trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
23.2.2008
Thuận Văn
Khi Rambo dời khỏi nơi ẩn dật
 

Người hùng John Rambo đã dời khỏi nơi ẩn dật và… There Will Be Blood: đây, phải chăng, là những dấu hiệu báo tin ông John McCain sẽ bước vào Toà Bạch ốc? [1]

Khi Rambo không đành ở ẩn như một ông thầy rắn vô danh ở một vùng quê Thái Lan để thủ dao găm và đại liên lao vào cuộc phiên lưu mới thì đó cũng là lúc người Mỹ, những người Mỹ bình dân, vẫn còn… chịu Rambo. Nước Mỹ đang đau và, cơ hồ, cái mà đa số công chúng Mỹ thực sự cần không phải là những cái lưỡi cơ hội chủ nghĩa mơn trớn ngoài da vết đau mà là những nhúm muối mặn xát mạnh vào vết đau. Từ cơn đau kinh tế đến cơn đau quân sự hay cơn đau phúc lợi xã hội, đến giờ phút chọn lựa cuối cùng thì, có lẽ, người Mỹ sẽ cẩn trọng hơn và sẽ lấy làm ngờ vực trước mấy giải pháp thuận tai nhưng chưa có gì ăn chắc của mấy nhà chính trị dân túy và, tệ hơn, còn bộc lộ tinh thần thất bại chủ nghĩa. Họ cần một giải pháp quyết liệt như những tù binh hay con tin, trong cùng cực tuyệt vọng, cần đến một Rambo quyết liệt. Và họ cần, như nước Mỹ đã, trong rã rời tuyệt vọng sau thập niên 70, cần đến một Ronald Reagan quyết liệt. Mà, chẳng ai khác, chính Reagan lại là cha đẻ của Rambo khi kiến tạo nên một môi trường thích hợp cho y thả sức tung hoành. Nói cách khác thì bản “anh hùng ca” Rambo là một trong những hình ảnh cụ thể và bình dân trong bài “đại-tự-sự-ca” về nước Mỹ như là thành trì và nhà vô địch của thế giới tự do mà ông Reagan đã hâm nóng trở lại một cách rất thành công trong suốt thập niên 80. Với ông Reagan thì nước Mỹ phải tự tin. Nước Mỹ không thua ai cả và nước Mỹ chỉ có thể thua chính nó, khi đã đánh mất cái quyết tâm để giành chiến thắng. [2]

Nếu hôm nay một Rambo IV rẻ tiền dành cho giới bình dân bị giới phê bình chê bai thậm tệ bằng những lối chơi chữ cay độc như “torture porn” (“bạo dâm”), “jingoistic imperialism” (“sô-vanh”) hay “The Schindler’s List of B-list butchery” (“Bản danh sách Schindler của một lò phim bạo lực bảng B” [3] ) thì There Will Be Blood lại khác. [4] Với họ thì đấy chính là pho sử thi tái hiện cái quá khứ dữ dội khi nước Mỹ, trong những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chân ướt chân ráo bước vào kỷ nguyên mới. [5] Đó là thời mà thế giới nóng lên với dầu lửa như một thứ nhiên liệu mới kỳ diệu, cái sự kỳ diệu đã giúp nhân vật chính từ một kẻ lội bộ tìm dầu trên những rẻo đất California trở thành nhà tài phiệt nhưng cũng khiến y đánh mất linh hồn kèm theo bao nhiêu hệ lụy điên loạn khác. Nhưng dữ dội thế nào đi nữa thì đấy vẫn là… lịch sử. Cho dù chặng hành trình tạo dựng nên sự giàu có của nước Mỹ ấy, như là “quá trình tích lũy nguyên thủy”, có, nói theo Karl Marx, “đẫm đầy máu và bùn dơ” thì đó vẫn là nền móng quá khứ mà nước Mỹ không thể đào bỏ. Và như thế, như một ẩn dụ cho nền văn minh tư bản Mỹ, There Will Be Blood không chỉ là quá khứ mà còn là hiện tại và là tương lai dữ dội mà nước Mỹ phải chấp nhận. Sự thịnh vượng của nước Mỹ còn tiếp dục dựa trên dầu lửa thì cái sự There Will Be Blood trên những giếng dầu kia sẽ còn tiếp tục. Một thế kỷ đã trôi qua và càng ngày, nền văn minh Mỹ càng khát dầu, và nước Mỹ phải thọc mũi khoan khắp bốn phương tám hướng mà, trong đó, không thể không kể đến những túi dầu vĩ đại nhất nhì thế giới ở Saudi Arabia và ở Iraq. Và như thế, ngày nào người Mỹ còn muốn tiếp tục nền văn minh hiện tại, ngày đó họ còn phải chấp nhận cái thực tế There Will Be Blood cay đắng và nghiệt ngã trên vùng đất bất an này. [6]

