Tống Hạnh Chi
Tôi vẫn còn nhớ ánh mắt ngọt như mật ong của một anh chàng phủ lấy gương mặt tôi khi anh nhặt giúp tôi tấm thẻ đánh rơi ở cổng Thư viện Quốc gia. Có lẽ tại anh liếc thấy tôi học ở trường sư phạm. Một cô gái ngoan, hiền, lại chăm chỉ lên thư viện vào sáng thứ bảy, suy ra cô ấy chưa có người yêu. Hình như anh ta nghĩ vậy, cho nên lân la ngồi cạnh tôi trên tầng bốn ấm áp và ngập nắng. Thế nhưng khi tôi ôm về chỗ ngồi của mình cuốn Điên cuồng như Vệ Tuệ [1] với bìa sách vẽ hình một cô gái “yếm đào trễ xuống dưới nương long” thì mật ong tan mất. Và sau giờ nghỉ trưa thì anh chàng chuồn (có lẽ anh chàng cho rằng cô này đọc sách đen, lúc đầu giả nai để câu mình). Anh chàng ơi, anh đã nhầm rồi, tôi vừa tìm được một trong những cuốn hay nhất của cái thư viện buồn tẻ này đấy. Tôi có thể đọc đi đọc lại tới chục lần mà chẳng chán bởi sau mỗi lần gấp sách lại, tôi thấy mình hoá thành thiên sứ từ vẻ đẹp thiên sứ trong Điên cuồng như Vệ Tuệ. Anh chàng đã bỏ lỡ cơ hội được trò chuyện với thiên sứ rồi.
1.Từ khát vọng thiên sứ…
Quên anh chàng kém may mắn kia đi và trở lại với cuốn sách tôi yêu thích. Biết nói gì bây giờ nhỉ, chẳng lẽ ngồi tán suông? Không, tôi không thích như thế. Hãy bắt đầu từ khát vọng thiên sứ mà tôi cảm nhận được từ lời tự bạch “Bông hồng chung”. Từ cấp ba, tôi đã không thích những đề văn tìm kiếm và chứng minh cho tư tưởng nghệ thuật của một tác giả nào đó. Tôi dị ứng với lối viết minh hoạ. Thế nhưng khi đọc “Bông hồng chung”, tôi lại muốn cô giáo dạy văn hiện ra ngay trước mắt để tôi có thể nói về những suy nghĩ của Vệ Tuệ đối với văn chương và cuộc đời. Bởi những suy nghĩ ấy rất đẹp, lãng mạn và không giáo điều. Như một người khách của trần gian, Vệ Tuệ vô tình đi qua cõi văn chương, thử cầm bút và… thành công: “tôi ẩn náu trong giấc mộng viết văn”. Và mỗi lần trôi dạt trong giấc mộng ấy, “có lúc tôi cũng nghe dạ khúc của Mozart và ca kịch Italy, âm nhạc đẹp và buồn làm xúc động linh cảm của tôi, làm chữ nghĩa của tôi có cánh như một thiên sứ, trong sạch, không dung tục”. Văn chương với Vệ Tuệ không phải là nghiệp, không phải là nỗi đau uất đọng phải viết ra, cũng không phải là vũ khí để xông vào một cuộc chiến nào cả. Văn chương như một đôi cánh trắng đưa người ta chấp chới bay lên một cõi trong sạch và thanh bình sau những ngày tháng sống đờ đẫn với công việc, với vô vàn mối quan hệ ngột ngạt. Có lẽ vì vậy mà tôi thích cái cảm giác mát lạnh, yên tĩnh khi đọc chi tiết Vệ Tuệ một mình ngồi trong phòng tối, kéo kín rèm cửa, ăn hoa quả và viết văn. Viết văn, trước hết, như một mơ ước bản năng, mơ ước được thanh thản, được trong sạch, được bay bổng trong cõi văn chương và bằng văn chương.
Không hiếu sao khi đọc Vệ Tuệ, tôi thường nhớ tới Trịnh Công Sơn. Phải chăng bởi sáng tác của họ đều ngời lên vẻ đẹp trinh khiết, huyền ảo, mơ mộng; bởi cả hai đều là những kẻ du ca trong cõi văn chương, âm nhạc: Trịnh Công Sơn ca hát cho tình yêu và thân phận, còn Vệ Tuệ “ca hát vì lớp trẻ đương thời”? Điều đó lý giải tại sao sáng tác của chị được nhiều người trẻ (trẻ tuổi và trẻ lòng) đón nhận, yêu thích. Văn chương Vệ Tuệ, ấy chính là cuộc sống của lớp trẻ đang được chia ở thì hiện tại tiếp diễn. Những vấn đề về tình yêu, hôn nhân, quan niệm về hạnh phúc, hưởng thụ… đều được nêu lên chân thực và tự nhiên. Người trẻ có thể thấy mình đang tan vào nụ hôn pha lê đầu đời của Chu Địch, tỉnh giấc mỗi sáng cùng giấc mơ Ngải Hạ, lao vào cuộc sống quay cuồng của Vệ Tuệ, có lúc lo lắng đến dại người vì những chuyện không đâu, có lúc lại thờ ơ với chính sự nghiệp của mình chỉ vì ông chủ nhà xuất bản có dáng điệu trông rất tởm… Họ luôn luôn sống ở những đối cực của cảm xúc, hơi… bốc đồng, thậm chí… rồ dại trong mắt người khác, nhưng điều cốt lõi ở họ là một thái độ sống rất thật “Không hoá trang để nhập vai người khác” (Vi Thùy Linh). Vệ Tuệ đã thành công khi chuyển tải được điều cốt lõi đó, vì vậy, văn chương của chị trở thành một bông hồng chung đúng như chị mong ước. Và dĩ nhiên, Vệ Tuệ nổi tiếng, đạt được mơ ước khi bắt đầu cầm bút: nở bừng như một cây pháo hoa lớn giữa trời đêm Thượng Hải.
2. Tới những nhân vật thiên sứ
Ở đây, tôi chỉ muốn viết về những người phụ nữ. Còn đàn ông, họ hiện lên trong cuốn tự truyện chỉ như một phụ kiện làm nổi bật vẻ đẹp thiên sứ của Ngải Hạ, Vệ Tuệ, Chu Địch, Hân mà thôi.
Sở dĩ tôi gọi mỗi nhân vật nữ là một thiên sứ, trước hết, bởi sự xuất hiện của họ luôn gắn liền với hình ảnh thiên sứ: từ vẻ đẹp ngoại hình “người con gái kia vẫn đẹp như một thiên sứ (đúng vậy, giống một thiên sứ) đứng dưới làn nước trong” (Ngải Hạ), cá tính “Chu Địch là một thiên sứ cặn bã phản văn hoá từ trong cốt tủy” (“Tiếng kêu của bươm bướm”), tới nỗi đau “Chu Địch nằm trong nước lạnh như một thiên sứ vỡ vụn bởi một sức mạnh vô hình” (“Tiếng kêu của bươm bướm”), thậm chí cả cái chết “…và dù bạn có tin hay không, tôi nhìn thấy số phận của tôi, thiên sứ bé nhỏ của tôi – Hân mắt uốn cong hình con cá đẹp nhất, nụ cười như sắc cầu vồng sau cơn mưa vỡ vụn thành những hạt nhỏ li ti trên bầu trời…” (“Linh hồn lạc lối”)… đều chập chờn bóng dáng thiên sứ. Trong suốt cuốn tự truyện, hình ảnh đậm chất huyền thoại ấy hiện lên tới mười bảy lần. Bên cạnh đó, còn có bóng dáng đôi cánh và cảm giác cất cánh trở đi trở lại tới hai mươi tư lần.
Dấu hiệu nghệ thuật độc đáo này không chỉ mang lại cho tác phẩm vẻ đẹp lãng mạn, bay bổng, mà hơn thế, ngàn vạn đôi cánh trắng đã kết dệt nên một không gian thiên sứ để các nhân vật nữ thể hiện rõ nét nhất dấu ấn thiên sứ của mình.
