Sư Đông Binh
Mùa xuân năm 1988, hai lần tôi được một người bạn đưa đến nhà đồng chí Hồ Diệu Bang [1] tại một con hẻm gần Trung Nam Hải để cùng đồng chí trò chuyện hai lần. Mới nhìn, đúng là đồng chí trông già hẳn đi. Mới chỉ có hai năm thôi, vị Tổng Bí thư hăng hái, sôi nổi, dễ gần, nói chuyện rất vui ngày nào như đã biến thành một con người khác. Đồng chí người không cao, khi bắt tay, dường như gây cho tôi một cảm giác là đồng chí phải ngửng đầu lên nhìn, thế nhưng khi cùng đồng chí ngồi xuống ghế, tôi lại có cảm giác thật gần gũi. Nói chuyện được một lúc tôi càng cảm thấy con người này có phong độ khác thường. So với Hoa Quốc Phong, rõ ràng là tinh lực tràn trề. Người ta hiểu được nhà chính trị tư lịch chưa sâu lắm này, chỉ sau khi đồng chí đã rời khỏi cương vị Tổng Bí thư. Đến bây giờ người ta mới thấy những lời nói trước đây, những hành động trước đây, đặc biệt là lập trường và thái độ của đồng chí đối với một số vụ án trọng đại là đáng tưởng nhớ biết bao.
Hồ Diệu Bang tỏ lời khen mấy cuốn sách của tôi đưa tặng từ trước, cho biết đã đọc hết, thấy “quan điểm rõ ràng”. Tôi nói: “Hôm nay nói chuyện với đồng chí, tôi muốn theo một nguyên tắc, trao đổi ý kiến một cách bình đẳng về các sự thực lịch sử. Chúng ta trao đổi ý kiến vì đều muốn khôi phục lại bộ mặt vốn có của lịch sử, cho dù tôi rất kính trọng đồng chí, thế nhưng tình cảm cá nhân không thể chế tạo ra lịch sử và sửa đổi lịch sử, và cũng không thể tuỳ tiện trình bầy sự thực lịch sử trái với thực tế. Vì vậy tôi rất muốn cùng đồng chí nhìn lại một cách tương đối tỷ mỉ những sự thực lịch sử từ sau Cách mạng Văn hóa, điều này sẽ rất có ích cho chúng ta từ nay trở đi.”
“Đồng chí cho là đã đến lúc rồi à?”, Hồ Diệu Bang hỏi: “Bây giờ công bố một số sự thực và tài liệu lịch sử liệu có lợi cho sự đoàn kết và ổn định hiện nay không? Tôi không muốn vì tôi mà lại gây ra những thị phi gì nữa, tuy vậy trước sau tôi đều ủng hộ hết mình đối với việc nghiên cứu và viết lách của các nhà văn và học giả. Tôi cho rằng không nên dùng những cái do con người tạo ra để hạn chế sự viết lách của nhà văn, hơn nữa hạn chế cũng không nổi. Phương pháp duy nhất chính xác là hướng dẫn, làm cho các nhà văn và những người làm công tác văn nghệ có thể tự giác phục vụ nhân dân. Về điểm này Tiểu Bình cũng đồng ý cách nhìn của tôi. Từ trên người nhà chính trị già này tôi đã học được không ít điều. Tất nhiên điều quan trọng hơn là từ trong thực tiễn học được những kinh nghiệm và bài học qúi báu nhất. Nói chung tôi rất muốn có được một, hai tác phẩm bất hủ, phản ánh được kinh nghiệm và bài học của Đảng và nhà nước ta trong mấy chục năm qua. Đó là một cơ hội không dễ có, tôi hy vọng đồng chí có thể nắm bắt được cơ hội này.”
“Tôi cũng cho là như vậy. Đồng thời tôi cũng nghĩ là đồng chí nên ngồi vào cùng với mọi người tổng kết đoạn đường không tầm thường mà đồng chí đã đi qua.” Tôi nói: “ Đồng chí đã rời khỏi cương vị Tổng Bí thư, nói chung nên có sự tổng kết của mình đối với lịch sử trước đây. Ví dụ như cuộc đấu tranh với sai lầm của hai cái ‘phàm là’ [2] của Hoa Quốc Phong, những dũng khí và đảm lược được thể hiện ra trong giai đoạn lịch sử sai lầm này. Về cuộc thảo luận ‘thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý’, đã sản sinh ra những tác dụng quan trọng trong lịch sử Đảng ta, mà bây giờ không thể dùng ngôn ngữ để miêu tả. Tôi cũng cảm thấy bây giờ vẫn chưa phải lúc để tổng kết những ý nghĩa này.”
“Đồng chí nói rất có đạo lý, nhưng tôi phải nói với đồng chí, mặc dù tôi đã rời vị trí Tổng Bí thư nhưng tôi vẫn còn ở trong Bộ Chính trị. Khi nào hoàn toàn rời khỏi vũ đài chính trị, tôi sẽ hợp tác với đồng chí viết cuốn sách đó. Chỉ có đến lúc đó, tư tưởng của tôi mới hoàn toàn giải phóng. Về điểm này tôi hy vọng đồng chí hiểu cho, nhưng đồng chí đã đến đây, tôi vẫn vui lòng cung cấp cho đồng chí một số tài liệu mà tôi biết để tham khảo. Tôi là người Hồ Nam, đồng chí đã tới Hồ Nam chưa?”
(Nhân nói đến Hồ Nam,hai người đã trao đổi với nhau về Đàm Tự Đồng – một nhà cải cách Trung Quốc nổi tiếng thời cận đại cũng là người Hồ Nam, chúng tôi lược bỏ đoạn này để tập trung vào các vấn đề đương đại – ND.)
