Ocsana Nagornaia
Nuremberg. Ba thế hệ sau
Phiên tòa xét xử các tên tổ chức và cầm đầu Đảng Quốc xã (NSDAP, Đảng Công nhân Xã hội Chủ nghĩa Quốc gia) của nước Đức kết thúc cách nay tròn 60 năm, được nhiều nhà nghiên cứu coi là xuất phát điểm trong sự phát triển của nền luật pháp quốc tế đương đại. Sau phiên tòa này, các khái niệm như “diệt chủng” và “tội ác chống lại loài người” đã trở thành thông dụng, cũng từ đó, tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế đã giữ thế thượng phong so với chủ quyền quốc gia. Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh được thành lập ở The Hague (Hà Lan) vào năm 2002 được coi là sự kế thừa trực tiếp của Tòa án Nuremberg.
Hơn 20 ngàn người từ khắp thế giới hàng năm bước vào tham quan gian xét xử # 600 trong Cung pháp lí thường không nghĩ sâu về những nguyên tắc pháp lí và những mâu thuẫn nội tại của phiên tòa hình sự quốc tế đầu tiên đó. Đối với họ, Nuremberg chỉ là một trong những địa danh đáng nhớ của nền văn minh hiện đại mà thôi.
Phiên tòa: Các nguyên tắc và biểu tượng.
Không phải tình cờ mà thành phố này được chọn làm nơi xét xử tội phạm chiến tranh: Luật về sự trong sạch của dòng máu Đức – cơ sở pháp lí cho việc giết hại những người không thuộc chủng tộc Đức – được thông qua ở đây vào năm 1935; đây cũng là nơi hàng năm đảng phát xít tổ chức đại hội nhằm khẳng định sự thống nhất không gì lay chuyển được của đế chế. Người Mĩ đã phát hiện được một trụ sở tòa án vô tình còn sót lại ở chính thành phố này, công việc xây dựng được tiến hành một cách cực kì khẩn trương và chỉ trong một thời gian ngắn đã biến nó thành biểu tượng của nền pháp chế quốc tế mới. Nhưng theo đòi hỏi của phía Liên Xô, phiên tòa lại bắt đầu ở thành phố Berlin, thủ đô của nước thất trận. Bản luận tội được đưa ra tại phòng xử án trên phố Potsdam, nơi trước đó một năm, những người tổ chức vụ ám sát Hitler ngày 20 tháng 6 năm 1944 đã bị đưa ra xét xử.
Trong quá trình xét xử kéo dài hơn một năm, các thẩm phán đã nghe 236 nhân chứng, đã đưa vào hồ sơ hơn 300 ngàn lời khai có tuyên thệ, hơn 5330 tài liệu. Các nhà sử học đã tính toán được cực kì chính xác số giấy và số bút đã được các nhân viên văn phòng và tốc kí sử dụng. Kết quả phiên tòa là 12 án tử hình, 7 án chung thân và ba người được trắng án; các tổ chức SS, SD (Sicherheitsdienst) và GESTAPO bị tuyên là các tổ chức tội phạm. Trong số những kẻ bị kết án tử hình, có hai người thoát được giá treo cổ là Martin Borman, được coi là mất tích và bị xử vắng mặt và Hermann Göring, đã uống thuốc độc trước khi bản án được thi hành. Tuy nhiên, xác của hắn vẫn được đưa vào phòng hành quyết để khẳng định rằng tội ác nhất định phải bị trừng phạt. Tro của những kẻ bị hành quyết được đổ xuống một nhánh của con sông Isar và cùng với nó là sự biến mất vĩnh viễn khả năng lặp lại của những tội ác mà bè lũ phát xít đã gây ra cho nhân loại.
“Tòa của kẻ chiến thắng”: truyền thống và những lời phê phán
Ban đầu, người ta đã định thiết lập một phiên tòa xử “các tội phạm chiến tranh” ngay sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc; lúc đó, những nước chiến thắng đã đổ mọi tội lỗi trong việc gây ra cuộc xung đột vô tiền khoáng hậu đó cho nước Đức và đòi nước này giao nộp vị hoàng đế đã thoái vị là Wilhelm đệ nhị.
Yêu cầu này đã gặp trở ngại bởi chính sự bất bình không chỉ của dân chúng Đức mà ngay nước Hà Lan trung lập cũng không đồng ý giao nộp vị cựu hoàng đang tị nạn tại nước này. Như một sự thỏa hiệp, chính phủ cộng hòa đầu tiên của Đức đã đề nghị các nước đồng minh giao quyền khởi tố cho tòa án của Đức ở Leipzig xét xử các tên tội phạm chiến tranh. Nhưng hóa ra các phiên tòa đã trở thành diễn đàn tuyên truyền chính trị; các nước đồng minh không những bị lên án mà tâm lí báo thù cũng được tuyên truyền tích cực ngay tại các phiên tòa này. Một phần nhờ làn sóng thù hận này mà Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Quốc gia Đức (tên chính thức của Đảng phát xít – Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei) đã giành được quyền lực.