2.1. Vẻ đẹp ngoại hình
Thật tiếc, tôi không có tấm hình nào sắc nét của Vệ Tuệ. Thật may, tôi có cơ hội được trôi dạt trong thế giới huyễn tưởng của riêng mình để tự hoạ chân dung Vệ Tuệ qua những trang văn. Một người đàn bà đẹp, yêu kiều, hoang dại và bí ẩn như vũ nữ trong rừng đêm – vẻ đẹp đã in dấu lên những bóng hình Bích, Quỳnh, Ngải Hạ, Chu Địch… Nếu chọn nhân vật có ngoại hình giống Vệ Tuệ hơn cả, có lẽ tôi sẽ chọn Bích (“Điên cuồng như Vệ Tuệ”) và Quỳnh (“Linh hồn lạc lối”) – hai người con gái sinh ra để trọn đời gắn bó với tấm áo dài Thượng Hải: thanh mảnh, đài các và gợi cảm vô cùng. Quỳnh “như một ngôi sao sáng chói mê hồn”, còn Bích “một cô gái dáng tao nhã thanh mảnh như chim hạc”. Thế nhưng Chu Địch, Ngải Hạ, Hân mới là những nhân vật thể hiện rõ vẻ ngoại hình độc đáo của Vệ Tuệ với “cặp mắt long lanh, nụ cười pha chút hài hước, không phải là một loại búp bê rỗng” (Hân), “cơ thể toả mùi thơm buồn và mạnh mẽ” (Ngải Hạ), “điệu nhảy của Chu Địch như cánh bươm bướm đang chập chờn trên tiếng ồn ào, bay qua ánh sáng màu xanh, vì cái chết và tình yêu trong ký ức” (Chu Địch). Nhan sắc vọng lên từ trang văn như một hợp âm, một khúc biến tấu của màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hương thơm, cảm giác. Ấy là màu trắng thanh khiết, trong ngần, là hương thơm nồng nàn mê mải, là ánh ngời rạng từ thịt da nến sáng, là cảm giác vừa e ấp vừa mời gọi, là nhịp vỗ cánh bay lên khỏi dung tục, ồn ào. Nhan sắc giống như một lời hứa hẹn của hạnh phúc, bình yên, vừa chất chứa linh cảm rùng mình về sự bất ổn bùng nổ, đổ vỡ. Một nhan sắc thiên sứ được sinh ra trong lòng đêm định mệnh. Nhan sắc gợi nhớ về câu chuyện huyền thoại xưa: người con gái Thượng Hải với chiếc váy ngủ màu trắng. Truyện kể rằng mỗi cô gái Thượng Hải chính gốc đều phải có một chiếc váy ngủ màu trắng để đêm đêm lộng lẫy trong màu trắng trinh bạch ấy dạo bước trên đường phố Thượng Hải. Bởi với họ, không có ranh giới giữa trong nhà – ngoài phố, cánh cửa trở thành một đồ vật vô nghĩa, kỳ dị. Họ là nhan sắc của phố đêm, sinh ra vì phố đêm và đẹp rạng rỡ trên phố đêm. Hình như mỗi nhân vật nữ của Vệ Tuệ đều có một nhan sắc thác loạn như thế.
2.2. Vẻ đẹp nội tâm
Có thể tạm chia các nhân vật nữ trong Điên cuồng như Vệ Tuệ thành hai kiểu thiên sứ: thiên sứ theo đúng nghĩa của từ này (Bích, Quỳnh) và thiên sứ nổi loạn (Chu Địch, Hân, Ngải Hạ, Vệ Tuệ).
Típ thiên sứ thứ nhất là những cô gái dịu dàng, nhạy cảm. Họ hiện lên nhẹ nhàng như một bài lục bát viết về mưa (Bích), trong sáng và hoàn mỹ như một điệu múa ba lê trên băng mỏng (Quỳnh). Cách ứng xử chu đáo, khẽ khàng, ý tứ của Quỳnh hay giọt nước mắt yểu điệu của Bích dễ gợi trong lòng người đọc cảm giác thanh bình, yên ổn. Nếu là một chàng trai, tôi sẽ chọn họ là người vợ cuối cùng của mình. Gia đình êm ấm, vợ đảm đang, đài các, viễn cảnh thật đẹp. Thế nhưng, tôi lại là một cô gái, một cô gái yêu vẻ đẹp gai góc, hoang dại, vì vậy tôi dành ưu ái cho mẫu hình thiên sứ nổi loạn.
Dường như Vệ Tuệ cũng vậy, những thiên sứ nổi loạn xuất hiện nhiều hơn cả trong Điên cuồng như Vệ Tuệ. Đó là Chu Địch “một thiên sứ cặn bã phản văn hoá từ trong cốt tủy”, là Hân “không phải một loại búp bê rỗng”, là Ngải Hạ “một bông hoa bách hợp tinh khiết trong đêm, ẩn hiện ở những nơi âm u tối tăm, xoay quanh những con người đủ màu sắc…” và chính là Vệ Tuệ “một linh vật vỗ cánh tượng trưng cho trí tuệ”. Với cá tính mãnh liệt của mình, những cô gái trẻ ấy đã phết thêm nhiều màu sắc vào bức tranh thiên sứ vốn chỉ có sắc trắng và ánh hào quang. Từ khi Chu Địch, Hân, Ngải Hạ, Vệ Tuệ cất cánh bay lên từ cuốn tự truyện, người ta đã biết đến những sắc màu mới của một típ thiên sứ mới: thiên sứ nổi loạn
2.2.1. Màu đen của vận mệnh
* Nhắn tìm con gái: Bố là Ngải Trọng Quốc nhắn tìm con gái là Ngải Hạ. Từ khi con còn nhỏ bố đã bỏ đi theo người đàn bà khác để con sống một mình với bà nội. Sau khi bà chết con đi học đại học, sau đó bị đuổi học rồi bỏ đi đâu không ai rõ. Nay con ở đâu nhắn tin cho bố theo địa chỉ… Ai biết con tôi ở đâu xin liên hệ theo địa chỉ…
* Lời cảm ơn: gia đình tôi là ông…, bà…, vô cùng cảm ơn các cơ quan đoàn thể đã tới dự đám tang của con gái chúng tôi là cháu… Hân. Từ trần ở tuổi mười sáu. Tang gia bối rối có gì sơ suất xin được lượng thứ.
* Lời trăn trối của người đàn bà giàu có: trước khi chết tôi muốn nhìn thấy Chu Địch con gái tôi. Cháu bị bỏ rơi từ nhỏ, sống vất vưởng ở hè phố, ga tàu, quán bar, làm nhiều nghề để sống, từng có thai, sau đó bỏ đi đâu không ai rõ. Tôi đã cho người đến tìm và đón cháu về nhưng Chu Địch không chịu. Con ơi, con ở đâu, hãy về với mẹ…
* Lá thư của Bích: bây giờ ấy sống ra sao, có lẽ vẫn giữ sở thích ngồi trong công viên đêm nhìn thiên hạ qua lại hoặc kéo kín rèm cửa viết lách. Tuệ à, Bích thấy nhớ và lo cho Tuệ, Mã Cách đã lấy vợ, Mắt đẹp đã chết, tớ trôi dạt quá xa… chắc Tuệ cô đơn lắm “bông hồng cuối cùng của mùa hè vẫn cô độc nở, bạn bè của hoa đã héo tàn… héo tàn…”
- Người viết: Số phận, tại sao ngươi luôn làm đau họ bằng bi kịch gia đình, sự cô độc, thậm chí cả cái chết?
- Số phận: Bởi họ sống lệch chuẩn.
- Người viết: Đó không phải là một cái tội. Mỗi người là một cá tính, vì vậy, mỗi người có cách sống của riêng mình.
- Số phận: Không tranh cãi với ngươi, điều đó đã trở thành tiền định với tất cả những kẻ nổi loạn. Đáng lẽ ngươi phải cảm ơn ta, chính vì sống bơ vơ, thiếu chăm bẵm cho nên họ mới lớn lên đẹp hoang dại và đầy màu sắc như thế. Ta tưởng ngươi chán thiên sứ mặc đồ trắng rồi. Thôi, không phí thời gian với ngươi nữa, ta còn bận đi phết sơn đen lên vận mệnh của những kẻ nổi loạn trên cõi đời này.
Số phận bay mất, tôi ngồi chơ vơ một mình, xem lại những thước phim đầy bi kịch, ngẫm nghĩ về lời số phận và ngắm nghía những đôi cánh muôn màu của thiên sứ nổi loạn vẫn lấp lánh bay lên trên cái nền đen có cả máu và nước mắt ấy. Và tôi thấy…
2.2.2.Màu đỏ của cá tính bạo liệt
Những trang viết bắt đầu từ nỗi ám ảnh.
Giữa ngỡ ngàng và đau xót, giữa còn và mất, giữa tin và không tin… tôi chập choạng đi viếng một thiên sứ nhỏ vừa ra đi ở tuổi mười tám. Buổi sáng, mưa ướt, lạnh, bạt ngàn cỏ hoang dẫn tới nhà tang lễ. Tôi khăn đen áo đen đứng trước thi hài em. Em bé bỏng và đáng thương nằm trong quan tài như một chú lính chì vỡ vụn, chú lính chì mới chập chững những bước đi đầu tiên của cuộc đời, chưa kịp vào bụng cá, chưa trôi trên dòng sông, chưa về tới ngôi nhà búp bê bằng giấy. Tôi – một người xa lạ chưa gặp em một lần, thấy thương em và hụt hẫng vô cùng. Một cô gái hai mươi mốt tuổi như tôi cũng đã biết đến nhiều cái chết nhưng không khỏi ngỡ ngàng. Tôi vẫn nghĩ chỉ có những người già, thật già mới chết. Làm sao một người trẻ như thế lại đột ngột qua đời (dù trước đó tôi biết em có bị bệnh)? Có thể tôi ngây ngô, có thể tôi ngu ngốc hay vô tâm đi nữa thì cái buổi sáng tang tóc ấy vẫn lay gọi trong tôi một cái gì đó mơ hồ, chập chờn nhưng không dễ tan. Ta trẻ trung, ta kiêu ngạo, tươi tắn đi giữa đời… nhưng ta có chắc không ta ơi, có thể… một ngày… không thể ngờ… không thể biết. Những suy nghĩ ám ảnh tôi, chất vấn tôi, và đêm nay tôi tìm đến Vệ Tuệ như một lời giải. Cuộc sống mỏng manh, cuộc sống vô thường, vậy thì hãy sống là mình và thực sự là mình giữa những ngày chông chênh như “cánh chuồn trong giông bão” (mượn chữ của Chu Văn Sơn) ấy. “Cuộc sống đơn giản đến mức không chịu nổi thì vẫn tốt hơn là những gì trầm lắng, nặng nề, giáo điều. Theo đó, triết lý cuộc sống của chúng tôi là, tiêu xài vật chất giản đơn, tinh thần không bị gò bó, bất cứ lúc nào cũng tin ở sự xúc động nội tâm, phục tùng nỗi cháy bỏng trong sâu thẳm tâm hồn, không cưỡng lại được những cảm hứng điên cuồng, sùng bái mọi dục vọng, tận tình giao lưu với mọi cuồng vui của cuộc đời bao gồm cao trào giới tính, đồng thời kính nhi viễn chi với tác phong nịnh hót, hời hợt, tiểu thị dân, côn đồ.”
