trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.7.2005
Nhỏ Thanh
Lo xa
 

Ðầu tiên, xin được hoàn toàn nhất trí với ý kiến của một tác giả phát biểu cách đây không lâu rằng, ngoài “chiến tranh nhìn từ nhiều phía”, nếu có thể được, talawas nên mở thêm chuyên đề “hòa bình (cũng) nhìn từ nhiều phía” nữa. Và cũng trên (hay dưới cũng chẳng sao) tinh thần nhìn từ nhiều góc độ này, phải chăng đã đến lúc chúng ta nên xem xét lại một số vấn đề khác, vốn từ lâu nay vẫn chỉ quen được (hoặc phải) nhìn từ một khía cạnh (hay một góc độ hạn hẹp), mà vì thế có thể còn những lệch lạc.

Chẳng hạn như vấn đề về “chất độc hóa học”. Từ lâu nay, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, và nói chung là qua các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam, người ta thấy rộ lên vấn đề chất dioxin, chất độc màu da cam và nói chung là chất độc hóa học mà quân đội Mỹ đã sử dụng tại miền Nam Việt Nam trong những ngày giữa hai nước còn chiến tranh. Nhiều hình ảnh rất thê thảm (và tất nhiên, đáng thương nữa) về những nạn nhân của loại hóa chất này, được sưu tầm và được phổ biến rất rộng rãi, đã gây lên những làn sóng xúc động, và đi kèm với nó là phẫn nộ, ở khắp mọi nơi. Và rốt cục là một số tổ chức trong và ngoài Việt Nam đã liên kết với nhau đưa người Mỹ ra tòa, đòi nhà cầm quyền nước này cũng như các nhà sản xuất hóa chất phải bồi thường và phải có những cách đối xử thích đáng đối với những nạn nhân.

Ðể tồn tại và phát triển, cũng như các sinh vật khác, con người trên trái đất của chúng ta cần một môi trường trong lành. Dioxin, chất độc màu da cam, chất độc hóa học và nói chung là các loại chất độc, tất nhiên là đáng lên án và đáng hủy bỏ, những nạn nhân của nó, dù là người miền Nam, miền Bắc, người Mỹ, người Nam Triều Tiên…, hay bất kỳ người nước nào, kiểu gì thì cũng rất đáng thương và cũng hết sức cần sự quan tâm giúp đỡ của không chỉ một hay vài tổ chức nào đó, mà là của tất cả mọi người. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn hầu hết số những người bị tàn tật, cơ thể thiếu bộ phận này, thừa bộ phận kia, hoặc các bộ phận phát triển một cách bất bình thường ở Việt Nam, rồi mang nhau ra kiện, thì e rằng cũng chưa chắc đã phải chính xác trăm phần trăm, và như người Việt thường nói, chắc gì đã đúng là day mặt đặt tên được thủ phạm.

Thủ phạm có thể ở ngay đằng sau lưng mà nhà vua không biết. Tất nhiên là dioxin, chất độc màu da cam có những tác hại cực kỳ to lớn với cỏ cây và những người tiếp xúc với nó. Nhưng không chỉ những chất này, DDT, 666, Vophatoc [1] …, cũng như một loạt các chất trừ sâu, trừ rầy, trừ muỗi khác cũng có tác hại rất lớn, không chỉ đối với sâu, rầy, ruồi, muỗi cũng như tôm, cá, cua, cáy, ếch, nhái… mà còn đối với những người sử dụng, cũng như những người sống trong môi trường đó.

