trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
12.3.2003
Ngân Xuyên
Sách văn học Nhật Bản 2002
 

Trong nước

Trong hoàn cảnh thay đổi và không chắc chắn như hiện nay, độc giả Nhật Bản tiếp tục tìm kiếm những lời khuyên có ích trong việc đọc sách. Thực tế cho thấy, các sách bán chạy nhất năm qua phản ánh mối quan tâm của các độc giả thuộc tầng lớp trung niên và cao tuổi với tốp 10 cuốn sách bán chạy, trong đó có hai cuốn dạy cách sống tuổi già, hai cuốn dạy tiếng Nhật và hai cuốn dạy tiếng Anh. Một nhà bình luận cho rằng cơn sốt sách ngoại ngữ phản ánh nỗi lo sợ trước nguy cơ toàn cầu hóa, trong khi các sách dạy tiếng Nhật lại cho thấy nỗi lo của người dân Nhật về bản sắc dân tộc của mình.

Tuy nhiên, hiện tượng xuất bản lớn nhất năm qua là Harry Potter với kỷ lục in lần đầu vào tháng mười là 2,35 triệu bản của một bộ bốn tập. Hãng Nikkei cho biết, năm 2002 ở Nhật Bản đã bán được tổng số 80 tỉ yên cho tất cả các sản phẩm của Harry Potter gồm phim, sách, đĩa DVD, video và các mặt hàng ăn theo khác.

Sách truyện Nhật Bản duy nhất lọt được vào tốp 20 sách bán chạy trong năm là bộ truyện thần bí viết về một tên sát nhân của Miyuki Miyabe nhan đề “Moho-han” (Kẻ bắt chước mù quáng) và cuốn tiểu thuyết dài viết trong bảy năm của Haruki Murakami “Umibe no Kafuka” (Kafka trên bờ biển). Cuốn này xuất bản vào tháng chín năm ngoái gồm hai tập (hơn 800 trang) kể về một cậu bé 15 tuổi tự gọi mình là Kafka. Ðây là tác phẩm đã gây dư luận trên báo chí với những ý kiến khen chê trái ngược gay gắt. Truyện viết dễ hiểu, nhưng ý nghĩa cuối cùng thì lại bí ẩn, tác giả để cho người đọc hoặc người xem tự lý giải. Nhưng giữa lúc lớp trẻ đang nhiều hoang mang, tác phẩm này đưa lại cho họ một lời động viên và cổ vũ hành động. Nhà phê bình Minato Kawamura nhận xét, phải chăng các độc giả trẻ Nhật Bản hiện nay có thể tìm thấy trong thế giới tưởng tượng của Murakami hay Harry Potter một điều gì đó tương tự các độc giả trẻ Mỹ hồi những năm 1960 đã tìm thấy trong tác phẩm “Chúa tể của những chiếc nhẫn”, vì họ cùng lâm vào hoàn cảnh bế tắc như nhau. Chúng ta có thể xem qua hai tác phẩm dưới đây để thấy hai bức tranh sắc nét của lớp trẻ bước vào đời được văn học Nhật Bản nêu ra năm qua.

Bộ tiểu thuyết ba tập “Black Jack ni Yoroshiku” (Hãy nói lời chào với Jack Ðen) của Shuho Sato kể về những thử nghiệm vất vả nhọc nhằn của chàng sinh viên y khoa mới tốt nghiệp Eijiro Saito qua các phòng khác nhau tại bệnh viện của một trường đại học danh tiếng. Trong hai năm làm bác sĩ thực tập nội trú anh chỉ được nhận 38000 yên mỗi tháng, nên phải kiếm thêm bằng cách trực đêm tại một bệnh viện nhỏ. Mỗi ngày anh chỉ được ngủ khoảng hai, ba tiếng đồng hồ. Ðêm đầu tiên anh còn cùng trực với một sinh viên nội trú khác, nhưng sau đó chỉ còn anh là bác sĩ duy nhất trực mổ dù còn thiếu kinh nghiệm tay nghề.

