Hà Nội là một địa danh mang nhiều ý nghĩa văn hóa và lịch sử đã quyến rũ tôi từ ngày còn ở miền Nam.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Tôi hay thả hồn tưởng tượng về một Hà Nội cổ kính, thơ mộng, chốn của ngàn năm văn vật. Trong tôi hình ảnh của Hà Nội là qua Ðêm giã từ Hà Nội, Hà Nội 36 phố phường, Miếng ngon Hà Nội, là ca từ của mấy bài hát: “Hướng về Hà Nội”, “Nỗi lòng người đi”.
Trong Nam, thỉnh thoảng Tết về có những tờ lịch in hình Cầu Thê Húc, Chùa Một Cột, Hồ Gươm, nhìn cảnh đẹp tôi mơ ước một ngày ra thăm. Con sông Bến Hải tuy hẹp và cầu Hiền Lương thì ngắn, nhưng vượt qua được nó sao khó khăn quá và thường bằng đạn bom.
Huế Sài Gòn Hà Nội quê hương ơi sao vẫn còn xa
Huế Sài Gòn Hà Nội trong ta đau trái tim Việt Nam
(TCS)
*
Năm 1995 vợ chồng tôi ra Hà Nội lần đầu tiên. Lòng tôi dâng trào cảm xúc khi phi cơ đáp xuống vào một buổi chiều hoàng hôn pha màu xanh của lúa bên dưới. Xe vào thủ đô qua ngả thành Hoàng Diệu xưa. Phố xá đông người, xe cộ chạy đan xen như mắc cửi. Một ước mơ tầm thường của một người Việt Nam mà phải hơn hai mươi năm mới thành hiện thực.
Tới Hà Nội là phải thăm Cầu Thê Húc, ghé Đền Ngọc Sơn, phải ngồi bên Hồ Gươm ngắm Tháp Rùa. Cũng như du khách đến San Francisco phải leo lên cây cầu đỏ Golden Gate không phai màu theo năm tháng. Vào Văn Miếu nhìn lại lịch sử trường thi nước nhà, xem múa rối nước.
Về các món ăn, Hà Nội có phở Lý Thái Tổ với hành hương đặc biệt của miền Bắc, bún chả phố Hàng Mành, chả cá, không phải Lã Vọng nhưng cũng ngon thơm với hành, mắm tôm. Tối tối đi ăn vịt lộn bên phố Hàng Mã, muốn uống bia nội, bia ngoại đều có.
Một nơi tôi muốn đến là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì đó là một con người của lịch sử. Một buổi sáng sau khi đã thăm Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, viếng Chùa Một Cột thì ngồi nghỉ ở công viên bên cạnh để chờ thăm lăng. Có mấy bạn trẻ mới qua kỳ thi đại học tụ họp trên ghế công viên tán chuyện.
Nam sinh: Sao ra đây làm gì thế?
Nữ sinh: Ðịnh vào thăm lăng Bác xin ơn.
Nam sinh: Ðến đây thì vào chùa khấn cho đỗ đại học, chứ thăm lăng thì đen lắm.
Nghe thế, nhà tôi quyết định gạt bỏ chuyện thăm lăng dù tôi cố gắng thuyết phục, vì một lần đi xa là một lần khó. Chúng tôi chỉ đi dạo Quảng trường Ba Ðình, chụp mấy tấm hình. Kiến trúc tổng thể của lăng có nét giống như đài tưởng niệm tổng thống Abraham Lincoln ở thủ đô Washington.
 |
| Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội (ảnh: Bùi Văn Phú) |
Năm 1997 vợ chồng tôi trở lại Hà Nội. Tôi đã thuyết phục được bà xã để thỏa mãn những tò mò lịch sử. Nhưng đến nơi nhằm thời gian lăng đóng cửa.
Phải đến chuyến đi Hà Nội lần thứ ba cả gia đình tôi mới có dịp thăm lăng.
Ðoàn người vào thăm lăng thật đông, khoảng 200, có nhiều xe buýt chở dân quê lên, cũng có dăm bảy người da trắng. Sau khi qua quầy bán tờ hướng dẫn về lịch sử của lăng thì khách du lịch vào phòng đợi, xem một phim ngắn về cuộc đời ông Hồ. Sau đó đoàn người xếp thành hàng từ từ tiến bước về mặt tiền lăng, trông ra quảng trường gió lộng, ở đó có nhiều trẻ em đạp xe, nô đùa.
Vào trong, không gian dần tối lại và mát lạnh. Không khí yên lặng, trang nghiêm. Ði lòng vòng rồi thấy hòm kiếng hiện ra với thi hài ông Hồ nằm trong. Trẻ con được đi trên một bục cao hơn để có thể cùng cha mẹ chiêm ngưỡng một lãnh tụ. Ông Hồ mặc bộ kaki màu xanh dương, đi giầy đen. Hai tay để trên bụng. Khuôn mặt với bộ râu bạc quen thuộc như những hình ảnh đã phổ biến. Bốn góc có lính đứng gác nghiêm nghị.
Ra khỏi lăng, khi mọi người được nói chuyện, đứa con trai của tôi hỏi:
“Daddy, are those toy soldiers?” (Bố, có phải đó là những lính đồ chơi không bố?)
“Không đó là lính bằng người thật.”
Còn đứa con gái thắc mắc:
“Is the old man dead?” (Ông cụ đó chết rồi phải không?)
“Ông ấy chết lâu rồi.”
“Why didn’t they bury him like ông ngoại?” (Sao họ không chôn ông cụ đó như ông ngoại?)
“Ông ấy muốn được thiêu, nhưng nhà nước giữ thi hài ông ấy lại.”
Bà xã thì hỏi:
“Không biết xác thiệt hay giả vậy?”
Tôi không có câu trả lời vì dưới hào quang của ánh đèn và nhìn từ xa thì không biết được.
Cũng như cuộc đời của ông Hồ vẫn còn nhiều kỳ bí, thật giả, dù tôi đã được đọc rất nhiều về ông.
© 2005 talawas