Nhất định phải như thế chứ không có chọn lựa nào khác và người Mỹ sẽ còn tiếp tục thấy rằng, ở những tầng nghĩa bóng cao hơn, họ vẫn còn cần đến cái bắp thịt vạm vỡ của một Rambo không bao giờ thất trận và một cái lưỡi không bao giờ lép của một Reagan luôn luôn nảy lửa.

Chỉ liếc sơ qua những diễn biến mới nhất của giai đoạn tiền tổng tuyển cử ở nước Mỹ sẽ phần nào cảm nhận được cái không khí “Hollywood hoá” và “Reagan hoá” đó rồi. Ứng cử viên tổng thống nào cũng cố làm lóa mắt cử tri bằng ánh hào quang Hollywood. Một Barack Obama da đen thì hân hoan sánh vai cùng Robert de Niro, tài tử da trắng không chỉ nổi danh về khả năng lột tả những xung đột bên trong nhân vật mà còn nổi danh ở cái khoản lấy toàn vợ da đen, bắt bồ toàn gái da đen và, thậm chí, cả khi chơi đĩ bị bắt quả tang ở tận Paris cũng lộ hàng độc một thứ gu đen. McCain thì ý nghĩa hơn với Arnold Schwarzenegger và Nancy Reagan, hai con người đã chan hòa vinh quang của cả hai thế giới điện ảnh và chính trị. Một John Edward từng chống lại cái đại tự sự “nước Mỹ không bao giờ thua” của Reagan với chính sách “rút quân ở Iraq về ngay”, đã chấp nhận… rút quân ngay, không chen chân trong cuộc đua nữa. Một chính trị gia bảo thủ như Mitt Romney, sau khi tiêu tốn hết 35 triệu Mỹ kim tiền túi cho cuộc chạy đua, đã cúi đầu bỏ cuộc sau khi dại dột xúc phạm đến cái đại tự sự mà Reagan đã cổ xúy, hô hào. “Nước Mỹ không bao giờ thua”, thì, vĩnh viễn, trái tim Washington sẽ không bao giờ tan vỡ, vậy mà chỉ mới nếm mùi bị thua thiệt trong vòng bầu cử sơ bộ đầu tiên ở Iowa, con người tưởng là sắt đá này đã bi quan, chán nản: “Washington is broken!” (“Washington đã tuyệt vọng rồi!”) Quan trọng hơn nữa khi Obama, nhân vật “nay nhất mai nhì” trong vòng đua Dân chủ, lại công khai ca ngợi Reagan và, nói hơi ngoa, còn xếp cả tổng thống ăn khách của Dân chủ trong thời đương đại là Bill Clinton vào hạng không đáng “xách dép” cho Reagan. [7] Rồi lại đến hầu như cả dòng họ nhà Kennedy, một thế lực đáng kể của Dân chủ, lại ban phép thánh cho Obama, và, như thế, theo phép quy nạp, cơ hồ cả những thành phần tinh hoa nhất của Đảng Dân chủ này cũng sẽ gọi nhau gióng cao ngọn cờ cách mạng Reagan, một con người bảo thủ có tiếng của Đảng Cộng hoà. [8]

Như thế, khi những thành phần tinh hoa bên trên ca ngợi Reagan và thành phần bình dân ở dưới vẫn còn say sưa với chuyện phiên lưu của Rambo thì nước Mỹ này đang hướng tới cái gì?