Tôi tin đây là những lời chân thật nhất của Vệ Tuệ về quan niệm sống, về lối sống mà chị yêu thích, có thể đang trải qua. Và các nhân vật nữ trong cuốn tự truyện cũng có những tháng ngày thành thật, sôi nổi, không màu mè, tô vẽ như thế. Với họ cuộc sống là một dòng chảy tự do, mãnh liệt và đầy cảm hứng. Dòng chảy ấy ào qua những hành động nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống thường ngày cho tới lối cư xử trong sự nghiệp, tình yêu. Tôi thích cái cảm giác thanh thản khi nhìn Chu Địch lang thang ở các bến tàu, nhà ga, ùa vào siêu thị rồi ôm về một đống đồ hạ giá. Thật trẻ! Thật ngộ! Hân, cô bé mới lớn với một đống quà vặt giấu sau giá sách, những băng nhạc, poster thần tượng khiến ta nhớ tới bọn teenage nhịn cả ăn để mua ảnh “sao” mình tôn thờ. Rồi Ngải Hạ, những trưa hè ngột ngạt chốn ngủ, nhà kho nồng nực, tiếng chọc bi-a lách cách, bia lạnh, nụ hôn, tiếng nhạc, điệu nhảy tình tứ đầu đời… Tất cả giống như những mảng màu mạnh phá tan đi sự im lặng chết chóc của phố huyện mùa hè – đó là những gam màu của tuổi trẻ – những gam màu chứa năng lượng nguyên tử. Và có lẽ nếu chọn một nhân vật để dành tặng chiếc yếm đỏ – biểu tượng của cá tính mãnh liệt, tự do, đầy cảm hứng, thì người xứng đáng hơn cả là Vệ Tuệ. Thứ nhất, Vệ Tuệ là người đã tạo ra những nhân vật còn lại, qua đó, vẻ đẹp tâm hồn chị được thể hiện một cách gián tiếp. Thứ hai, Vệ Tuệ cũng đã tự hoạ chân dung mình qua “Điên cuồng như Vệ Tuệ” – truyện khép lại cuốn sách. Qua những nét vẽ trực tiếp và gián tiếp ấy, người đọc thực sự tìm thấy một thiên sứ với đôi cánh màu đỏ. Ngỡ như không có thế lực nào có thể ngăn cản được sự tự do mãnh liệt của người con gái ấy. Từ những đêm ngồi lặng lẽ trong vườn hoa để thoả mãn ý thích khác người: ngắm chân thiên hạ qua lại, tới chiều chiều khuây khoả nỗi buồn bằng cách chọn một nhà hàng thật xa xỉ – nếu rủng rỉnh, hoặc một quán ăn lụp xụp với tô đậu hầm nhừ – nếu cạn túi. Cuộc sống của Vệ Tuệ khiến người ta yêu thích và cả khao khát nữa. Bởi những tháng ngày ấy không có sự lo lắng, không có sự toan tính lợi hại, thiệt hơn mà chỉ có một thước đo duy nhất: thích hay không thích. Chính bản tính tự do đã giải phóng Vệ Tuệ khỏi tất cả những mối quan hệ ràng buộc mà ngỡ như bất cứ người phụ nữ nào cũng không thể thoát khỏi. Nếu bạn ngồi trước mặt người đại diện đáng kính của nhà xuất bản – người bạn không mấy cảm tình nhưng đang nắm giữ sự nghiệp và mơ ước nổi tiếng của bạn, bạn sẽ làm gì? Toàn tâm toàn ý lắng nghe chăm chú và nâng niu từng lời vàng ngọc như thánh chỉ, có lẽ. Còn Vệ Tuệ? Cô ấy lơ đễnh vì điệu bộ chán ngắt của ông ta. Mật thiết hơn, bạn yêu say đắm người tình và mong muốn trở thành cô dâu đẹp nhất trong ngày cưới! Vệ Tuệ chối từ khát vọng phụ nữ rất chính đáng ấy. Bởi hôn nhân, xét ở một khía cạnh nào đó là một sự trói buộc. Xin đừng lấy những chuẩn mực đúng sai, những quan niệm đạo đức để xét đoán văn chương Vệ Tuệ, bởi đó là một con đường đầy cảm hứng và chỉ có thể bước vào bằng con đường cảm hứng mà thôi. Nếu không “xin lỗi, văn chương cô ấy không dành cho bạn”.