Chỗ làm việc đầu tiên của Saito tại bệnh viện trường là khoa mổ, ở đây anh đã bị xốc khi phát hiện ra rằng vị bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng của bệnh viện chỉ mổ lúc đầu, sau đó lại quay về phòng tiếp tục việc nghiên cứu của mình. Tiếp đó anh lại càng xốc hơn khi được cho hay rằng chẳng cần phải tốn tiền chạy chữa cho một bệnh nhân 75 tuổi vừa mổ xong vì đằng nào ông ta cũng không qua khỏi được. Chỗ thứ hai Saito tới là khoa nội, nơi anh điều trị cho Miyamura, 38 tuổi, chủ một cửa hàng bán rượu nhỏ, anh này đang cần phải mổ vòng. Do tệ quan liêu trong bệnh viện và những ý đồ xấu giữa khoa nội và phòng mổ nên tình trạng Miyamura rất xấu trước khi ca mổ của anh ta được dự định vào tháng sau. Một bác sĩ bảo Miyamura rằng các bệnh nhân đều phải có “quà” một triệu yên cho bác sĩ cầm dao mổ, nhưng anh ta theo lời khuyên của Saito quyết định chuyển sang mổ ở một bệnh viện khác. Khi đó Saito đã thuyết phục được bác sĩ phẫu thuật Kita, người quen sống một mình, người được giới mafia y tế Nhật Bản cấp tiền cho sang Australia học với một nhà phẫu thuật tim nổi tiếng, đồng ý mổ cho Miyamura. Khỏi phải nói là ca mổ tuy phức tạp nhưng đã thành công nhờ bản năng kinh nghiệm của Kita. Mặc dù đã thấy ở Kita người bác sĩ mình mơ ước, nhưng chẳng hiểu sao Saito vẫn quay về bệnh viện trường, tiếp tục vòng quay của mình, lần này là đến khoa sản. Tại đây anh lại gặp phải những ca chữa bệnh sinh sản, đẻ non, dị tật bẩm sinh. Cứ thế, tác giả để cho nhân vật là chàng bác sĩ trẻ 25 tuổi vật lộn với ước vọng được làm một người thấy thuốc chân chính, có lương tri và trách nhiệm, trong thế giới ngành y lạnh lùng và tàn nhẫn. Cuốn truyện gây được tiếng vang có lẽ là nhờ vào những vụ bê bối gần đây trong ngành y tế ở Nhật Bản.

Cuốn thứ hai là “The Sanmei Sama” (Hội ba người) của Makochin Ishihara (2 tập) cũng kể về ba chàng trai nội trú tuổi 25, 26, làm việc bán phần (part-time). Hàng đêm họ ngồi ở hàng quán chuyện gẫu hàng giờ về vật thể bay, về những giọng nói trong điện thoại động, rồi mơ mộng làm giàu qua Internet hoặc trở nên nổi tiếng như một siêu sao nào đấy. Như câu đề trên bìa sách nói rõ, đây là ba chàng trai tay trắng “không tiền bạc, không động cơ thúc đẩy, không việc làm, không tài năng, không chuyên môn, không kế hoạch, không ngoan cường, không mơ ước… chỉ có bạn bè và thời gian”. Không hiểu khi viết tác phẩm này, tác giả có nhằm đưa ra một cương lĩnh chính trị gì không, nhưng bức chân dung chính xác về một lớp trẻ bán thất nghiệp, sống vô mục đích, không có vị trí thực sự trong xã hội như thế là một điềm báo cho tương lai của Nhật Bản.


Ngoài nước

Nhà văn Nhật Bản ăn khách nhất ở nước ngoài hiện nay là Haruki Murakami. Sau đây là trường hợp của ông ở Nga. Với những nhân vật không phải theo kiểu người Nhật nề nếp, tham công tiếc việc, Murakami đang chiếm được trái tim của lớp độc giả trẻ ở Nga hiện nay. Dom Kinigi, một nhà sách lớn ở trung tâm Moskva, có một quầy riêng cho nhà văn Nhật này. Ðoán được nhu cầu đang tăng lên, nhà sách đã đặt thêm hàng, nhưng các sách của Murakami bán chạy đến mức một số nhà xuất bản không đủ sách cung ứng. Năm 2002, chỉ riêng Dom Knigi đã bán được khoảng 20.000 bản sách của Murakami, bằng khoảng một nửa sách Harry Potter bán được. Một nhân viên nhà sách cho biết, Murakami là nhà văn nước ngoài bán chạy thứ tư ở Nga. Các sách của Murakami đã được dịch ra 29 thứ tiếng ngoài Nhật Bản. Trong vòng bốn năm kể từ khi bản dịch tiếng Nga đầu tiên xuất hiện năm 1998, đã có năm tác phẩm khác của Murakami ra ở ba nhà xuất bản Nga. Tất cả đều thuộc danh sách bán chạy của nhà xuất bản. Oleg Sedov, chủ tịch nhà xuất bản Amfora, nơi đã bán được 16.000 bản ba tác phẩm của Murakami, gọi các sách đó là “mỏ vàng”.

“Cơn sốt” Murakami ở Nga bắt đầu khi lớp trẻ biết được các tác phẩm của ông qua trang mạng của các dịch giả. Bản thân Murakami cũng là một dịch giả nổi tiếng về văn học Mỹ, và những tác phẩm của ông cùng với âm nhạc, thức ăn phương Tây và các yếu tố khác của văn hóa đại chúng đã được dùng như một thứ “cột trụ” lôi cuốn các độc giả trẻ. Nói chung, người Nga ít có kênh thông tin về Nhật Bản hiện đại. Kết quả là, đối với nhiều người Nga, người Nhật là một dân tộc tăm tối, vô cá tính, thiếu trí tuệ riêng. Do đó, khi tiếp xúc với tiểu thuyết của Murakami họ bị kích thích, vì các nhân vật trong đó là những người quả quyết và độc đáo. Một số người thì cho nguyên nhân của hiện tượng này là ở sự giống nhau giữa nước Nga hậu xô viết và nước Nhật, nơi các giá trị tinh thần đang lung lay. Ở Nga nhiều thanh niên đang chạy theo các thứ văn hóa nhóm (subculture) khác nhau. Những sự tôn sùng biện hộ cho chủ nghĩa phát xít mới cực đoan và phủ nhận quá khứ cũng có nhiều người chạy theo. Trong môi trường xã hội đó, nhiều nhà quan sát thống nhất cho rằng các độc giả Nga đang tìm kiếm những giá trị bên trong cảm thấy gần gũi với cảm giác cô đơn nội tâm của các nhân vật của Murakami.

Theo văn phòng của Haruki Murakami, trong khi hầu hết các bản dịch tác phẩm của Murakami là từ tiếng Anh, thì bản tiếng Nga là được dịch thẳng từ tiếng Nhật. Bốn dịch giả Nga đã từng học tiếng Nhật dưới thời xô viết đảm nhiệm công việc này. Nắm bắt được sự phổ cập đang tăng lên của Murakami, năm ngoái một nhà xuất bản lớn nhất ở Nga đã bắt đầu thương lượng để được độc quyền các tác phẩm của ông. Năm nay hãng này dự định cho ra bộ sáu tác phẩm Murakami đầu tiên ở Nga và hy vọng sau đó sẽ xuất bản toàn tập của ông.

Tuy vậy, một số độc giả có tuổi vốn định kiến với văn hóa phương Tây thì phê phán các tác phẩm của Murakami, coi chúng là “hời hợt”. Một trong bốn dịch giả là anh Dmitry Kovalenin, 37 tuổi, người đầu tiên đến với tác phẩm Murakami khi làm phiên dịch tại Nhật Bản. Kovalenin nói rằng người Nga coi người Nhật là “những sinh vật ngoài trái đất, chỉ sống ở công ty”. Nhận xét về các nhân vật của Murakami, Kovalenin nói: “Nhân vật ở ngôi thứ nhất có thể gặp ở bất cứ nước nào, khiến tôi quên mất đây là nhà văn Nhật Bản. Nhân vật ở ngôi thứ hai được viết rõ ràng và có sự phân biệt rõ rệt giữa bản thân và người khác. Ý thức và tiềm thức đối diện nhau. Trước khi biết điều đó, tôi thấy mình đồng nhất với nhân vật, dường như nó là một anh bạn đồng hương. Sự chia tách bên trong là một đề tài truyền thống của văn học Nga và có điểm chung với Dostoyevsky”. Kovalenin cũng cho hay là anh thấy có cảm giác phù du mang tính chất phật giáo trong các tác phẩm của Murakami. “Ở Nga, một số tác phẩm văn học Nhật Bản đã được dịch từ những năm 1970. Trong khi tác phẩm của những nhà văn như Yasunari Kawabata và Yukio Mishima có vẻ thần bí, độc giả hiểu Murakami dễ dàng”, Kovalenin nói. “Thoát khỏi lối tư duy tập thể thời xô viết không thừa nhận hai mặt của bản tính con người, dân Nga hiện nay bắt đầu đối diện với bản ngã bên trong của họ. Tôi nhận được nhiều email của độc giả nói rằng các cuốn sách đó đã giúp họ nhận ra những cảm xúc mà họ bị kìm chế”.