Nhớ lại nước Mỹ trong cái thời “người hùng mỏi mệt” sau những thăng trầm kéo dài trong suốt thập niên 70. Khủng hoảng tiền tệ rồi khủng hoảng dầu lửa năm 1974 đã đánh vào sự tự tin của một siêu cường kinh tế. Việt Nam 1975 và Iran 1979 lại làm họ hụt hẫng lòng tự tin của một siêu cường quân sự. Và chính Reagan đã, bằng những bài diễn văn nảy lửa và chính sách táo tợn, khôi phục lại cái đại tự sự về nước Mỹ như một thành trì và nhà vô địch của thế giới tự do và truyền cho người hùng đang chán nản một sức sống mới để lao mình vào cuộc chiến chống lại “Đế quốc của Ác qủy”, cái thuật ngữ mà ông dùng để nói đến Liên bang Xô-viết. Ông nói và, quả, ông đã làm tan tành cái đế quốc đó thật. Nói như Obama khi trả lời phỏng vấn tạp chí Reno Gazette-Journal ngày 14 tháng Giêng năm 2008 thì Reagan đã “thay đổi quỹ đạo của nước Mỹtheo một phương cách khác hẳn với Richard Nixon và Bill Clinton: ông ấy đã đưa người dân Mỹ vào một lối đi khác hẳn về nền tảng, bởi đất nước đã sẵn sàng cho điều đó”. [9]

Như thế, vấn đề hiện tại, nói theo Obama, là nước Mỹ đang sẵn sàng cho cái gì?

Bây giờ thì người hùng cũng đã thấm mệt nên cũng cần nhìn vào Hollywood, như một xưởng sản xuất người hùng. Có cảm nhận được nhu cầu, có thăm dò và thấy được “gu” người hùng của công chúng Mỹ thì Hollywood mới bỏ tiền ra sản xuất người hùng được đúng gu. Công chúng vẫn còn cần Rambo thì họ mới tái chế Rambo. Như thế, cơ hồ người Mỹ vẫn còn mong mỏi thứ người hùng đã quen, đã qua thử thách chứ chưa mạo hiểm với thứ người hùng đời mới. Họ đợi một thứ người hùng trong khuôn mẫu đại tự sự quen thuộc của nước Mỹ, có thể làm họ tin tưởng ngẩng cao đầu, như từng tin tưởng ngẩng cao dưới thời Reagan.

Hẳn nhiên là người hùng của Hollywood không hề bất di bất dịch. Từ những người hùng ngoài vòng pháp luật của thời kỳ cao bồi cho đến người hùng nổi loạn vô cớ của cái thời những thanh thiếu niên như Jame Dean say sưa tốc độ, hình ảnh mẫu người để thiên hạ ngưỡng mộ ngày nay đã khác. Từ Rambo trong chuyến phiên lưu thứ hai của năm 1985 cho đến những người hùng mới đây cũng đã khác nhưng chủ đề chính bao giờ cũng xoay quanh khía cạnh “giải cứu”. Đầu tiên thì “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành” bách chiến bách thắng và sau thì sâu sắc bi thương, kiểu mẫu anh hùng của Hollywood trong mấy thập niên qua vẫn luôn là người hùng giải cứu. Trong tâm trạng cay đắng trước những gì đã xảy ra tại Iran năm 1979 hay trong sự tuyệt vọng kéo dài trước số phận của những tù binh mất tích ở Việt Nam không rõ là còn sống hay đã chết, khẩu khí nảy lửa của Reagan đã mở đường cho kiểu người hùng bách chiến bách thắng kiểu Rambo trong thân hình vạm vỡ của Sylvester Stallone hay người hùng Delta Force qua những thế đấm của Chuck Noris. Kể cả trong thời kỳ hậu-Reagan, khi cái ẩn ức bấc lực ấy đã được giải toả và, hơn nữa, còn được bù đắp bằng chiến thắng ở Iraq năm 1991, kiểu người hùng giải cứu, tuy có phần hơi khác, vẫn sống mãi cùng Hollywood. Từ Saving Private Ryan của năm 1998 cho đến Rescue Dawn của năm 2007, vẫn luôn có những người hùng giải cứu và họ khác với Rambo ở chỗ là không phải lúc nào họ cũng thắng, cái làm nên sự được ngưỡng mộ ở nơi họ là quyết tâm, là nghĩa khí, là sự chí tình chí nghĩa không bao giờ bỏ rơi đồng đội. Như trong Saving Private Ryan, chẳng hạn. Người hùng ở đây có thể không tránh đạn giỏi như Rambo nhưng cái chính là họ không bỏ rơi, phải giải cứu, và phải chia sẻ vận mạng với đồng đội tới giờ phút cuối cùng.

Và như thế, nếu vẫn còn mặn mà với những sứ mạng giải cứu mang tính anh hùng ca trên màn bạc thì, trên phương diện quốc gia, có lẽ người Mỹ vẫn còn mặn mà với cuộc giải cứu mang tính đại-tự-sự. Vấn đề là ai, ai mới có đủ tư cách và đảm lược để gánh vác cái sứ mạng này?

Tính đại tự sự còn ngụ ý tính bình ổn, ngụ ý một hệ giá trị đã thử thách, đã được chấp nhận và như thế thì cả Barack Obama lẫn Hillary Clinton, như hai thứ người hùng rất mới, rất “hậu hiện đại” ở khía cạnh phi trung tâm, đa nguyên hay nữ quyền, khó lòng mà vượt qua.

Obama là người da đen và lịch sử Mỹ có Abraham Lincoln, vị anh hùng giải phóng nô lệ da đen. Các sử gia Mỹ xếp Lincoln vào danh sách ba tổng thống vĩ đại, nhất cùng với George Washington và Franklin D. Roosevelt. Hơn thế nữa, phần lớn lại có ý đưa Lincoln vào chiếu trên như là tổng thống vĩ đại nhất, gắn liền với danh hiệu “anh hùng giải phóng”. [10] Thế nhưng vị tổng thống thứ 16 của nước Mỹ này chỉ giải phóng những nô lệ da đen ở miền Nam như một lực lượng lao động mà miền Bắc kỹ nghệ thời đó rất cần nhưng bị chế độ nô lệ ở miệt dưới chuyên về nông nghiệp trói chặt. Với nước Mỹ thì Lincoln có công rất lớn khi cởi bỏ sự trói buộc kia để phối trí lại thị trường lao công và, từ đó, thúc đẩy tiến trình kỹ nghệ hoá, đưa nước Mỹ tiến đến vị trí siêu cường hôm nay. Với những nô lệ da đen nói riêng thì Lincoln vẫn có công nhưng cái công ấy không thể nào sánh cùng tầm cỡ. Vị anh hùng giải phóng này đâu có giải phóng để họ được đi bầu hay được được ứng cử như người da trắng? Thậm chí, “I have a dream…” [11] , cả trăm năm sau cái ngày giải phóng của ấy, đến tận thập niên 50 và 60 của thế kỷ 20, họ còn phải đấu tranh đến đổ máu, như cái ngày đẫm máu đã trở thành quốc lễ mang tên Martin Luther King, thì mới có được cái quyền, trên nguyên tắc, bước vào những trường học, quán rượu hay những xe bus dành riêng cho người da trắng. Obama đang thể hiện cái ước mơ bước vào Tòa Bạch ốc thế nhưng những thế hệ nô lệ da đen hiện tại mà ông đòi làm đại diện kia còn phải băng qua một chặng đường khốc liệt nào đó nữa thì mới thực sự “giải phóng” trước cái hàng rào vô hình ngăn trở họ và cái toà nhà sơn trắng ấy. Và, như có thể thấy, ngày nào nước Mỹ vẫn còn sùng bái đến mức mê tín sự nghiệp “giải phóng nô lệ da đen” của ông Lincoln, ngày đó cái sự hoà giải đen-trắng đến tận cùng kia vẫn chưa diễn ra.
Toà nhà màu trắng ấy, có lẽ, sẽ còn tiếp tục là giấc mơ chập chờn ngoài tầm tay với của một ứng cử viên da đen như Obama. [12] Và nếu Barack Obama, cùng với Hillary Clinton, làm nên cặp kỳ phùng địch thủ “nay nhất mai nhì” trong cuộc đua của Dân chủ thì, trước toà nhà màu trắng ấy, số phận của người đàn bà này, có lẽ, cũng là “nhất nhì” vậy vậy thế thôi.