Còn nhớ, khi tôi bước vào năm học thứ nhất, thầy giáo dạy môn văn học Trung Quốc có nói đôi điều về Vệ Tuệ đại ý rằng cô ấy là một quả bom sex của văn học Trung Quốc đương đại. Lúc đó, tôi không biết tác giả này là ai nên cũng không mấy chú ý, nhưng sau khi được đọc Vệ Tuệ, tôi thấy cần phải trở lại vấn đề này: nhục cảm trong Điên cuồng như Vệ Tuệ. Công bằng mà nói, trong cuốn tự truyện này xuất hiện khá nhiều cảnh làm tình, tập trung trong “Ngải Hạ”, “Tiếng kêu của bươm bướm”, “Điên cuồng như Vệ Tuệ”. Ngay ở lời giới thiệu cuốn sách, Vương Trí Nhàn cũng đã nói tới dấu hiệu này, tuy nhiên bằng một thái độ thanh minh khá dè dặt rằng đây không phải là một ấn phẩm gợi dục mà trong truyện, các nhân vật trẻ tuổi vẫn làm việc như điên, vẫn hăng say lao vào cuộc sống. Đó có thể là một cách nói che chắn khéo léo để sách dễ dàng đến tay người đọc hơn, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó e rằng chưa thoả đáng. Bởi dấu hiệu này không chỉ giúp ta hiểu Vệ Tuệ mà còn có thể lý giải về một số cây bút trẻ của Việt Nam như Vi Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu.
Trước hết, phải khẳng định Điên cuồng như Vệ Tuệ không phải là một ấn phẩm đen. Bởi nếu nó chỉ dừng lại ở mục đích kích thích người đọc thì cuốn sách sẽ bị Playboy hay một số trang web đen đè bẹp. Một bên là những hình ảnh đập mạnh vào giác quan, một bên là những hàng chữ chi chít dày đặc phải đọc hàng chục trang mới gặp một hai đoạn, tôi tin dân nghiền sex sẽ không tốn thời gian vậy đâu. Hơn thế, hãy lắng nghe Vệ Tuệ nói về thế giới bị che đậy ấy: “Ánh trăng lọt qua của sổ, chiếu lên giường, trong ánh trăng tôi thấy một cô gái nhanh nhẹn như chim đang lấy mỏ nhọn mổ vào cơ thể trắng như sứ, ánh trăng phủ chụp lên con sóng đang nhấp nhô, thịt da trơn nhẵn như lông thiên nga, những đường cong mềm mại, căng phồng, căng phồng như sắp nổ tung…Tôi lặng lẽ ẩn nấp vào góc khuất ánh trăng, với đôi mắt xa lạ ngấu nghiến ngắm bức tranh đẹp như ma thuật”. Đoạn văn là hợp âm của muôn vàn điệu sáng: ánh sáng ngời lên từ thịt da nến sáng, ánh sáng trong ngần của khát vọng hiến dâng từ một tình yêu thăng hoa, tia sáng long lanh từ đôi mắt đang say ngắm bức tranh ma thuật, quầng sáng trinh thiêng từ loài thiên nga… Tất cả đắm mình trong ánh trăng huyền ảo – thứ ánh sáng vũ trụ dành riêng cho thi sĩ và đôi lứa. Người đọc như lạc vào một không gian linh thánh, nơi đang diễn ra một nghi lễ linh thiêng, thế giới của thiên sứ, tình yêu và ánh sáng. Cảm giác về một cuộc truy hoan bị tước bỏ. Đó cũng là một vẻ đẹp từ những trang viết đậm chất nhục cảm của Vệ Tuệ – những trang viết đã khiến một kẻ với cái trán tục tằn và đôi mắt dâm dục bỏ đi, trả lại ngôi nhà ánh sáng và màu trắng cho đôi lứa. Một lý do nữa để khẳng định Điên cuồng như Vệ Tuệ không phải là một cuốn sách đen đó là Vệ Tuệ không lấy việc miêu tả những cảnh sex làm mục đích của cuốn sách, đó chỉ là một công cụ để diễn tả dụng ý của tác