Hồ Diệu Bang nói: “… Tuyệt đối không được coi thường kinh nghiệm chính trị. Về mặt này tôi khâm phục đồng chí Đặng Tiểu Bình. Khi uốn nắn sai lầm hai cái ‘phàm là’ của Hoa Quốc Phong, đồng chí ấy sợ Hoa đột kích bất ngờ. Khi quân khu Hoa Bắc diễn tập, đồng chí ấy đều không nghỉ lại địa điểm diễn tập mà hàng ngày đều ngồi ôtô trở về Bắc Kinh. Tính cảnh giác chính trị của đồng chí rất cao, mọi mặt đều chuẩn bị vô cùng tỷ mỉ, nên đã thuận lợi quá độ chuyển giao quyền hành. Thay đổi vị thế là rất khó, lúc đó tôi cũng không nghĩ là có thể thuận lợi như vậy. Trải qua các cuộc đấu tranh đường lối trong Đảng và các cuộc đấu tranh chính trị từ ngày thành lập nước (CHND Trung Hoa) đến nay, nhất là trải qua hai lần bị đả kích trong Cách mạng Văn hoá, đồng chí Đặng Tiểu Bình đã tỏ rõ sự thành thục hơn bất kỳ người nào khác. Khi giải quyết vấn đề Hoa Quốc Phong đã vận dụng thủ đoạn chính trị tới mức tuyệt chiêu. Mỗi lần đồng chí ấy đưa ra một kiến nghị, Hoa Quốc Phong đều không hiểu là ý tứ gì, ông ta còn làm ra bộ thông minh để tiến hành phát huy và giải thích. Tôi cũng thấy ông ta chẳng có bản lĩnh để có thể tiến hành những cải cách trọng đại trong Đảng, trong nước. Lúc đó Đặng Tiểu Bình nói với tôi và Triệu Tử Dương: ‘Hai người đều ít tuổi hơn bọn chúng tôi, các anh ở phía trước mạnh dạn làm đi, mặt này đánh thanh la mặt kia thì gõ trống với Hoa Quốc Phong, tôi làm hậu thuẫn cho các anh, Trần Vân cũng làm hậu thuẫn cho các anh. Các anh cố hết sức đừng đẩy chúng tôi lên tuyến một, vì như vậy một khi họ khiêu chiến chúng tôi sẽ không biết nói thế nào cho phải.’ Thế nhưng vào lúc then chốt thật, ông ấy lại xông ra tuyến một chỉ huy. Tôi đã tổng kết vấn đề đồng chí Đặng Tiểu Bình và tôi giải quyết Hoa Quốc Phong thành công: trước hết, chúng tôi là chính nghĩa, chúng tôi đã nêu ra một loạt ý kiến về cải cách hoàn toàn phù hợp với tâm nguyện của toàn Đảng và toàn dân, như loại bỏ chế độ cán bộ lãnh đạo suốt đời, thực hiện chế độ dân chủ và chế độ lãnh đạo tập thể trong Đảng v.v…, thứ hai, chúng tôi đã giải quyết kịp thời một loạt lớn cán bộ lãnh đạo Trung ương, cuộc đấu tranh bình phản các vụ án oan, án giả, án sai đã trở thành trào lưu không thể ngăn cản, ở Bộ Chính trị, lực lượng chúng tôi đã chiếm ưu thế tuyệt đối; thứ ba, về lý luận chúng tôi đã uốn nắn làm rõ đúng sai những vấn đề bị bọn họ làm rối loạn, đề xuất thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, đả phá triệt để cơ sở lý luận của phái hai cái ‘phàm là’; thứ tư, sau khi đồng chí Đặng Tiểu Bình chủ trì công tác Quân uỷ, trên công tác thực tế đã thực sự khống chế quân đội, làm tốt việc chuẩn bị ngăn chặn đột kích bất ngờ của một số người như Hoa Quốc Phong đối với chúng ta; thứ năm chúng tôi đã chế định được một loạt kỷ luật và chế độ cho trong Đảng và trong nước, ngăn chặn có hiệu quả điều kiện để bọn họ hoạt động bè phái; thứ sáu, chúng tôi bắt đầu từ bên dưới rồi từng bước leo thang lên giải quyết một loạt lực lượng cốt cán của ông ta, khiến ông ta mất đi lực lượng điều khiển. Về những mặt này đồng chí Đặng Tiểu Bình đúng là một nhà chính trị xuất sắc, đáng để chúng ta học tập.”
Hồ Diệu Bang là người luôn luôn làm việc hừng hực, sôi nổi, gấp gáp, về học tập cũng như vậy. Chưa đọc xong cuốn sách này đồng chí đã lật đọc quyển sách khác, tôi thực lòng không hiểu những người bề ngoài xem ra lúc nào cũng vội vội vàng vàng nhưng tri thức và học thức nghèo nàn trống rỗng hiện nay đã nhìn nhận tinh thần nghiêm túc cầu học và nghiên cứu vấn đề của đồng chí Hồ Diệu Bang như thế nào. Sau khi đồng chí lùi khỏi cương vụ Tổng Bí thư, đã bắt đầu đọc tác phẩm Tư bản luận nổi tiếng của Marx. Khi đọc những bản ghi chép đọc sách của đồng chí, tôi càng cảm thấy kính phục nhà chính trị có tinh thần học tập nghiên cứu rất cao. Đồng chí nói với tôi: “Trước đây không có thời gian để đọc sách nghiêm chỉnh, chỉ từ sau khi bị đánh đổ trong Cách mạng Văn hoá, bị ra rìa, mới có thời gian đọc sách. Thời gian đó đọc được rất nhiều sách, gợi ý cho tôi rất nhiều, khiến tôi phản tỉnh được nhiều vấn đề. Khi Đặng Tiểu Bình được phục hồi, chúng tôi vừa gặp nhau, đồng chí ấy đã nói: “Tổng kết kinh nghiệm, dùng lợi để đánh lại”. Tôi đã thể hội tốt câu nói này của đồng chí, nó đã cổ vũ tôi tiếp tục chiến đấu với bọn họ. Năm 1974 và 1975 là thời kỳ đấu tranh gay gắt trong nội bộ Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình đang vô cùng sôi động về chính trị, đã từng nói với tôi: “Mao Chủ tịch trọng dụng tôi, muốn tôi đưa công tác kinh tế toàn quốc đi lên trong thời gian Thủ tướng (chỉ Chu Ân Lai) ốm nặng, người nhìn thấy bọn kia không được, không làm được kinh tế, ngay những vấn đề cơ sở của nền kinh tế quốc dân cũng không nắm được thì còn làm được cái gì?. Bọn Giang Thanh, Trương Xuân Kiều hô khẩu hiệu còn tạm được, chứ khi thực sự vận dụng vào những cái trong thực tế thì lại nhát như thỏ đế. Tôi bây giờ muốn không làm cũng không được nữa, nhân cơ hội này chúng ta phải ép bọn chúng xuống.” Lúc đó tôi rất lo vì Mao Chủ tịch đang trọng dụng bọn Giang Thanh, Trương Xuân Kiều. Tôi hỏi Tiểu Bình: “Liệu có được không? Chúng ta có thể đấu được bọn chúng không?” Đặng Tiểu Bình nói: “Có thể, hiện nay sức khoẻ Mao Chủ tịch không ổn rồi, sẽ không còn cảnh mặt mũi hồng hào vui cười hớn hở nữa đâu. Bác sĩ lén nói với tôi: ông ấy chỉ còn thời gian một, hai năm.” Tôi nghe xong như muốn nhẩy lên: trời ơi, trong một, hai năm đó nếu đừng để cho bọn chúng nắm búi tóc, bị đả đảo lần nữa thì sẽ có nhiều cảnh hay để xem. Thế nhưng dường như Đặng Tiểu Bình cho rằng Mao Chủ tịch không còn sức xoay chuyển trời đất nữa, ông nói: “Bây giờ là thời cơ tốt nhất, chúng ta phải làm cho kinh tế có những điểm nổi lên, xây dựng cơ sở của chúng ta và lòng tin của nhân dân quần chúng. Như thế là một đòn đánh nặng nề vào phái Cách mạng Văn hóa. Tuy bậy dự tính của Đặng Tiểu Bình đã có vấn đề, Sau khi suy ngẫm, đặc biệt là sau khi nghe một loạt báo cáo của Mao Viễn Tân và Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Mao Trạch Đông vào những giờ phút cuối cùng của cuộc sống đã quyết định loại bỏ Đặng Tiểu Bình. Sau khi phát sinh sự kiện Thiên An Môn (4/1976), sau khi bị Mao Chủ tịch cách hết mọi chức vụ, Đặng Tiểu Bình đã từng nói với nhân viên công tác bên mình rằng: “Tôi đã đánh giá thấp năng lực của Mao Chủ tịch, không nghĩ là ông còn khí phách như vậy, ông đúng là một vĩ nhân.” Lúc này Mao Chủ tịch uy tín vẫn rất cao vào lúc cuộc sống chỉ còn thoi thóp mà vẫn có quyết tâm và đảm lược lớn như vậy, những người bình thường khác chắc chắn là không dám. Sau khi Mao Trạch Đông tạ thế, tôi là người đến thăm Đặng Tiểu Bình sớm nhất. Khi tôi nêu lối ra sắp tới của Trung Quốc, Đặng nói với tôi như thế này: “Hiện nay còn khó nói, người thừa kế mới còn tiếp tục phê tôi, nhưng ông ta không thể kéo dài được, mâu thuẫn giữa ông ta và bọn người kia (chỉ ‘lũ bốn người’) sẽ nhanh chóng leo thang lên thành mâu thuẫn chủ yếu. Chúng ta cần xem xét bước phát triển sắp tới.”. Thời gian này Đặng gửi gắm hy vọng lớn nhất vào quân đội, ông ta đã từng nói câu sau: “Chỉ cần Diệp Kiếm Anh có thể khống chế được quân đội, mọi chuyện đều dễ làm. Phải nói như thế này quân đội vẫn nghe lời Diệp. Khi chúng tôi chỉnh đốn quân đội, đã chuẩn bị tốt lực lượng cơ bản. Mao Chủ tịch đề bạt mấy người đều không có uy tín, cũng không hiểu đấu tranh chính trị, nên bọn họ chẳng phát huy được tác dụng gì lớn. Thậm chí những năm tháng gây chuyện cũng đã qua rồi, chẳng cần đợi đến lúc bọn chúng gây dựng được dư luận là đã giải quyết được bọn họ rồi.” Những lời nói đó của Đặng Tiểu Bình đã gây ra sự chấn động lớn trong tôi. Lúc đó tôi rất lo, nếu Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, nghe được những lời nói này của Đặng Tiểu Bình, chắc chắn chúng sẽ hạ thủ ông. Sự đánh giá của Đặng rất đúng, bọn Giang Thanh lúc đó chủ yếu lo đối phó với Hoa Quốc Phong, giải quyết vấn đề quyền lực, đã không còn coi con hổ đáng căm ghét Đặng Tiểu Bình thành mối lo trong lòng. Có thể nói đây là sai lầm trọng đại của bọn Giang Thanh. Từ đây, đồng chí cũng có thể thấy Đặng Tiểu Bình là một nhà chính trị lo xa, tính sâu. Mấy lần bị đánh đổ đã khiến ông tránh được những sai lầm có thể mắc phải sau đó, khiến ông chuẩn bị tốt được lực lượng cốt cán và cán bộ đáng tin cậy cho mình.”
Tôi hỏi: “Sau khi Đặng Tiểu Bình được phục hội lần thứ hai, Hoa Quốc Phong có cảm thấy nguy hiểm không?”
Hồ Diệu Bang nói: “Lúc đầu Hoa Quốc Phong lo lắng dư luận bên ngoài không có lợi cho mình, nhưng sau đó có nhiều người làm công tác với ông ta, ông ta cũng muốn Đặng Tiểu Bình làm công tác kinh tế cho mình mấy năm, thúc đẩy sớm thực hiện bốn hiện đại hoá. Tôi còn nhớ rất rõ, khi Đặng Tiểu Bình vừa đi làm, Hoa Quốc Phong đã nói với đồng chí ấy: ‘Trước tiên đồng chí nắm tình hình sau khi đánh đổ ‘lũ bốn người’ một chút, vào thời gian thích hợp sẽ tự phê bình tại hội nghị Trung ương, sau đó tôi xoa dịu cho đồng chí, để mọi người tiếp nhận sự lãnh đạo của đồng chí. Nếu gặp người có ý kiến bất đồng, tôi sẽ giải thích với họ. Tôi có thể bảo đảm để đồng chí làm việc tốt trong năm năm.’ Đặng Tiểu Bình cười nhạt trong lòng nhưng không để lộ thanh sắc, mà chỉ nói một câu: ‘cám ơn’. Tình hình tư tưởng của Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh thấy rất rõ. Ở đây có sự phối hợp ngầm giữa hai người, quả là kiệt tác của hai nhà chính trị.”
Nghe đến đó, tôi đề nghị Hồ Diệu Bang nói tỷ mỉ hơn một chút. Ông liền thuyết minh: “Theo quan sát của tôi, Diệp Kiếm Anh bằng lòng để Đặng Tiểu BÌnh trở lại công tác để uốn nắn những sai lầm của Hoa Quốc Phong, giải quyết vấn đề chuyển giao quyền lực về tổ chức. Thế nhưng vì sau khi đánh đổ ‘lũ bốn người’ Diệp Kiếm Anh đã nói nhiều lời tốt đẹp về Hoa Quốc Phong [3] nên không thể đổi giọng ngay lập tức, nên mới bắt đầu giả vờ làm ra vẻ hồ đồ trong Trung ương Đảng. Ông chuẩn bị trong tình hình một khi Đặng Tiểu Bình thất lợi vẫn có thể đứng ra thu thập tàn cục. tôi thấy rất rõ sách lược và nghệ thuật đấu tranh của hai nhà chính trị này. Tôi đã từng hỏi Đặng Tiểu Bình: nếu thế lực Hoa Quốc Phong quá lớn, tình hình không có lợi cho chúng ta thì làm thế nào? Lúc đó Đặng Tiểu Bình đã trả lời: "Đừng lo, Diệp soái rất giỏi xử lý những việc thuộc lĩnh vực này. Bất kỳ cuộc đấu tranh chính trị nào cũng không được dùng hết toàn bộ lực lượng của mình, nói chung đều phải lưu lại đội dự bị và đội tăng viện. Việc này giao cho Diệp soái.” Và về mặt này, Diệp soái cũng phối hợp vô cùng khôn khéo. Mỗi lời nói và việc làm của Hoa Quốc Phong bao gồm cả tư tưởng ông ta lên xuống ra sao, đều bị chúng tôi nắm vững toàn bộ. Tôi cho rằng, trong tất cả những cuộc đấu tranh chính trị nà tôi đã trải qua, việc giải quyết vấn đề Hoa Quốc Phong là điển hình thành công nhất. Lực lượng đại biểu cho chính nghĩa không bị tổn thất lớn, đã thông qua sinh hoạt bình thường trong Đảng loại bỏ triệt để hậu hoạn.”
Tôi hỏi: “Bất đồng giữa đồng chí và Đặng Tiểu Bình đã nẩy sinh như thế nào?”
Hồ Diệu Bang nghĩ một chút rồi nói: “Nói một cách nghiêm túc, giữa tôi và đồng chí Tiểu Bình không có bất đồng căn bản gì, có một số người đã tiến hành những hoạt động xúi giục ly gián giữa hai chúng tôi, tôi thấy rõ. Thế nhưng xuất phát từ lợi ích của Đảng xưa nay tôi không bao giờ và cũng không có khả năng làm công tác với người khác. Xưa nay tôi vẫn cho rằng không cần thiết để cho những lời nói không đâu quấy rối tư duy của mình trong công việc. Đó là điều thường thức. Đồng chí là nhà văn, tương lai sẽ được đọc một số văn kiện quan trọng nhất, đến lúc đó lại bàn về một số sự tình trong Đảng có lẽ đúng lúc hơn. Xưa nay người quân tử thường chịu thiệt với bọn tiểu nhân, sợ bọn tiểu nhân không phải vì bé gan mà là do thận trọng. Tôi đã chịu thiệt về mặt này rồi. Không thể đề phòng hết những hoạt động của bọn tiểu nhân, anh có nhượng bộ bọn họ cũng chẳng ích gì. Ví dụ như chỉnh Đảng, trước đây chúng ta đã hạ quyết tâm. Yêu cầu toàn Đảng phải làm được những việc, nhưng trước tiên Trung ương phải làm, Trung ương phải dẫn đầu. Và như vậy là đắc tội một số người, thậm chí đắc tội một số người tương đối có thế lực. Khi tôi đề xuất phải nắm một số vụ án, một số đồng chí uỷ viên Bộ chính trị đã sợ hãi. Tôi nói với họ: nếu ngay các đồng chí cũng sợ hãi thì đừng đề cập đến dân chúng phổ thông nữa. Nếu như không dám động chạm đến bọn nha môn (con em quan chức) này, thì khi uỷ viên Bộ Chính trị phạm tội sẽ làm thế nào? Hiện nay Đảng ta còn chưa có qui định pháp luật về việc này, chống tham nhũng chỉ là lời nói suông. Cũng có nghĩa là nói chỉ khi phần tử tham nhũng thất thế về chính trị, thì vấn đề của chúng mới bị vạch ra, còn nếu không thì gác lại coi như xong, những hiện tượng như vậy phải chăng là nhìn mãi quen mắt rồi sao?”
Nghe những kiến giải chính xác mà thấu triệt của đồng chí tôi rất phấn khởi vì thấy những phản ánh và yêu cầu của dưới lên, bên trên không phải là không hiểu mà giống như vậy, cũng cảm thấy chưa có biện pháp tốt để giải quyết vấn đề. Bởi vì biện pháp nào thì cũng phải gắn chặt với quyền lực. Đó là một vấn đề rất cần được giải quyết nhưng hiện nay lại không thể giải quyết nổi. Bàn đến đây, tôi lại hỏi: “Thế thì đồng chí có cho rằng rốt cuộc những phê bình của Uỷ ban Cố vấn đối với đồng chí là có đạo lý nhất định nào không? Tôi cảm thấy cần phải đối xử đúng đắn với vấn đề này. Mấy năm nay uy tín của Đảng ta bị một số phần tử tham nhũng làm xấu đi rất nhiều, trong con mắt của quần chúng nhân dân dường như không có quan nào là không tham nhũng, con em cán bộ cao cấp là đại danh từ của tham nhũng. Trung ương Đảng phải hạ quyết tâm về vấn đề này. Một ngày chưa trừ bỏ được tham nhũng, thì một ngày trong Đảng không yên, một ngày trong nước không yên, một ngày nhân dân không yên. Thế nhưng để thực sự làm được điểm này, chỉ dựa vào sự giám sát đôn đốc của ngành pháp luật và sự giám sát đôn đốc của mình Đảng ta là không được, chỉ có sự giám sát đôn đốc dân chủ từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên, sự giám sát đôn đốc của dư luận, sự giám sát đôn đốc của nhân dân thì mới có hiệu quả. Vì sao Trung ương Đảng không hạ quyết tâm xây dựng cơ chế quản lý này?”
“Ở đấy còn có vấn đề mà chúng ta đã đề cập ban đầu, tức thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm chân lý. Vấn đề kiểm nghiệm cũng đòi hỏi phải có thời gian. Đến một thời gian nhất định, chúng ta sẽ có thể phát hiện được (vấn đề) ai đúng ai sai. Hiện nay tôi chẳng nói rõ được cái gì cả. Về mặt này quá khứ của Đảng ta là một ví dụ, liệu có thể tiêu diệt được (tham nhũng) hoàn toàn trong tương lai hay không? Tôi thấy cũng rất khó nói, nói tóm lại là từ hội nghị Trung ương lần thứ ba khoá mười một đến nay, mỗi ngày Đảng ta một thành thục hơn, bài học lịch sử của Cách mạng Văn hoá trước đây có thể sẽ không trở lại. Thế nhưng, ngẫu nhiên vẫn có thể có một số vấn đề lịch sử nào đó, và cũng là bình thường thôi.. Hiện nay chúng ta đang đọc rất nhiều tác phẩm của Marx, Lenin. Khi đọc cuốn Tư bản luận, tôi thấy lần này rất có ý nghĩa.” Rõ ràng là đồng chí Hồ Diệu Bang đã giữ thái độ thận trọng đối với vấn đề nhạy cảm này, hoặc giả nói, đồng chí còn chưa hình thành nhận thức hoàn chỉnh, có hệ thống đối với các vấn đề đó. Đồng chí nói: “Tôi và đồng chí Tiểu Bình, đồng chí Trần Vân đã nhiều lần thảo luận vấn đề này, thái độ của Đặng Tiểu Bình là: thứ nhất, phải nắm tốt ổn định, nếu toàn bộ cục diện chính trị và tình hình không ổn định, bất kỳ ý nghĩa nào của chống tham nhũng cũng chỉ là câu nói rỗng tuếch. Thứ hai phải dùng biện pháp kết hợp chặt chẽ sự lãnh đạo của Đảng và các bộ môn pháp luật, tất cả đều làm việc theo pháp luật, theo trình tự pháp luật tiến hành đấu tranh kiên quyết với mọi phần tử tham nhũng. Tôi cho rằng, trong vấn đề này cần tránh thói xấu, người lãnh đạo vừa nghe báo cáo đã tỏ thái độ, các đồng chí bên dưới chỉ dựa vào thái độ của lãnh đạo mà làm theo. Tóm lại chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh lâu dài, phải thiết lập một cơ chế có hiệu quả. Rốt cuộc bao giờ thiết lập được cơ chế này, chúng ta có thể thăm dò nghiên cứu thêm.”
Tôi hỏi: “ Đồng chí đọc Tư bản luận của Marx có những thể hội gì?”
Hồ Diệu Bang nói: “Thể hội rất nhiều. Nói thực lòng, trước đây chúng tôi chẳng đọc được bao nhiêu sách Marx, Lenin. Chẳng có bao nhiêu lãnh đạo cấp cao thực sự đọc các tác phẩm kinh điển, ngay có đọc cũng không đọc trọn vẹn. Đồng chí Hồ Kiều Mộc nói đồng chí ấy đã đọc bao nhiêu, bao nhiêu, tôi đã từng tự mình hỏi đồng chí ấy mấy lần, thực ra đồng chí ấy cũng chưa đọc, chẳng qua là trích dẫn mấy câu ngữ lục trong tác phẩm kinh điển của Marx-Lenin mà thôi. Cách làm này chẳng khác cách làm của Lâm Bưu bao nhiêu. Tất nhiên tôi không nói đồng chí ấy là Lâm Bưu, mà là nói phương pháp đó không phải là phương pháp chính xác để học tập chủ nghĩa Marx. Trước đây vì quá bận, tôi cũng chưa thực sự ngồi xuống để nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề này. Bây giờ có thời gian, tôi mới thực sự phát hiện ra vấn đề. Trước đây Đảng ta đã bị nhiều thiệt thòi về mặt này, bây giờ làm thế nào? Có khả năng còn phải trả học phí. Nhưng đây là vấn đề đòi hỏi các đồng chí có cơ sở lý luận trong Đảng ta, nghiêm túc nghiên cứu và thảo luận thì mới có thể thực sự thực hiện được. Tôi và đồng chí Đặng Tiểu Bình đã thảo luận về vấn đề học tập chủ nghĩa Marx-Lenin, Tiểu Bình cho rằng: chủ yếu là nghiên cứu những vấn đề tồn tại trong thực tế, không được tách rời học tập và thực tế. Trước đây, bất kể là khi đường lối sai lầm chiếm địa vị thống trị hay là trong thời gian cách mạng văn hoá vô sản, đều rất ít đề cập đến việc học tập (tác phẩm) Marx-Lenin, nhưng càng học càng xa rời chủ nghĩa Marx-Lenin. Vì sao lại tạo thành kết quả như vậy? Đó là do những người kiên trì đường lối tả khuynh nói chung đều muốn tìm được câu trả lời đã có sẵn trong sách vở, hơn nữa nói chung họ lại muốn những kết luận trong những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lenin phù hợp với vấn đề, tình hình xã hội và chính trị đương thời. Điều này đã tạo cơ hội cho những kẻ giáo điều chủ nghĩa, những bọn chủ nghĩa Marx giả huênh hoang khoác lác công khai. Hiện nay chúng ta nên nghiên cứu nhiều hơn về việc chấp hành chính sách của Đảng thì có lợi hơn. Tôi giữ thái độ bảo lưu đối với quan điểm này. Đặng Tiểu Bình nói, ông cũng chưa đọc một cách có hệ thống các sách của Marx-Lenin, chỉ mới đọc những đạo lý, câu văn đơn giản của chủ nghĩa cộng sản, tôi cảm thấy là chưa đủ, còn phải bỏ công sức ra học tập, liên hệ với vấn đề cụ thể của cách mạng Trung Quốc mà học tập.”
Tôi nói: “Nói như vậy là thời gian chúng ta thảo luận một số vấn đề hiện nay là vẫn chưa hoàn toàn chín muồi, có phải là ý tứ đó không?”, hình như Hồ Diệu Bang gật đầu, tôi nói tiếp luôn: “Đồng chí cho rằng hai cái ‘phàm là’ chỉ là sai lầm của những người kiên trì chủ nghĩa giáo điều ư? Tôi càm thấy bọn họ, ngoài việc tư tưởng cứng nhắc ra cón có sự ấu trĩ về chính trị và sự không chính phái về tác phong. Những nhân vật kiên trì hai cái ‘phàm là’ này, động một tý là vung gậy đánh người, chỉnh người, dường như bọn họ đã quen với tác phong xấu xa chỉ mình ta là độc tôn.” Tôi kể liền một mạch nhiều ví dụ để thuyết minh những cái vô xỉ và bỉ ổi của những người này, đồng thời cũng thuyết minh, bất kỳ lý luận chính trị nào đều thể hiện bằng lợi ích chính trị và cương lĩnh của tập đoàn chính trị. Hồ Diệu Bang đồng ý nhận định này.
Hồ Diệu Bang nói: “Khi một trào lưu sai lầm ùa tới, người ta thường chưa nhận thức ngay được những sai lầm của nó, anh có nói về thực sự cầu thị như thế nào thì cũng chẳng có ích gì. Đại khái đồng chí cũng biết, cách nêu thực sự cầu thị đã được Đảng ta nói mãi từ sau khi thành lập Đảng. Vương Minh nói, Lý Lập Tam nói, Mao Chủ tịch nói còn nhiều hơn, nhưng thế nào là thực sự cầu thị thì trước nay đều có cách giải thích khác nhau, xưa nay đều không có một nhận thức thống nhất. Hiện nay, so với trước đây đúng là Đảng ta đã thành thục hơn, nhưng thành thục không có nghĩa là không phạm sai lầm, không thể tránh không phạm sai lầm, vấn đề là ở chỗ chúng ta làm thế nào để ít phạm sai lầm. Phân biệt, thấy được những cái sai lầm không dễ đâu, ngay vào thời kỳ giữa của Cách mạng Văn hóa, Đảng ta vẫn không, thậm chí không dám hoài nghi là Mao Chủ tịch phạm sai lầm, về căn bản không dám nghĩ như vậy, ngay nghĩ đến cũng không dám. Lúc đó toàn Đảng đều giơ tay, trong đó tôi cũng là người đã giơ tay, đả đảo Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, tôi vốn không phải là nhất quán chính xác. Nói ông (Mao Trạch Đông) xưa nay đều chính xác là nói phét. Lịch sử quá khứ nói cho chúng ta rằng ai đang ở trên vũ đài chính trị, người đó là chính xác. Điều này đã được chứng minh là không đúng. Nếu đã biết bài học đó, thì nên có sự chuẩn bị, thế nhưng trong Đảng ta có nhiều đồng chí ngay cái đó cũng không nhận thức chính xác. Đây là một trong những bài học mà chúng ta nên tiếp thu.”
Tôi nói: “Những kinh nghiệm mà đồng chí vừa nói khiến tôi càng xúc động, vì rốt cuộc đồng chí đã trải qua nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của Đảng ta. Đồng chí là người chứng kiến và người tham dự việc uốn nắn hai cái ‘phàm là’ của Hoa Quốc Phong, nhất định đồng chí có nhiều sự từng trải là những của cải mà từ nay trở đi Đảng ta không có nhiều. Tôi muốn viết lại như thực những kinh nghiệm và bài học lịch sử đó, để tiện nhắc nhở con cháu đời sau của chúng ta.”
Hồ Diệu Bang nói: “ Đúng vậy, việc làm đó của đồng chí sẽ vô cùng có ý nghĩa đối với Đảng và nhà nước ta. Nhưng hiện nay nói thực sự cầu thị cũng không phải là việc đơn giản, đã có không ít người vì lòng tin đó mà phải đương đầu với nguy hiểm bị giết, bị ngồi tù." (Đến đây hai người lại nói tới tinh thần anh dũng của Đàm Tự Đồng trước khi bị bắt, bị giết và một tác phẩm của Đàm Tự Đồng, chúng tôi lược bỏ vì lý do đã nói trên – ND.)
… Hồ Diệu Bang cảm thán nói: “Trong lịch sử, phàm là những nhà chính trị có ý chí cải cách sâu sắc nói chung trước tiên đều suy tính đến việc làm thế nào để bảo vệ tốt mình rồi mới tới việc gạt bỏ đối thủ của mình. Thế mà tôi cả hai mặt đó đều không được. Anh muốn cải cách, nhưng nếu không nắm được chính quyền, thì có muốn cải cách cũng không cải cách được. Như Mao Trạch Đông làm Cách mạng Văn hoá, trước tiên là phải nắm quân đội, trăm phương ngàn kế để quân đội không loạn. Lúc đó, ông đã nhìn thấy dã tâm của Lâm Bưu, không phải là Mao Chủ tịch nhìn không thấy, nhưng vì đại cục ông đã không làm hắn kinh động. Bọn Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ [4] căn cứ vào mấy lời nói ngắn ngủi, rời rạc của Mao Chủ tịch hoặc Giang Thanh, muốn đứng ra lập công, vội vã đánh đổ người này, người khác, muốn đánh vào một nhóm trong quân đội, thực ra là đã quấy rối sự bố trí chiến lược của Mao Trạch Đông. Thế là ông dùng biện pháp đánh đổ bọn này trước. Sau này tôi và nhiều đồng chí già đã bàn luận về hành động của Mao Trạch Đông trong Cách mạng Văn hoá. Các vị ấy nói với tôi: Mao Trạch Đông cũng muốn tiến hành cải cách từng bước một, nhưng nhiều cách nghĩ sau này của ông từ việc nêu chiêu bài đến quán triệt đã khiến nhiều người không thấy hứng thú, người ta chỉ suy nghĩ về vấn đề cướp quyền. Ông không còn biện pháp nào tốt hơn. Trong điều kiện đó ông mới chọn người như Hoa Quốc Phong làm Phó Chủ tịch Đảng thứ nhất. Thế nhưng đã muộn. Cách mạng Văn hoá mang lại một tác dụng phụ lớn nhất, đó là người ta đã coi việc cướp quyền và tranh quyền như là việc vinh dự nhất. Nhiều người đã trở thành chuyên gia thấy quyền là cướp, và không coi đó là việc xấu hổ, mà coi là vinh dự. Loại phong khí này vô cùng xấu. Tôi cho rằng quan điểm đó có đạo lý nhất định, nhưng dự đoán rằng hậu di chứng này sẽ còn tồn tại trong Đảng ta một thời gian nhất định. Không trải qua sửa chữa cái sai trở lại cái đúng lâu dài thì không có cách gì giải quyết triệt để vấn đề. Trong cuộc đấu tranh đó, bọn mọt sách chúng ta đã thể hiện những nhược điểm bẩm sinh.”
Tôi nói: “Tài năng của mỗi người không giống nhau. Cho dù là thiên tài thì tư duy cũng vẫn phải chịu những hạn chế nhất định. Vì vậy quyền lực của các cơ cấu và thành viên lãnh đạo các cơ quan các cấp của Đảng và nhà nước ta phải chịu sự hạn chế nhất định của pháp luật, chúng ta phải tiến hành cải cách quả đoán mạnh mẽ trên vấn đề chính sách cán bộ và dùng người. Cải cách thể chế chính trị loại bỏ chế độ cán bộ suốt đời nếu không bắt đầu từ bây giờ thì sự tiến bộ của đất nước ta sẽ bị kéo dài, chậm chễ. Tôi biết trong lĩnh vực đó đồng chí đã có nhiều cố gắng, dù là thành công thu được chỉ có hạn, nhưng dù sao cũng là một điểm khởi đầu tốt đẹp. Từ nay trở đi, bất kể là ai cầm quyền, không tiến hành cải cách về mặt này là không được…”
Khi tôi nói những câu này, Hồ Diệu Bang rất chăm chú lắng nghe, chốc chốc lại gật đầu, có lúc đứng dậy cử động chân tay, lúc ấy tôi không biết đồng chí đã mang bệnh nặng trong người, mà chỉ nghĩ là tinh lực đồng chí vô cùng dồi dào. Tôi nói tiếp: “Tôi cho rằng đồng chí đã viết một trang huy hoàng trong lịch sử Trung Quốc, không thấp hơn những nhà chính trị nổi tiếng khác, sau này lịch sử sẽ có những lời nói công bằng với đồng chí. Tôi vô cùng khâm phục, khi nói chuyện tại hội nghị Văn phòng chỉnh Đảng Trung ương đồng chí đã ra lời hiệu triệu nã pháo vào Trung ương Đảng, đó chính là khí phách vĩ đại của một nhà Mác-xít chân chính. Không có tinh thần duy vật triệt để thì không thể có dũng khí đó.”
Hồ Diệu Bang lắc đầu, không để ý nói: “Thực ra rất đơn giản, đó là nguyên tắc mà người cộng sản phải kiên trì không thôi. Hiện nay phong khí của Đảng ta thay đổi rồi, có những sự việc vốn rất bình thường thì bây giờ đã trở thành những điều hiếm thấy. Sau khi tôi giữ chức Tổng Bí thư, tôi đã từng nói trong hội nghị Bộ Chính trị, phải dẫn đầu khôi phục lại nhiều truyền thống tốt đẹp của Đảng. Một số vị anh hùng hảo hán phái tả ngày ngày hò hét giọng điệu cao, thực ra bọn họ mới là những kẻ phá hoại lớn nhất truyền thống cách mạng của Đảng ta, dạy dỗ con cái họ không chấp hành quyết định của Trung ương, dẫn đầu làm những việc xấu xa…”
Tôi cảm động nói: “ Đúng vậy, Đảng ta đang đối mặt với những thử thách nghiêm trọng, Thử thách đó trước tiên đến từ bản thân chúng ta. Hiện nay trong Đảng có bao nhiêu người thực sự vì nhân dân phục vụ, có bao nhiêu người cộng sản suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cộng sản? Đây không phải là điều suy đoán mà là vấn đề hiện thực đã nhìn thấy rất rõ trong đội ngũ lãnh đạo cấp cao, vấn đề đã khiến ngưòi ta giật mình. Đồng chí Diệu Bang, cán bộ cao cấp Đảng ta liệu có đều tỉnh táo không?”
Hồ Diệu Bang nói: “Phải nên đều tỉnh táo, nếu như không tỉnh táo, họ sẽ không còn là người bình thường nữa, bởi vì ngay dân chúng phổ thông cũng nhìn thấy tính nghiêm trọng của vấn đề, làm sao họ không nhìn thấy? Vẫn là một câu nói cũ của tôi, cải cách và chống tham nhũng đều là một đạo lý, đều liên quan và làm tổn hại đến lợi ích, thậm chí là lợi ích căn bản của một số người lãnh đạo. Tất nhiên họ sẽ tiến hành đấu tranh với phái cải cách, nói theo một ý nghĩa nào đó thì cuộc đấu tranh giữa cải cách và chống tham nhũng là cuộc đấu tranh mày sống tao chết. Nếu nói lịch sử thì dễ nói, nhưng nếu nói tới hiện thực, đặc biệt là nói tới hiện thực trong Đảng thì chẳng dễ nói chút nào, điều này cũng là thực chất của vấn đề. Đầu những năm 80, sau khi tôi làm Chủ tịch Đảng, đã tự mình xử lý mấy vụ án lớn, trong đó có mấy vụ liên quan đến con em Uỷ viên Bộ Chính trị. Những qui định chế độ do chúng tôi đặt ra trực tiếp tổn hại đến lợi ích của một số người trong tầng lớp cao, họ đến trước đồng chí Tiểu Bình, Trần Vân để đưa tin, nói tôi như thế này, như thế nọ. Lúc đầu đồng chí Tiểu Bình không nghe, còn kiên định, nhưng rồi cũng chịu không nổi những lời thị phi nhiều lần đó. Đồng chí có cách nhìn khác với tôi. Tháng 10 năm 1986, đồng chí nói với tôi: ‘Diệu Bang ơi, đồng chí phải chú ý quan hệ với các đồng chí già chứ, không được chỉ nghe bọn tú tài, mà phải lắng nghe các nhà chính trị, bàn việc quân trên giấy và xử lý trong hiện thực là có mâu thuẫn và là hai việc khác nhau. Có số ít tú tài hoàn toàn thoát ly hiện thực của chúng ta, chủ trương trong một đêm khiến Trung Quốc đi vào con đường các nước phát triển phương Tây, có được không? Nếu thực hiện ngay lập tức ý đồ đó của họ, đất nước chúng ta sẽ loạn ngay, đồng chí phải chú ý.’ Tôi nói: ‘Những phần tử trí thức tinh anh ấy nêu kiến nghị cải cách với Đảng ta hoàn toàn là với ý định tốt. Thực hiện phương án cải cách của bọn họ có thể rút ngắn khoảng cách giữa Trung Quốc và các nước phát triển, chỉ nghe ý kiến của một số đồng chí già, có khả năng chúng ta mất lòng người, lòng Đảng.’ Câu nói đó khiến Tiểu Bình không phấn khởi, lúc đó tôi đã nhìn thấy nhưng không để tâm. Thực ra về căn bản điểm xuất phát của tôi không có xung đột gì với mục đích của đồng chí Tiểu Bình.”
Tôi nói: “Ngay trong Cách mạng Văn hoá tôi thấy cũng không có ai dám nói như vậy, bởi vì trên thực tế tồn tại vấn đề không có ngôn luận dân chủ. Trong Cách mạng Văn hoá, đả đảo một người hay giải phóng một người đều chỉ bằng vào một câu nói của Mao Chủ tịch là xong. Chỉnh đổi, phá đi con đường tư sản hay giải phóng cán bộ già, đều chẳng có tiêu chuẩn chính trị gì cả. Quần chúng nhân dân và đông đảo cán bộ nhìn không thấy tiền đồ của đất nước và của Đảng, bởi vì họ không có sự lựa chọn tự do nào. Điều đó tất nhiên dẫn tới bi kịch cho dân tộc và quốc gia.”
Hồ Diệu Bang nói: “Vì vậy chúng đã diệt vong, một sự diệt vong không thể tránh nổi. Hiện nay nếu ai muốn đi theo vết chân đó, cũng sẽ nhất định diệt vong. Về điểm này khi thảo luận, tôi và đồng chí Tiểu Bình đã nói rất rõ ràng. Chúng tôi chung nhận thức, đó là để cho những người phản đối ăn nói dân chủ, chúng tôi quyết không vì chủ trương và cách phản đối của bọn họ mà trị tội họ. Cũng có nghĩa là nói, chúng tôi làm việc của chúng tôi, nếu bọn họ không tán thành thì vẫn để cho bọn họ tự do nhất định về ngôn luận, nhưng tuyệt đối không để cho bọn họ trên cương vị lãnh đạo quấy rối hành động của chúng tôi, nhất định không cho bọn họ cương vị lãnh đạo. Nhưng để cho bọn họ chửi bới, bởi vì Đảng Cộng sản không thể chửi đổ được, về điểm này chúng ta có đủ lòng tin. Trừ khi chúng ta tự sụp đổ, bị nhân dân vứt bỏ, chứ kẻ địch không bao giờ đánh đổ được chúng ta. Trong Cách mạng Văn hoá Đảng ta phạm sai lầm lớn như vậy mà nhân dân vẫn tha thứ cho chúng ta, nhân dân của chúng ta như vậy đó.”
Tôi chăm chú lắng nghe từng câu một của nhà chính trị người nhỏ nhắn nhưng tư duy vô cùng phong phú, có lý tưởng và trách nhiệm cao xa. Đúng thế, Hồ Diệu Bang là một người cộng sản thần tuý, chân chính. Đồng chí đã trải qua những biến đổi chính trị Trung – Xô trong mấy chục năm, đã hình thành quan điểm của mình đối với đại cục thế giới và Trung Quốc. Đồng chí nói: “Đảng ta không còn ở trình độ như thời kỳ Cách mạng Văn hoá nữa, chúng ta đã thành thục. Đối với một lãnh tụ mà nói, sùng bái cá nhân vừa dễ ăn vừa dễ nghe, rất dễ làm cho họ tự mình say sưa thoải mái. Nhưng đối với Đảng và nhân dân ta mà nói, nó đã mang lại hậu quả đáng sợ. Nó đã trói buộc tư duy của cả một thế hệ vào trong sự hạn chế của một người, nó đặt kỷ luật của Đảng, pháp luật của nhà nước dưới sự khống chế của một người hoặc mấy người và biến chúng thành công cụ để đàn áp nhân dân, loại trừ những người khác ý mình. Thanh lọc lớn của Stalin, Cách mạng Văn hoá của Mao Trạch Đông đều là như vậy. Sau khi đã trải qua tai hoạ đáng sợ đó, nếu chúng ta vẫn đi vào con đường cũ sùng bái cá nhân thì chẳng khác gì đánh đổ hoàng đế lại lên làm hoàng đế, mang lại tai hoạ cho tổ quốc và nhân dân chúng ta. Chúng ta phải ghi nhớ bài học này, thì mới có thể mang lại sự quang minh thực sự cho đời sau. Bất kể lãnh tụ có tài năng nào đều là người chứ không phải là thần, cách nhìn của họ nói chung được xây dựng trên những người và việc mà họ tiếp xúc, không thể có viễn kiến và năng lực siêu thoát khách quan.” Hồ Diệu Bang phấn khởi nói tiếp: “Kẻ thành công sẽ không bị sự trừng phạt của lịch sử, người thất bại dù có đạo lý đến đâu cũng chỉ là bàn việc quân trên giấy. Hiện nay có người hoa chân múa tay, nói dài nói ngắn về công cuộc cải cách của chúng ta, động một tý là chụp cái mũ lớn tư bản chủ nghĩa, dường như bọn họ vô cùng thành thạo chủ nghĩa xã hội. Thực ra đã có ai thấy được chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản chân chính? Đã có ai thấy đâu? Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thất bại, cái chủ nghĩa xã hội trước đây của Trung Quốc cũng thất bại trên thực tế, hiện nay chúng ta thực hiện là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, là một sự kiện mới, làm tốt, làm xấu quyết định bởi Đảng ta, nhưng trên thế giới chúng ta đã thấy nhiều ví dụ làm tốt hơn chúng ta, bất kể là chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa gì khác mà người ta làm thành công, làm tốt hơn chúng ta, tại sao chúng ta lại không học? Vì sao chúng ta không lấy đó làm gương? Nếu biết rõ là người ta tốt hơn mình, mà mình không học tập thì chẳng phải là anh cực ngốc thì là gì? Nếu ngu ngốc mà là chủ nghĩa xã hội, thì chúng ta vứt bỏ nó có gì là không tốt?”
“Nói rất hay.” Tôi như bị lây nhiễm tình cảm của ông, cũng thao thao bất tuyệt tiếp lời: “Thực ra chủ nghĩa xã hội là một loại thí nghiệm. Mao Trạch Đông đã nói rõ là thí nghiệm, chủ nghĩa xã hội Liên Xô-Lenin cũng là thí nghiệm. Stalin cũng muốn thí nghiệm, nhưng quá trình thí nghiệm của Lenin và Stalin có bất đồng và đó không phải là điều tốt đẹp gì.Chẳng ai tin là có một nhà Mác-xít nào đó không cần qua thí nghiệm đã sáng suốt, thiên tài dự kiến chính xác sự phát triển của lịch sử. Nhiều đồng chí chúng ta khi phê bình người khác thần hoá lãnh tụ, trên thực tế lại muốn chế tạo thần hoá lãnh tụ, nếu không, vì sao không cho phép lãnh tụ phạm sai lầm? Nếu không có sai lầm mới là kỳ quái. Thế nhưng chúng ta hy vọng (lãnh tụ) phạm sai lầm càng ít càng tốt. Vì vậy chúng ta không thể làm sùng bái cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào. Sùng bái cá nhân không phải là thực sự yêu mến lãnh tụ mà là một loại huỷ diệt lãnh tụ trên thực tế. Hiện nay Trung ương Đảng ta không có ai có công lao và địa vị như Mao Chủ tịch. Một nguyên nhân quan trọng khiến Hoa Quốc Phong mất chức là ông ta muốn hưởng địa vị và đãi ngộ đặc biệt trong Đảng như Mao Chủ tịch lúc đầu. Như thế sao được? Người nào ý đồ khôi phục lại sự thần hoá trước đây, đặt mình lên trên Đảng và nhân dân, người đó nhất định sẽ bị đánh đổ.”