Người Mỹ vẫn lấy làm tự hào với cái truyền thống “lady first” thế nhưng cái sự “first” ấy chỉ có hiệu lực trong lĩnh vực giao tế xã hội, như trong các dạ tiệc, các cuộc khiêu vũ, trong rạp phim và nhà hát thề thôi. Phụ nữ Mỹ chỉ được phép “first” trong chốn xã giao còn trong chính trị, thậm chí trong thể thao họ luôn là “second”, là “third”. Lịch sử Mỹ chưa có một nữ tổng thống. Lịch sử Mỹ cũng chưa hề có một nữ phó tổng thống. Mà bóng bầu dục, môn thể thao ăn tiền nhất của người Mỹ, lại là môn mà, có lẽ, cả thế kỷ sau nữ giới cũng không dám mơ đến việc chen chân. Văn hoá Mỹ, như thế, là một thứ văn hoá hừng hực chủ nghĩa nam tính và, hiện tại, cái “chủ nghĩa” này còn đang lăm le áp chế cái thế giới tương đối có chút nữ quyền ở Hollywood. Có thế thì, mới đây, cô đào Nicole Kidman, người từng đoạt giải Oscar diễn xuất năm 2002 rồi được trả thù lao cao nhất Hollywood, mới buồn rầu than thở: “In terms of mainstream films, there aren’t great roles for women.” (“Trong khuôn khổ điện ảnh chính lưu, những vai diễn lớn không dành cho phụ nữ.”) [13] Mà thật, một hãng phim lớn Warner Brothers đã không tha thiết gì đến cái sự phải đạo chính trị khi tuyên bố huỵch toẹt rằng họ sẽ không dại gì vứt tiền ra làm phim cho nữ giới chiếm lấy vai chính. Hollywood, như đã nói, theo sát nhu cầu của công chúng. Và khi Holllywood thẳng tay cắt bỏ cái gì đó thì có nghĩa là họ đã cảm nhận được sự chán chường của công chúng trước món hàng đó. Không có “great role” dành cho phim của phái nữ thì có nghĩa là công chúng Mỹ, trong đó có không ít phụ nữ, đã chán cái trò nữ giới xớn xác nhảy ra làm chuyện lớn. [14]

Khi công chúng Mỹ ngán ngẩm trước cái trò nữ giới làm chuyện lớn như thế thì, e là, cái người đàn bà đang ôm ấp tham vọng làm chuyện lớn như Hillary Clinton càng có lý do để… khóc, như đã từng khóc sau thất bại đầu tiên ở Iowa.

Còn lại McCain, con người được diễn tả là bảo thủ nhưng ôn hòa của Cộng hoà. Như đã nhiều lần tuyên bố về mình như “một người lính chân đất trong cuộc cách mạng Reagan”, chỉ có McCain là thích hợp với cái đại tự sự mang phong cách Reagan hơn cả. McCain dời hải quân để gia nhập chính trường năm 1981, cũng là thời mà Reagan khởi đầu “cách mạng”. Cuộc cách mạng Reagan hướng đến một nước Mỹ không bao giờ thua và, giữa lúc làn sóng phản chiến đang lên tới mức cao nhất, giữa lúc các ứng cử viên dân túy kiếm điểm thăm dò bằng lá bài “rút quân ngay”, con người này vẫn thản nhiên, như đá, như đồng: “Nước Mỹ phải thắng cuộc chiến này.” Cuộc cách mạng Reagan hướng đến việc loại bỏ những chính quyền thiếu tự tin, không biết giành lấy chiến thắng cuối cùng và, như một đảng viên Cộng hòa, McCain kịch liệt chỉ trích đường lối chiến tranh của chính phủ Cộng hòa. Mà, như một người lính, McCain còn hợp với phong cách người hùng giải cứu hơn cả khi từng bị bị cầm tù trong thời chiến, từng cắn răng chịu đựng cùng đồng đội chứ không nhận lấy đặc ân. Từ hành động Rambo đến luận lý Reagan, có lẽ con người này là đủ tố chất để được người Mỹ chọn mặt gởi vàng trong cái không khí chính trị đã Hollywood hóa và Reagan hóa này hơn cả. [15]

Dĩ nhiên, những phân tích mang tính khái niệm như thế không thể nào phản ánh trọn vẹn mức độ phức tạp của nền chính trị và sự đỏng đảnh của cử tri nước Mỹ. Sự phức tạp đó có thể phức tạp hơn nữa theo những diễn biến chính trị, an ninh hay kinh tế – xã hội mang tính quốc tế, quốc gia hay địa phương, hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát. Sự đỏng đảnh đó sẽ còn kỳ quặc và bốc đồng hơn nữa theo… thời tiết, theo những chiến thuật quảng cáo và phản quảng cáo của các bên tranh cử mà, trong đó, không thể không loại trừ những yếu tố đời tư sâu kín, cũng hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát. Trên thực tế thì, rất nhiều lần, chỉ một thời gian ngắn dài nào đó sau khi bỏ phiếu vào thùng, rất nhiều cử tri Mỹ đã đấm ngực nhận ra rằng mình đã lỡ phí phạm niềm tin. Mà nói đến cái sự phung phí này thì họ, trước hết là những cử tri trong danh sách bầu cử sơ bộ Cộng hoà, sẽ nhớ lại tám năm trước khi, thay vì chọn một McCain ôn hòa, lại trao nhầm George W. Bush, lá bài của cánh cực bảo thủ, kẻ dù đã tốt nghiệp trường Yale vẫn không thể đánh vần cho đúng cái chữ “phân tích”, và hơn nữa, đã không thể… phân tích nổi những chuyện đáng hay không đáng để phung phí tài nguyên. [16]

Bây giờ, khi con người bị bỏ sót ấy đã già thêm tám tuổi thì chọn lựa mới của họ sẽ như thế nào? Không ai có thể trả lời chính xác câu hỏi ấy thế nhưng từ cái nét mặt lầm lì của Rambo trong chuyến hành hiệp thứ tư cho đến dáng đi lầm lũi của Daniel Plainview với ba lô nặng trĩu trên lưng trong chặng hành trình tìm dầu There Will Be Blood ở California, vùng đất thành công của Reagan và Schwarzenegger, như là hai tên tuổi thuộc về phía McCain, hẳn là con người này, dù già cả, vẫn có quyền để hy vọng, để mường tượng ra cái ngày mình hớn hở mặt mày. Hẳn nhiên, nếu cái ngày đó mà đến thì nhất định ông ta sẽ vút hai cánh tay lên theo hình chữ V, như muốn vẫy trời xuống hay như muốn bay lên, theo trời.

Cái chữ V này, với người Mỹ, là chữ cái đầu tiên của từ “Victory”, nghĩa là “chiến thắng”. Còn với nhiều người Việt có phần lẩm cẩm của chúng ta thì nó lại là con chữ khởi đầu của hai tiếng Việt Nam…

12.2.2008

© 2008 talawas


[1]Rambo IV ra mắt ngày 25.1.2008. Rambo đang sống ở vùng quê Thái Lan với nghề bắt rắn thì được một tổ chức truyền giáo nhờ lái thuyền đưa hàng cứu trợ và người đến một bộ tộc Karin. Tuy nhiên sau đó thì quân đội Miến đến đàn áp khiến Rambo phải quay về tập hợp một số tay súng để quay lại giải cứu.
There Will Be Blood được Paul Thomas Anderson dựng theo tiểu thuyết Oil của Upton Sinclair (xuất bản năm 1927). Phim lấy bối cảnh nước Mỹ trong buổi giao thời giữa thế kỷ 19 và 20.
[2]Nguyễn Hưng Quốc, http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=2267
[3]Ý nói một phim rẻ tiền nhái theo danh tác điện ảnh Bản danh sách của Schindler (The Schindler’s List, đạo diễn Steven Spielberg, 1993). A-list, B+-list, B-list hay C-list nguyên là những phần của một bảng phân loại các diễn viên trong công nghiệp điện ảnh Mỹ, căn cứ theo cát-sê mà diễn viên được trả khi đóng phim. Để lọt vào A-list, diễn viên phải được trả không dưới 20 triệu Mỹ kim cho mỗi phim mình được mời thủ vai. Tuy nhiên, trong dụng ngữ đại chúng, “an A-list/B-list actor” chỉ có nghĩa là “một diễn viên [điện ảnh] ăn khách / kém ăn khách”. (Chú thích của talawas)
[4]Jesse Walker, http://www.reason.com/news/show/124630.html
[5]Evan Williams, “Drilling into nation’s heart”, The Weekend Australian Review, Feb 9-10th, 2008, p. 22. There Will Be Blood được đề cử 8 giải Oscar và được đa số các nhà phê bình chấm điểm 5 sao.
[6]Trữ lượng dầu lửa của Saudi Arabia là 261,8 tỷ thùng , cao nhất thế giơí; đứng thứ hai là Iraq với 112,5 tỷ thùng. Trong khi đó thì trữ lượng dầu của Mỹ là 30,4 tỷ thùng, chiếm 2,9% trữ lượng toàn thế giới. Hiện tại, trong tổng số dầu lửa mà nước Mỹ nhập cảng thì dầu Trung Đông chiếm đến 24,1 % , còn lại: 22,3 %, Mexico: 12,4%, Canada: 15,5%, Phi Châu: 14,4 %. Càng về lâu về dài khi trữ lượng dầu nơi khác vơi dần, Mỹ sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào dầu lửa Trung Đông. Theo phúc trìnhcủa Ủy ban năng lượng do Mỹ do Phó tổng thống Dick Cheney lãnh đạo thì đến năm 2020, dầu lửa Trung Đông sẽ chiếm 67% trong tổng số dầu lửa nhập cảng của Mỹ. Theo nhiều nhà phân tích thì Mỹ còn phải giữ chặt nguồn dầu Trung Đông và khống chế vùng Afghanistan để kiềm chế Trung Quốc. Lý do là Trung Quốc có nhu cầu năng lượng rất lớn, do đó phải hướng tới Trung Đông và cần sử dụng vùng đất Afghanistan để xây dựng ống dẫn dầu.
[7]Obama trả lời phỏng vấn của Reno Gazette-Journal hôm 14 tháng Giêng: “I think Ronald Reagan changed the trajectory of America in a way that Richard Nixon did not and in a way that Bill Clinton did not. He put us on a fundamentally different path because the country was ready for it.”
[8]Con gái, em trai và cháu của cố Tổng thống John F. Kennedy đều lên tiếng ca ngợi Obama như là một tổng thống lý tưởng, có thể thay đổi nền tảng chính trị của nước Mỹ, [“the man who refuses to be trapped in the past, who rejects ‘the counsels of doubt and calculation’ and who can renew Americans’ belief that the country’s best days are still to come”]. Theo Thượng nghị sỹ Edward Kennedy, em của John F. Kennedy: “With Barack Obama, we will close the book on the old politics of race against race, gender against gender, ethnic group against ethnic group, and straight against gay.”
[9]Xem chú thích số 6.
[10]Dẫn theo tài liệu của Wikipedia, mục nói về Abraham Lincoln. Sau ba người này thì có hai tổng thống Thomas Jefferson và Theodore Roosevelt làm thành “Top Five”. Tiếp đó là có thêm Andrew Jackson, Dwight D. Eisenhower, Harry S. Truman, John F. Kennedy, Woodrow Wilson để làm thành “Top Ten”. Mới nhất có thêm Ronald Reagan làm thành “Top Eleven”.
[11]“I have a dream” là tên gọi thông dụng của bài diễn thuyết do mục sư da màu Martin Luther King, Jr. phát biểu ngày 28 tháng 8 năm 1963 tại Nhà Tưởng niệm Lincoln, trong đó ông nói lên ước nguyện của mình về một tương lai, trong đó người da trắng và người da đen cùng tồn tại một cách hoà hợp và bình đẳng. Bài nói lịch sử này đã thức tỉnh ý thức của dân chúng Mỹ về các quyền dân sự, đặc biệt là của người da màu ở Mỹ. (Chú thích này của talawas)
[12]Chú ý rằng Obama không phải là hậu thân của những thế hệ nô lệ da đen tại Mỹ. Bố Obama là một sinh viên Kenya, còn mẹ là một người Mỹ da trắng. Sau khi hai người chia tay thì bà mẹ này lấy một người Indonesia.
[13]Debra Kaufman, http://www.azcentral.com/ent/movies/articles/0201actresses0201.html Feb. 1, 2008.
[14]Richard Brunton, http://www.filmstalker.co.uk/archives/2007/10/women_in_hollywood_are_we_the.html
[15]Bị bắn rơi và bắt làm từ binh từ tháng 10 năm 1967. Sau khi bố McCain được cử làm Tư lệnh Hạm đội Thái bình dương vào tháng 3 năm 1968, Hà Nội đồng ý trả tự do cho John McCain để chứng tỏ thiện chí ngoại giao, tuy nhiên McCain khước từ đặc ân này, muốn được đối xử bình đẳng như các đồng đội này của mình. Việc này được một nhà ngoại giao của Hà Nội tiết lộ với nhà đặc sứ Mỹ Averell Harriman tại bàn đàm phán ở Paris. McCain được trả tự do vào tháng Ba năm 1973 theo hiệp định Paris.
[16]Trong tiếng Anh từ này là “analysis” nhưng theo Bush thì đó là “analyzation”. Sau khi đắc cử, Tổng thống George Bush luôn bị báo chí Mỹ rình rập bắt lỗi tiếng Anh như vậy, thậm chí có ký giả còn đặt vấn đề là tại sao một học sinh kém (hạng C) và một “thằng hề trong lớp học” lại trở thành Tổng thống. (Was a “C” student and class clown, yet became President?) Sau đây là những trường hợp “điển hình”:

  • “Analyzation” thay vì “analysis”. Bush: “This case has had full analyzation and has been looked at a lot. I understand the emotionality of death penalty cases.” (23 tháng 6 năm 2000)
  • “Misunderestimate” thay vì “to seriously underestimate”. Bush: “They misunderestimated me.” (6 tháng 11 năm 2000)
  • “Embetter” thay vì “to make better”. Bush: “I want to thank the… people who made the firm and solemn commitment to work hard to embetter themselves.” (18 tháng 4 năm 2002)
  • “Resignate” thay vì “to resonate”. Bush: “This issue doesn’t seem to resignate with the people.” (31 tháng 10 năm 2000)
  • “Foreign-handed” thay vì “to understand foreign policy”. Bush: “I will have a foreign-handed foreign policy.” (27 tháng 9 năm 2000)

Ngoài ra còn có các sai lầm như “nuculer” thay vì “nuclear” hay “subliminate” thay vì “subliminal”!

 
© talawas 2026