Năm 1945, các nước chiến thắng đã có đầy đủ phương tiện để tổ chức một phiên tòa xét xử những kẻ và các tổ chức đã mất hết quyền tự chủ của một tổ chức chính trị. Ngay từ khi chiến tranh chưa kết thúc, các nước đồng minh chống phát xít, với quyết tâm bắt kẻ thù phải đầu hàng vô điều kiện, đã tiến hành thảo luận về số phận của những kẻ cầm đầu nhà nước phát xít Đức. Mĩ, Anh và Liên Xô lúc đầu cho rằng phải bắn ngay 50 ngàn tên phát xít mà không cần xét xử gì cả nhưng sau một quá trình tham vấn, người ta quyết định sẽ lập một phiên tòa công khai. Trong giới sử học phương Tây vẫn thịnh hành quan điểm cho rằng ý tưởng về khả năng tái diễn các vụ án mang tính trình diễn hồi những năm 30 đã thuyết phục phía Liên Xô (đặc biệt là Stalin) về sự cần thiết phải lập một tòa án công khai.
Tiến trình xét xử tại Nuremberg bị cả người đương thời cũng như hậu thế đã và đang phê phán một cách gay gắt. Rất nhiều vi phạm pháp lí đã được chỉ ra: bản án căn cứ vào những nguyên tắc được xác định sau khi hành vi đã hoàn thành; các luật sư biện hộ bị cản trở; các nhân chứng bị áp lực; các bị can không có quyền kháng cáo. Hành vi của các bị can bị gọi chung bằng khái niệm “âm mưu” – một khái niệm không có trong luật pháp quốc tế.
Ngoài ra, các thẩm phán còn không công nhận luận chứng của các luật sư biện hộ rằng đồng minh chống phát xít cũng có những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế và “các nguyên tắc về nhân đạo”. Sự độc đoán vô giới hạn của những người chiến thắng đã không cho phép người ta đi sâu xem xét các “hành vi” của phe đồng minh: vụ giết hại các sĩ quan Ba Lan ở Katyn, cuộc xâm lược của Liên Xô chống Ba Lan và Phần Lan (không phải vô tình mà phái đoàn Liên Xô chống lại việc coi chiến tranh là một tội ác), kế hoạch của Anh nhằm chiếm đóng Na Uy, việc quân đồng minh đánh bom các thành phố của Đức và thả bom nguyên tử xuống các thành phố của Nhật Bản.
Các sự kiện sau đó cũng chứng tỏ rằng nguyên tắc pháp lí “hoà bình thông qua luật pháp” không được đem ra áp dụng với phe chiến thắng. Từ đó đến nay, chưa có nhà cầm quyền của “siêu cường” nào bị đưa ra trước vành móng ngựa cả.
“Vượt qua quá khứ” hay là “suy nghĩ về quá khứ”? Mục đích hay là con đường?
Phiên toà ở Nuremberg còn cho ta thấy giới hạn của sự vượt qua quá khứ về mặt pháp lí.
Đa số các bị cáo trong phiên toà Nuremberg đều phủ nhận tội lỗi của mình, họ biện hộ cho những hành động của mình rằng họ không biết hậu quả hoặc họ bị buộc phải thực hiện lệnh của thượng cấp. Hermann Göring tuyên bố công khai: “Động cơ duy nhất của tôi là tình yêu đối với nhân dân nước tôi”. Những biện pháp bảo đảm an ninh của lực lượng đồng minh tỏ ra là thừa: dân Đức không quan tâm đến phiên toà, nhiều người cho rằng đó là việc của người Mĩ. Quá trình phi phát xít hoá cũng không được người dân bình thường cảm nhận vì nó chỉ được xem xét bởi công lí của những kẻ chiến thắng. Trên thực tế, “văn hoá lương tâm” không thể khơi dậy bởi áp lực của một bên, của người chiến thắng.
Các phiên toà bớt ồn ào hơn, việc xét xử những nhân vật khác của nhà nước phát xít đáng ra phải là việc tiếp theo của toà án Nuremberg, nhưng các vấn đề thường nhật lúc đó và sự đối đầu của các nước đồng minh đã đẩy lịch sử 12 năm của nền chuyên chế phát xít vào lĩnh vực những đề tài bị cấm kị. Ngoài ra, nền tư pháp Đức được các nước đồng minh trao toàn quyền điều tra các tội ác của chủ nghĩa phát xít lúc đầu đã không có đủ phương tiện để xem xét các tội ác được thực hiện ở bên ngoài nước Đức. Chỉ đến mãi đầu những năm 1960, khi điều đó đã trở thành chướng ngại có thể thấy được trong hoạt động tư pháp, người ta mới thành lập Trung tâm điều tra tội ác phát xít. Phiên toà ở Oswiecim (Auschwitz) 1963 là một minh chứng rõ ràng cho những thay đổi đang hình thành lúc đó.