“Đúng vậy, khi Hoa Quốc Phong tự coi mình là lãnh tụ anh minh, tôi cảm thấy buồn cười. Ông ta là người thế nào? Ông ta có bao nhiêu công lao? Làm sao lại dám làm việc ngu ngốc đó?” Tôi nói tiếp: “Phàm là những công thần khai quốc và những lãnh tụ khai quốc, nói chung nhân dân đều có những yêu cầu đặc biệt và tôn trọng đặc biệt với họ, đó là một ngoại lệ. Người kế thừa nếu không có những cống hiến lớn hơn người tiền nhiệm, thì nhân dân chỉ ghi nhớ công lao của người tiền nhiệm chứ không có cảm tình tốt với người kế nhiệm. Đó là một hiện tượng tâm lý không công bằng nhưng phổ biến. Điều này đòi hỏi các nhà văn hôm nay phải có con mắt siêu việt để nhìn nhận hiện tại, phải đả phá những quyền uy truyền thống để phân tích vấn đề, có thể vạch trần hàng loạt tệ đoan trên hình thái ý thức để đưa ra chân tướng của sự việc. Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều là vĩ nhân. Sự lãnh đạo của các ông đã diễn ra trong thời kỳ lịch sử đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc từ nhân trị quá độ lên pháp trị. Vì thế một số thủ đoạn và biện pháp mà các ông sử dụng là linh nghiệm. Thế nhưng những biện pháp và sách lược đấu tranh mà các ông sử dụng, nếu người khác áp dụng máy móc, chưa chắc đã thành công. Từ nay trở đi, những vĩ nhân như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình sẽ không xuất hiện nữa. Đảng ra muốn tiến bộ và phát triển phải thực hiện lãnh đạo tập thể và sử dụng dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Những lãnh tụ nhân trị và dựa vào quyền uy lãnh tụ để tiến hành cách mạng và cải cách, nếu không thay đổi sách lược mới sẽ dẫn tới thất bại. Một trong những bi kịch của Hoa Quốc Phong là ông ta muốn thực hiện quyền uy của Mao Trạch Đông nhưng không có Mao Trạch Đông, vì thế lịch sử chỉ cho ông ta diễn một vai trong vở hài kịch.”
Khi tôi nói những lời nói trên, Hồ Diệu Bang ngồi im lắng nghe, tôi biết ông không đồng ý nhiều quan điểm của tôi, nhưng ông dùng sự nhẫn nại và phong độ của mình nghe hết những điều tôi nói. Ông là người nói rất khoẻ, tư duy của ông rộng mở không bị gò bó, nghĩ điều gì là nói ra điều đó. Nói, đều là những điều nghĩ trong lòng, gây cho tôi cảm giác là không hề bảo lưu cái gì. Trước khi tiếp xúc với ông, tôi đã chuẩn bị một số lời để an ủi ông, nhưng sau khi cùng ông ngồi xuống, đã quên hết những lời chuẩn bị từ trước mà tuôn ra như nước chảy những lời lúc đó không nên hỏi.
Sau khi từ biệt ông, tôi thường suy ngẫm, đúng vậy, Hồ Diệu Bang là một người có tác phong dân chủ và có tư tưởng. Nếu để cho tôi lựa chọn giữa ông và Hoa Quốc Phong, tôi sẽ bầu cho Hồ Diệu Bang một phiếu, bởi vì ông không chỉ là một lãnh tụ của Đảng mà còn là một người đàn ông chân chính. Mặc dù năm 1985 trong lần chỉnh Đảng đó, khi xử lý một số vụ án lớn, án quan trọng vì bị rất nhiều áp lực ông đã phải tạm lùi, nhưng ông vẫn thể hiện khí phách anh dũng không hề sợ hãi. Đã có người nói: "Tôi vốn đã thất vọng với những người cộng sản, cho rằng trong nhiều năm nay tin tưởng Đảng đó là do bị lừa bịp, nhưng nghe bài nói của Hồ Diệu Bang tại hội nghị chỉnh Đảng và mấy vụ án lớn do ông thân tự xử lý, tôi lại thấy hy vọng vào Đảng Cộng sản. Tôi lại có lòng tin vào Đảng.”
Đó là những lời nói chân thành biết bao. Đồng chí Diệu Bang, đồng chí mãi mãi sống trong lòng nhân dân.
Sư Đông Binh, người Sơn Tây, nhà văn, có tác phẩm được xuất bản từ năm 1976. Năm 1990 gia nhập Hội Nhà văn Trung Quốc. Các tác phẩm: Án oan lớn nhất ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình xuất sơn, Bộ mặt thật của Lư Sơn, Từ công nhân mỏ đến Bí thư Tỉnh uỷ, Sư Đông Binh văn tuyển, Sư Đông Binh thi tuyển v.v… Đã dịch sang tiếng Việt: Sư Đông Binh, Chu Ân Lai, những điều chưa biết trong Cách mạng Văn hoá; Lê Khánh Trường dịch. Xuất bản lần 2. TP. HCM: Trẻ, 2000: 372 tr.
Bản tiếng Việt © 2007 talawas
[1]Hồ Diệu Bang (1915-15/4/1989) người Hồ Nam, vào Đảng năm 1933, đã qua nhiều chức vụ trong Đảng và quân đội, trong đó từng là Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc, năm 1978 được bổ sung vào Bộ Chính trị và Thường vụ Bộ Chính trị. Từ 6/1981 đến 9/1982 thay Hoa Quốc Phong làm Chủ tịch Đảng. Tại Đại hội 12, khi quyết định không lập chức Chủ tịch Đảng, được bầu làm Tổng Bí thư, năm 1987 bị cho là chống tự do hoá bất lực nên mất chức Tổng Bí thư. Năm 1989 mất vì bệnh (các chú thích trong bài đều của người dịch).
[2]Hai cái “phàm là” do Hoa Quốc Phong lúc đó là Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc đề xuất ngày 7/2/1977: “Phàm là quyết sách của Mao Chủ Tịch, chúng ta đều kiên quyết ủng hộ. Phàm là những chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều trước sau không thay đổi làm theo.” Chủ trương này sau đó bị coi là sai lầm và bị phê phán.
[3]Diệp Kiếm Anh là người khởi xướng gọi Hoa Quốc Phong là “lãnh tụ anh minh”, làm thơ ca ngợi Hoa Quốc Phong, trong đó có câu “trường chinh tiếp lực hữu lai nhân” (đã có người tiếp sức trong cuộc trường chinh mới).
[4]Mấy “cây bút” nổi lên trong thời kỳ đầu Cách mạng Văn hoá, và bị thanh trừng sớm