Trong thời kỳ chưa đổi mới, ở nông thôn Việt Nam, ruộng đất còn ở cả trong tay hợp tác xã. Người ta còn nhớ, cứ mỗi đội sản xuất lại có một nhóm gồm mấy anh mấy chị thanh niên khỏe mạnh được phân công chỉ chuyên mỗi một việc (hay nhiệm vụ cho thêm phần quan trọng) là phun thuốc trừ sâu cho các cánh đồng. Với một thứ bảo hộ lao động cực kỳ đơn giản, thô sơ chưa từng thấy, một chiếc khẩu trang mỏng dính, một chiếc khăn mùi xoa có tác dụng trang điểm nhiều hơn là ngăn ngừa độc hại (nhiều người, đến khăn mùi xoa cũng chẳng có nữa), hàng ngày, từ sáng sớm tới tận chiều tồi, không găng, không ủng, không mũ, không kính, chỉ với bộ quần áo mỏng dính (có người còn cởi trần cho mát), với những chiếc bình nặng trịch trên vai, họ đi hết thửa thuộng này đến thửa ruộng khác, hết thôn này đến thôn khác, để phun thuốc trừ sâu cho ngô lúa hoa mầu và cho các khu vực nhà ở của nhân dân.

Hết đợt sâu cuốn lá đến đợt sâu đục thân, hết rầy vàng đến rầy nâu, hết ruồi đến muỗi… hết ngày này sang ngày kia, những thanh niên trong tổ phun thuốc trừ sâu chỉ có mỗi việc phun và phun, phun miệt mài, hết lần này đến lần khác, từ khi cây lúa hãy còn là cây mạ cho đến khi cây lúa đã trưởng thành ra hoa kết trái. Với một sự tiếp xúc lâu dài, trực tiếp và đơn giản như vậy, có lẽ nào bản thân những con người này, và các thế hệ sau của họ, lại không bị ảnh hưởng, để đến bây giờ nhìn những đứa trẻ dị dạng, chính bản thân họ cũng không khỏi phân vân, không biết nó là hậu quả của thuốc trừ sâu của ta, hay là của thuốc diệt cỏ của Mỹ.

Không nhiều thì ít, nhưng có thể nói, quả là có một thời kỳ ở nông thôn Việt Nam, ai cũng đã từng tiếp xúc, và do đó, chịu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu. Có lẽ vì chẳng hiểu biết gì nên năm nào cũng thế, người ta cho phun đến mấy lần thuốc muỗi (gọi tắt là phun muỗi) cho các hộ gia đình, các cơ quan, trụ sở, (trong đó có cả trụ sở hợp tác xã, trụ sở ủy ban nhân dân) bệnh viện, trường học, nhà trẻ, nhà mẫu giáo… một cách hết sức vô tư. Mà quanh đi quẩn lại thì thuốc muỗi cũng vẫn chỉ là DDT, 666, Vophatoc…, tức là thuốc trừ sâu mà thôi. Bây giờ, ngồi nhớ lại những ngày sơ tán ấy mới thấy thật khủng khiếp. Ðến trường, vào lớp thấy có mùi gì là lạ, khó chịu, buồn nôn quá, hỏi bạn bè mới biết là chiều qua người ta phun thuốc muỗi cho nhà trường. Về nhà, vừa tới ngõ cũng đã thấy có mùi là lạ, khó chịu, hỏi gì đấy, thằng con bác chủ nhà bảo, hồi chiều người ta phun thuốc muỗi cho cả làng. Mà có khi cũng chẳng cần phải hỏi, vì chỉ một lúc sau đã nhìn thấy rất rõ những vệt thuốc rất trắng hình giọt nước đầy trên sân, trên tường, trên mái nhà. Bàn ghế giường tủ trong nhà đầy vết, cây cối rau cỏ ngoài vườn cũng đầy vết.

Nhắc đến những ngày phải sơ tán (một cách nói khác của “di tản” chăng?) là nhắc đến những ngày còn chiến tranh. Ngày ấy, chiến tranh khốc liệt đã kịp lan ra cả hai miền Nam Bắc. Thanh niên (cả nam và nữ) lớp lớp lên đường, các anh các chị ở tổ phun thuốc trừ sâu chẳng có lý do gì mà được ở lại. Nhưng họ vừa đi hôm trước, đến hôm sau, đội sản xuất và hợp tác xã đã bổ sung kịp thời ngay, và được bổ sung liên tục. Như ở chiến trường trừ giặc, tổ phun thuốc trừ sâu ở hậu phương cũng không lúc nào có thể thiếu người làm nhiệm vụ.

Phải nói thế để thấy rằng, hết lớp này đến lớp khác, số người tiếp xúc với thuốc trừ sâu ở Việt Nam thật là nhiều… Và không chỉ ở miền Bắc, vào những ngày còn chiến tranh hay những ngày còn bao cấp, mà ngay hiện nay, trên phạm vi cả nước, dưới thời đổi mới… số người này vẫn cứ càng ngày càng nhiều hơn. Báo chí trong nước cũng đã phải nhắc đến một số vụ điển hình vì ảnh hưởng độc hại của các loại thuốc trừ sâu, và nói chung là các loại chất độc có nguồn gốc hóa học, sinh học, lên cơ thể con người. Song, ai nói gì cứ nói, ai làm gì cứ làm. Hầu hết, trong mọi trường hợp, người này chẳng biết người kia nói gì, và tình hình vì thế mà chẳng có gì thay đổi.

Hình như là vụ kiện cáo về dioxin, về chất độc màu da cam đã bị tòa bác, và nghe đâu một số tổ chức trong và ngoài Việt Nam vẫn đang tìm mọi cách, kể cả tốn kém, để chống án.

Tất nhiên, ai cũng rất mong muốn và hy vọng đến một ngày nào đó, số nạn nhân của dioxin, của chất độc màu da cam sẽ được bồi thường một cách thỏa đáng. Nhưng với cách sử dụng thuốc trừ sâu bừa bãi như đã và như hiện nay ở Việt Nam, e rằng số nạn nhân của các loại chất độc vẫn sẽ càng ngày càng tăng. Và khi đã bị dồn đến nước đó rồi thì nhân dân ơi, chúng ta biết vác đơn đi kiện nhà cầm quyền của nước nào nữa đây?

Người Việt Nam ta có những câu nói rất hay, thí dụ như: “chờ được vạ thì má đã sưng”. Giả sử về sau này có được đền bù, và dù được sự ưu ái, quan tâm đến đâu chăng nữa thì số nạn nhân của dioxin, của chất độc màu da cam, cũng như nạn nhân của các loại thuốc trừ sâu nữa (thôi thì, tiện đây cứ tính gộp vào, như kiểu cũng bị thương nhưng không ở chiến trường nên phải khai man, làm thẻ thương binh giả, để hưởng “chế độ”) cũng không vì thế mà hồi phục lại được. Lâu nay chúng ta vẫn hay nhắc tới việc nước Mỹ, nước Nhật, nước Pháp…, tại sao mãi chẳng chịu bồi thường chiến tranh cho ta, song giả sử những nước này có chịu bồi thường đi chăng nữa, thì cũng không vì thế mà bao nhiêu người đã chết có thể sống lại được, bao nhiêu người đã bị tàn phế có thể lành lặn lại được. Rất có thể, đến một ngày nào đó, người nông dân Việt Nam nói riêng, và người dân Việt Nam nói chung, tỉnh ngộ, mang đơn kiện những người làm khoa học, những người làm y tế, những người quản lý… tóm lại là những người cầm quyền ở đất nước mình vì đã buông lỏng, đã để sử dụng các loại thuốc trừ sâu, các loại chất độc, các loại hóa chất (phoóc-môn chẳng hạn) một cách tùy tiện, cẩu thả, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, và được bồi thường thích đáng thì cũng không vì thế mà các quái thai có thể trở lại làm người.

Phải lo xa. Ðể nước đã ngập đến cổ rồi mới nghĩ cách đối phó thì e không kịp.

© 2005 talawas


[1]Tên một số loại thuốc trừ sâu phổ biến ở một thời Việt Nam. Trong đó, có loại nghe đâu sau này đã bị cấm…

 
© talawas 2026