Cú hích cho những cuộc thảo luận thực sự rộng rãi (dù có đôi lúc bị xẹp đi) về quá khứ phát xít của nước Đức là sự phản đối của “thế hệ 1968”, thế hệ này đã lên án “cha ông” mình vì cho rằng họ không muốn sám hối những tội lỗi đã phạm. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô lại dấy lên một làn sóng thảo luận mới, lần này là về vấn đề bồi thường bằng lực lượng lao động khổ sai; vào nửa sau của những năm 1990, chứng cứ do những “con người nhỏ bé” cung cấp lại thổi bùng lên trong lòng xã hội Đức cuộc thảo luận về trách nhiệm tập thể trước các tội ác của chủ nghĩa phát xít. Như vậy là văn hoá đã tìm được lịch sử của chính mình. Một dấu mốc quan trọng nữa là cuộc thảo luận về nhu cầu khắc phục quá khứ toàn trị của Cộng hoà Dân chủ Đức nhưng chính người dân Đông Đức thì lại thờ ơ.
Không được đánh giá một cách phiến diện những kết quả đã đạt được liên quan đến quá khứ của nước Đức. Nhân dịp kỉ niệm 60 năm phiên toà ở Nuremberg, các lực lượng cánh hữu cực đoan đã tổ chức một cuộc biểu tình với khẩu hiệu xét lại “Công lí thay vì báo thù”. Cùng lúc đó, người ta cũng cho tái bản cuốn sách của V. Mathers viết về những mâu thuẫn pháp lí của toà án quốc tế đầu tiên; gần đây, một cuốn sách thu thập những chuyện tiếu lâm chứng tỏ có sự chống đối hàng ngày đối với chủ nghĩa phát xít cũng được xuất bản và bộ phim Rơi (tiếng Nga là Boonker) nói về tình người của Hitler cũng được trình chiếu. Logic phát triển của văn hoá đại chúng có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc thảo luận.
Việc Günter Grass, một người từng được giải Nobel về văn học và có thời được coi là “lương tâm của nước Đức”, công nhận rằng đã từng phục vụ trong lực lượng SS đã dấy lên một cuộc thảo luận sôi nổi, nhưng có vẻ đó chỉ là màn quảng cáo cho tiểu thuyết Bóc hành vừa ra lò mà thôi. Và cuối cùng, chính văn hoá đại chúng mà cụ thể là việc đội tuyển Đức giành được vị trí thứ 3 trong Giải bóng đá thế giới năm 2006 lại tạo cho dân Đức quyền tự hào về biểu tượng của dân tộc mình. Và người ta lại thấy những lời kêu gọi “Sám hối thế đủ rồi” vang lên thường xuyên hơn.
Trong những năm cuối cùng của chế độ Xô viết, nhiều nhân vật bất đồng chính kiến ở Liên Xô đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải mở “Toà án Nuremberg” để xét xử các tội ác của chủ nghĩa cộng sản vì họ cho rằng xã hội Liên Xô có thể và cần phải khắc phục quá khứ toàn trị theo khuôn mẫu có sẵn từ nước Đức. Hiện nay, trên các trang web, câu hỏi ấy vẫn được đưa ra thảo luận.
Liệu nước Nga có thể tổ chức một “toà án Nuremberg” của mình hay không? Rất đáng ngờ. Thật khó tưởng tượng được phiên toà xét xử cả một thời đại như thế. Còn khó thuyết phục hơn các thế hệ và các nhóm xã hội đang nhớ tiếc “một bàn tay sắt” rằng thời đã qua không phải là thời đại vàng son. Người dân Nga hiện nay không khao khát thông tin, việc không được tiếp cận với một số kho lưu trữ được họ coi là chuyện bình thường. Cuốn Sách đen về chủ nghĩa cộng sản dày cộp, kết án “con quái vật khủng khiếp thứ hai” của thế kỉ, trái với mọi kì vọng, không gây ra bất kì sự hứng khởi nào và vẫn chỉ là vật trang trí ít được hỏi tới tại thư viện của các trường đại học.
Xã hội Nga có cần suy nghĩ về quá khứ không? Dĩ nhiên là có. Thái độ thiếu phê phán của chúng ta đối với quá khứ được thể hiện trong lời kêu gọi của nhiều lực lượng chính trị khác nhau nhằm xây dựng một lịch sử dân tộc “xán lạn”. Nhân ngày kỉ niệm chiến thắng, các chính khách hàng đầu thường đòi hỏi đánh giá lại hoạt động của “lãnh tụ và nhà cầm quân đại tài”. Trong khi vồ vập các “thông điệp” của chính quyền, ngay chính các nhà sử học đã bắt đầu nói đến chuẩn hoá quá khứ của đất nước và kêu gọi không viết lịch sử chủ nghĩa Stalin chỉ từ quan điểm của các nạn nhân, dường như các vụ đàn áp đều có căn cứ cả.
Khởi nguồn của văn hoá lương tâm không thể là một bài phát biểu hướng ngoại mà phải là hướng nội, quá trình khó khăn và đầy đau khổ này chỉ có thể được sinh ra trong tâm mỗi người. Nó không phải là mục đích, nó là đường đi.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas