng nước Nhật chính là tổ quốc của thể loại tranh thiền, từng được thưởng thức trong không gian tĩnh lặng từ thế kỷ XIV-XV. Nhật Bản tiến xa nhất và vẫn dẫn đầu trong việc “pop-hoá” (đại chúng hoá tầng thấp) nghệ thuật thị giác qua công nghệ thông tin nghe nhìn, mà karaoke hay các phim hoạt hình Ðôrêmon, Thuỷ thủ mặt trăng là đại diện. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là ở chỗ: nước Nhật giàu lên một phần đáng kể nhờ vào công nghệ nghe-nhìn, nhưng người Nhật hình như xa dần các giá trị tạo hình truyền thống của tổ tiên họ. Với một quốc gia khác, thiếu vắng văn hoá truyền thống lâu đời (chẳng hạn như Hoa Kỳ) thì khỏi nói, song khi quá trình “hiện đại hóa tinh thần” này xảy ra trên một đất nước đẹp kỳ thú, lại có một nền văn hoá tạo hình rực rỡ hàng chục thế kỷ, thì hẳn là đáng suy gẫm.

Mặt khác, trên hệ tư tưởng biệt lập, từng tác dụng to lớn một thời, hai thập niên vừa qua cũng chứng kiến sự trì trệ của mô hình văn nghệ tạm gọi là “Tân kinh viện”, ngự trị hầu như độc tôn hàng nửa thế kỷ tại Nga, Ðông Âu và một số nước khác, trong đó có Việt Nam. Các thế hệ sáng tác và thưởng thức trẻ, phần nào cũng cảm thấy bị gò bó, lại vốn chuộng lạ, tất nảy sinh ý thức “phá rào” giành tự do mỹ cảm. Ðiều không thuận với họ, là cuộc chiến tranh giữ nước buộc phải kéo dài đã đặt việc trau dồi, bồi bổ vốn liếng văn hoá thị giác xuống dưới nghĩa vụ thiêng liêng nhất: bảo vệ tổ quốc chống ngoại xâm. Khi đất nước đã thống nhất trong xây dựng hoà bình, việc định hướng văn hoá – thẩm mỹ mất hàng chục năm dò tìm để rồi đột ngột chuyển sang “văn hoá thị trường”, hầu như chưa kịp chuẩn bị lại tư duy thị giác cho thế hệ trẻ.

Tình hình không ổn định – qua nhiều triển lãm cá nhân, qua hệ thống gallery mọc như nấm, qua những đơn hàng “hoành tráng” – diễn biến giống như ở nhiều nước khác, khi mà thị trường can thiệp thô bạo, thậm chí chi phối cả văn hoá – thẩm mỹ. Trong khi một vài người thuộc “lớp già”, ít nhiều có giảm lửa hay kiệt nhựa, ngao ngán nhớ về quá khứ, thì nhiều đại diện “lớp trẻ” xông lên sát phạt, lao theo vẫy gọi của thị trường hoặc của các “mốt” tạo hình thời thượng.
Tuy nhiên, thời nào và ở đâu cũng vẫn có những nhân tài thuộc mọi lứa tuổi nghiêm túc thẩm định bản thân trước thời cuộc đầy xáo trộn. Trong khi có những chồi xanh hội họa tự bỏ quên tiềm năng không nhỏ của mình (được chứng minh sớm, từ buổi ra trường) để hướng theo những ảm đạm đau ốm kiểu Soutine, thậm chí những trạng thái méo mó tình dục kiểu Schiele, thì thật đáng mừng khi thấy một số họa sĩ trẻ nhiều hứa hẹn đang bình tâm suy nghĩ về mình, về nghề để tự tìm đường leo dốc nhằm những đỉnh cao cho thế kỷ XXI. Tôi nghĩ đến Lê Trí Dũng đang vật lộn theo một định hướng đồ họa thật sự vừa dân tộc vừa hiện đại. Dân tộc ở chỗ, tuy đã từng bày tranh và sáng tác tại Hoa Kỳ, anh vẫn sống và cảm bằng chất trữ tình kín đáo Á Ðông (cánh hoa, cọng cỏ, tích truyện Việt Nam…) mà cũng hiện đại qua nét bút dạ, bút kim dứt khoát, phóng túng mà chặt chẽ. Tôi nghĩ đến một Phạm Viết Hồng Lam hồn nhiên phơi phới tự hồi phục sau cơn bệnh hiểm nghèo, giản dị và chân thực với cảnh quê, qua những vệt màu đốm màu tung tăng rộn rã, mang phẩm chất dân gian khá gần nữ họa sĩ Nga Mavrina. Hồng Lam với những thành công nhất định đã được đón nhận xứng đáng, nay đang trăn trở với câu tự vấn: Ði tiếp ra sao? Lên tầm bằng cách nào đây? Bởi anh tự biết đang vấp vào bức tường sừng sững, nghiệt ngã của văn hoá thị giác và tư duy tạo hình… Với niềm thương tiếc chân tình, tôi nghĩ đến một Văn Quý vĩnh biệt chúng ta quá sớm, bỏ lại những mảng sơn mài dang dở đầy triển vọng qua cách tạo hình phóng khoáng mà rành rẽ của đồ họa hiện đại… Một tác giả trẻ khác như Trịnh Quốc Chiến, tiếp cận sơn mài từ một góc nhìn riêng hướng vào chủ đề tâm linh gần đây được không ít họa sĩ “mon men” đề cập. Tôi gượng nói “mon men”, không phải vì đánh giá thấp khả năng của các tác giả, mà vì đây thực sự là một chủ đề cao cả, không dễ thể hiện chỉ với một vòng xoáy “thái cực âm dương” hay một bóng dáng chuông chùa. Ngay cả tác phẩm Vũ trụ phương Ðông của Trịnh Quốc Chiến, được tuyển dự thi hội họa ASEAN lần I, cũng chưa hẳn đã đạt về cảm thức “vũ trụ”. Các mảng hình kỷ hà quá sắc nhọn có lẽ không dung nạp được tính mông lung vô biên. Hình như tên tranh quá lớn, vượt cả tầm triển khai tứ đề. Trân trọng tinh thần lao động nghiêm túc, công phu của Trịnh Quốc Chiến, ta vẫn cảm thấy “vũ trụ” của anh chưa tới tầm tư duy thị giác như của Phạm Tăng hay Lê Bá Ðảng ở Pháp chẳng hạn. Văn hoá thị giác là vùng cảm nhận bao la nhưng lại cấu thành từ vô vàn cô đọng, hàm súc thẩm mỹ. Nó lồ lộ trong bích họa Ðôn Hoàng hay Ajanta. Nó vững chãi qua Lý Thành hay Ðông Nguyên, phiên điều theo họa phái Mã-Hạ (Mã Viễn – Hạ Khuê) thời Nam Tống. Sau này nó về với cuộc sống đương đại qua Tề Bạch Thạch hay Từ Bi Hồng. Cùng với Trung Hoa, văn hoá thị giác bậc cao hiện diện trong điêu khắc và kiến trúc Ân Ðộ, trong tượng Nhân Ngư đồ sộ vùng Lưỡng Hà, trong các hàng cột sừng sững ở Kãnak và Loukwor của Ai Cập hơn ba ngàn năm tuổi.

Văn hoá thị giác kết tinh sáng tạo của cả loài người, của tất cả các dân tộc, kể cả những bộ tộc dữ dằn như Aztek thời Tiền – Côlômb Trung Mỹ, những bộ lạc bán khai ở châu Phi, những cộng đồng thổ dân châu úc và các bộ tộc thiểu số vùng băng giá cực Bắc… Sau điêu khắc Hy Lạp và kiến trúc La Mã hoành tráng, và sáng tạo đầy tính nhân văn thời Phục Hưng, châu Âu đóng góp vào kho báu cận đại những tác phẩm và công trình mới lạ của nền văn minh công nghiệp thế kỷ hai mươi, tạo bằng sắt thép và chất dẻo… Ðó là chưa nói đến mỹ thuật dân gian và các loại hình mỹ thuật dân tộc nào cũng có quyền tự hào. Mà cũng chưa nhắc tới bao nhiêu ngành nghệ thuật thị giác đương đại khác ngoài hội họa, điêu khắc, kiến trúc, sân khấu, điện ảnh, tivi, tức là cái đẹp muôn hình vạn trạng…

Trách nhiệm và “sứ mệnh” của nhà nghệ sĩ tạo hình là gạn lọc trong đại dương mỹ cảm ấy những tinh hoa phù hợp, luyện với tiềm năng riêng tư của mình để tạo nên tác phẩm. Ðể thực hiện, tất phải dựa vào tay nghề, mắt nghề, song không thể lẩn trốn suy tưlao động. Lịch sử mỹ thuật luôn chứng minh rằng mọi sáng tạo có giá trị lâu bền đều là thành quả của rất nhiều lao động tim óc với con mắt, bàn tay.

Một trong các thách thức lớn với nghệ thuật là thời gian, vốn công bằng, vô tư nhưng nghiệt ngã. Giá trị nhất thời hay giá trị trường tồn là thước đo khách quan của lịch sử.

Tất nhiên không phải sự cặm cụi, miệt mài nào cũng tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Cái hồn, cái thần là không thể thiếu. Ta hằng được xem nhiều tác phẩm đơn sơ dăm nét lướt nhanh, như lối viết thảo trong thư pháp Trung Hoa, nhưng gây ấn tượng, mà xem lại nhớ lâu. Song, những đường bút xuất thần như thế, xuống tranh như tia chớp mà giữ được giá trị lâu bền chính là do đã phát biểu được nhiều cảm nhận dồn nén tích tụ từ trước. Tôm cua, hoa lá của Tề Bạch Thạch là như thế. Hình nét khẩn trương cô đọng của Matisse, Picasso hay Nguyễn Tư Nghiêm cũng là như thế… Ðến đây, nổi lên một vấn đề khác, là mối quan hệ giữa bản năng và trí tuệ, giữa trực cảm với tư duy sáng tạo. Về cuối thế kỷ XX, văn học nghệ thuật trên toàn cầu có xu thế đề cao và nhấn mạnh bản năng, trực cảm. Tất nhiên, cái cảm bao giờ cũng là khởi điểm, là nhiên liệu chủ yếu của nghệ thuật. Cảm càng mạnh, tác phẩm càng vào sâu lòng người để đọng lại dài lâu. Song, cái cảm trực giác, cái cảm bản năng ấy chỉ có thể chuyển thành giá trị vững bền với điều kiện được xử lý qua tư duy sâu sắc, hoặc chí ít cũng phải là nét cảm bộc phát từ một bộ óc lão luyện, thành thục trong nghề. Nghĩa sâu vẫn là tích luỹ. Vậy thì tại sao mấy năm gần đây, sáng tác xô nhau hướng vào bản năng, lấy trực cảm làm cứu cánh? Tôi ngờ rằng nguyên nhân tuy đơn giản, song không mấy ai muốn thú nhận: đó là do lười biếng trí tuệ, do ngại trau dồi văn hoá, đạo lý. Bởi cuộc sống căng thẳng đương đại đặt ra trước mỗi chúng ta một tình thế buộc phải lựa chọn. Tôi vật lộn cam go kiếm sống để tồn tại. Ông có điều kiện vật chất và tranh thủ hưởng thụ tối đa. Anh kia chán chường, tuyệt vọng do tham vọng không đạt, do bệnh tật hay bi kịch cá nhân, muốn tìm đường tự giải thoát. Cậu nọ bất mãn, bế tắc, đòi phá phách v.v… Ai cũng muốn được về phần mình, nhưng ít ai chịu trả giá. Và trong một bộ phận thanh thiếu niên nổi lên tâm lý ham chơi, đua đòi, lười học, hưởng thụ quá sớm và không tương xứng với phấn đấu cá nhân. Như vậy, nghệ sĩ cũng chỉ là con người, hướng về sáng tác bằng bản năng là do tự thân sống bằng bản năng, nhất là sáng tác theo cách này tốn ít công sức và thời gian hơn, đặc biệt khi “đầu ra” đã có người đón sẵn. Nhằm giành giật nhanh nhất những giá trị vật chất, xã hội đương đại đang để mất, hoặc cố tình gạt bỏ, các hằng số nhân cách, trước hết là đạo lýtrí tuệ. Khi một xã hội vô tình hay cố ý thay chữ nhường bằng chữ lấn thì mọi tiêu chí nhân văn tất bị đảo lộn.