Nhà phê bình văn học Anna Starobinets, 24 tuổi, nhận xét: “Các nhân vật của Murakami uống bia Heineken và ăn hamburger thay cho món sushi và sake. Ðộc giả Nga cảm thấy khó tiếp nhận các tác phẩm khác của văn học Nhật vì chúng có chung một hiện thực đạo đức duy nhất. Ngược lại, trong khi các tác phẩm của Murakami có sự mơ hồ phương Ðông, độc giả lại có thể tiếp nhận được mà không thấy xa lạ”. Khi chế độ xô viết sụp đổ, nhiều người thấy có cảm giác lạc lõng. Trong hoàn cảnh đó, độc giả đồng nhất mình với các nhân vật của Murakami cư xử một cách tự do, thoải mái. “Bên cạnh lớp trẻ, những người sống qua thời nhỏ vào các thập niên 1960 và 1970, khi tình hình Liên Xô không căng thẳng lắm, cũng thích Murakami”, Starobinets nói. “Ðiều này là do họ có xu hướng tìm lại mình ở trong đó thay vì xã hội, phản ứng lại chế độ Stalin”. Starobinets kết luận: “Nhìn từ quan điểm văn học truyền thống, tác phẩm của Murakami có thể là “hời hợt”. Sự phổ cập của nó là do có ít tác phẩm văn học Nga thu hút được độc giả. Các truyện trinh thám và truyện tình yêu nhẹ nhàng cũng bán chạy”.

Đưa văn học Nhật Bản ra nước ngoài

Trong nỗ lực xúc tiến đưa văn học Nhật Bản ra nước ngoài, tháng Ba này Vụ văn hóa thuộc Bộ Giáo dục, Khoa Học và Công nghệ Nhật Bản sẽ tổ chức các nhóm chuyên gia văn học ở Mỹ, Pháp và Nga để lựa chọn các tác phẩm văn học hiện đại Nhật Bản được xem là thu hút độc giả ngoại quốc nhất. Các nhóm này dự định gồm các biên tập viên xuất bản và các nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản ở các nước đó. Họ sẽ được yêu cầu chọn ra những tác phẩm văn học hiện đại Nhật Bản có khả năng thu hút độc giả nước ngoài để dịch và xuất bản ở nước họ.
Mùa xuân năm ngoái, Vụ văn hóa đã thực hiện chương trình giúp đỡ việc công bố bản dịch các tác phẩm văn học Nhật Bản xuất sắc. Vụ đã tài trợ cho toànn bộ quá trình này từ chọn tác phẩm để dịch, ký hợp đồng với các nhà văn được dịch đến việc dịch và xuất bản. Trong giai đoạn đầu của chương trình, tác phẩm của 27 nhà văn, bao gồm Taichi Yamada và Ayako Sono, đã được các chuyên gia Nhật Bản chọn ra để xuất bản ở Mỹ vào tháng 11 và ở các nước khác vào mùa thu năm nay. Các sách được chọn dựa trên cơ sở các thành viên của nhĩm chuyên gia thấy đáng được xuất bản ở nước ngoài.
Nhằm mục đích mở rộng độc giả văn học Nhật Bản ở nước ngoài, năm nay các nhóm chuyên gia ở ba nước nói trên sẽ chọn tác phẩm trên cơ sở họ thấy độc giả nước ngoài muốn đọc. Theo sự giới thiệu đó của họ, đến mùa thu này Vụ văn hóa sẽ quyết định khoảng 10 cuốn sách sẽ được dịch ra nước ngồi. Một khoản ngân sách 330 triệu yên đã được dự trù cho giai đoạn hai của chương trình trong năm tài khóa 2003. Thêm vào kinh phí cho kế hoạch xuất bản, Vụ sẽ dùng ngân sách mua 20000 bản của mỗi cuốn dịch để phát không cho các trường đại học và các thư viện ở nước ngoài.
Đến giai đoạn hai của chương trình, Vụ sẽ tăng thêm nỗ lực giúp quảng bá các sách đã được dịch ra tiếng nước ngoài. Vụ sẽ trưng bày các sách đó và phát các tờ rơi quảng cáo tại các hội chợ sách quốc tế ở New York, Frankfurt và những nơi khác. Ông vụ trưởng dự định có bài phát biểu giới thiệu văn học hiện đại Nhật Bản tại New York vào tháng Sáu tới. Số tác phẩm văn học Nhật Bản đã dịch ra tiếng nước ngoài ít hơn số tác phẩm văn học nước ngoài dịch vào Nhật Bản, tỉ lệ ở đây là 1/20 hoặc 1/30.

© 2003 talawas

 
© talawas 2026