Sáng tác tạo hình hiện nay là như vậy. Còn giới phê bình? Trong chúng ta, hình như ranh giới nghiên cứu, phê bình, lịch sử và lý luận vẫn chưa rành mạch. Thay vì thực hiện vai trò thúc đẩy, gợi mở hướng phát triển tốt nhất cho sáng tác, chúng ta mới chỉ quanh quẩn khen chê tác giả này, tác phẩm nọ hay xu hớng kia một cách chung chung, hơn nữa có khi khen chê theo cảm tính hay quan hệ cá nhân. Giữa trào lưu bão lũ của văn hoá tiêu dùng, tôn vinh phong cách ăn xổi, một tác giả được “kiệu” lên và quáng đèn sân khấu là chuyện thường. Song nhà phê bình-lý luận mà cũng “quáng đèn” thì hậu quả khó lường. Một số nhà phê bình mỹ thuật của ta, do không tự cầm bút vẽ, bị coi là không đồng cảm với người sáng tác, nên bài viết, tiếng nói kém sức thuyết phục. Nhưng giữa thế kỷ XIX, ngay tại Paris thủ đô hội họa, một trong các nhà phê bình mỹ thuật có uy tín nhất, đến mức được coi là có góp phần mở đường cho hội họa hiện đại, lại là nhà thơ biểu tượng Baudelaire, thì sao?

Trong bối cảnh xã hội nước ta hiện nay, vấn đề thị hiếu mỹ cảm của công chúng vẫn là vấn đề lớn đang trông chờ sự quan tâm của giới lý luận-phê bình. Mà đó là nói bao trùm toàn bộ nghệ thuật tạo hình, không riêng một bộ môn mỹ thuật nào: sáng tác tranh, tượng; trang phục, bối cảnh và ánh sáng sân khấu, điện ảnh, trang trí nội ngoại thất, giày dép áo quần, quảng cáo thương mại, mỹ thuật báo chí, ti vi v.v… Các tầng thấp của văn hóa thị giác vẫn đập vào mắt khán giả hàng ngày hàng giờ, không ai thổi còi, do vắng bóng trọng tài. Bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc được nhấn mạnh trên các phương tiện truyền thông, song trên thực tế vẫn đang bị thả nổi, xói mòn mà không ai bảo vệ.

Nhà viết sử mỹ thuật nổi tiếng của Pháp là Elie Faure (1873-1937) từng viết cả một cuốn Thần thái của Hình (L’Esprit des Formes) được tái bản nhiều lần, dịch in tại nhiều nước. René Huyghe, nhà nghiên cứu nổi danh khác, cũng người Pháp, có cuốn Ðối thoại với cái hữu hình (Dialogue avec le visible) và André Malraux, lại cũng một học giả người Pháp (1901- 1976), viết cuốn Tiếng nói của im lặng (La voix du silence). Tôi nêu ba tên sách trên, chỉ để liên hệ, đối chiếu với thư tịch phê bình-lý luận mỹ thuật còn quá khiêm tốn của chúng ta. Khoảng cách, quả là rất lớn, vẫn là độ chênh về mặt bằng văn hoá thị giác. Trong khi họ luận về bản chất cái đẹp và phân tích những biểu hiện của cái đẹp thì ở Việt Nam ta – đất nước không thiếu tài năng tạo hình, và không thể thiếu tác phẩm đáng tự hào của nhiều thế hệ – công tác phê bình lý luận vẫn quá chú mục vào những bài viết về một triển lãm trẻ, một gallery vừa khai trương hoặc vắn tắt về một tác giả trẻ mới “trình làng”… Có thể nói thêm rằng, do quá quen tiếp cận sáng tác mỹ thuật từ góc nhìn ngưng tĩnh của mỹ học trường quy, hơn là từ góc nhìn mỹ cảm có tầm sâu, nên chúng ta ít khơi nguồn về bản chất cái Ðẹp, yếu tố chuyên môn đặc thù, một trong ba chân đế của cái la bàn nghệ thuật Chân-Thiện-Mỹ. Huống chi, trong hoàn cảnh chưa mấy thuận lợi, ta lại chưa đủ điều kiện “ra khỏi biên giới” về mặt nghiên cứu mỹ thuật, dù chỉ là trong thư viện.

Như vậy, việc nâng cao tầm văn hoá thị giác chắc chắn là một trong các khó khăn lớn nhất mà mỹ thuật Việt Nam phải vượt qua, ngõ hầu hội nhập văn hoá trên tư thế bình đẳng, xác định vị thế và vai trò của mình đối mặt với thách thức toàn cầu hoá của thế kỷ XXI.

 
© talawas 2026