giả mà thôi. Những sở thích không giống ai, những giấc mơ thác loạn, lối cư xử thẳng thắn, thành thật, mãnh liệt trong công việc, tình bạn, tình yêu,… tất cả đã làm nên cái điên cuồng trong Điên cuồng như Vệ Tuệ. Và tình dục cũng chỉ là một khía cạnh, một con đường bên những con đường khác để đạt tới cái điên cuồng tột cùng ấy. Như trên đã nói, văn chương và con người Vệ Tuệ là hiện thân cho vẻ đẹp tự do, mãnh liệt, đầy cảm hứng (vẻ đẹp được chị nén trong tính từ “điên cuồng”), vẻ đẹp chối từ và phủ nhận mọi giới hạn, mọi mối ràng buộc. Văn chương chính thống của phương Đông nói chung, Trung Quốc nói riêng, có truyền thống xa lánh chuyện phòng the, coi đó là điều cấm kỵ làm ô uế chữ nghĩa. Vệ Tuệ, bằng những trang viết rất đẹp, bay bổng và mãnh liệt đã góp phần giải thiêng lá bùa vẫn gắn chặt lấy văn chương ấy. Xưa, Nguyễn Tuân tôn vinh một đao phủ với nghệ thuật chém treo ngành, nay, Vệ Tuệ tôn vinh những giây phút thăng hoa của tình yêu đôi lứa. Cả hai đều viết về những đề tài còn phong kín và đều đưa những đề tài ấy đạt tới trình độ nghệ thuật, vượt thoát khỏi cái xác phàm của nó. Vì vậy, điều đọng lại trong người đọc là mỹ cảm về cái đẹp, cái thiêng và sự tài hoa chứ không phải nhục cảm tầm thường hay tâm trạng háo hức chém giết.
Mặt khác, những trang viết về tình dục của Vệ Tuệ là sự phản ánh chân thực quan niệm của chị nói riêng, lớp trẻ nói chung về tình yêu. Với họ, tình yêu và tình dục là hai khía cạnh không thể tách rời. Tình dục, đó chính là sự thăng hoa của một tình yêu mãnh liệt và chín muồi; nó khác xa với sự đổi chác mang màu sắc mại dâm. Họ đã dám sống thật và dám nói thật về cách sống của mình. Đó là một sự tự do, hơn thế, là sự thành thật – thước đo giá trị quan trọng của lớp trẻ ngày nay.
Trong văn học Việt Nam đương đại, người ta thường hay so sánh Vi Thùy Linh và Đỗ Hoàng Diệu với Vệ Tuệ. Giữa hai cây bút nữ này, xem ra Đỗ Hoàng Diệu gần Vệ Tuệ hơn cả. Thơ Linh cũng đẫm màu sắc nhục cảm – vẻ đẹp nhục cảm thể hiện rõ bản tính nữ, vẻ đẹp cháy lên mãnh liệt từ một cái Tôi khao khát được yêu, khao khát được tận hiến, tận hưởng trong miền riêng bí mật ấy. Nói cách khác, Linh viết về tình dục như một sự tự phơi mở mãnh liệt và chân thật nhất bản tính nữ phong nhiêu của mình. Khác với Linh, Đỗ Hoàng Diệu trong Bóng đè sử dụng những hình ảnh nhục cảm như một phương tiện để diễn tả mối ràng buộc nặng nề, ngột ngạt của quá khứ với cuộc sống của con người thực tại. Chính nhờ lối viết mạnh tay, gây sốc ấy, vấn đề xã hội mà chị nêu lên trong tác phẩm đã thực sự trở thành bóng đè trong tâm tưởng người đọc.
2.2.3.Màu hồng của những tâm hồn lãng mạn, giàu mơ ước
Bản thân hình ảnh thiên sứ đã là một huyễn tưởng đầy lãng mạn của con người. Vị thần với đôi cánh trắng muốt bay bổng và vòng hào quang long lanh trên đầu ấy là nơi gửi gắm biết bao mơ ước của con người – mơ ước về vẻ đẹp trong trắng, thánh thiện và an lành. Ngắm nhìn những nhân vật nữ trong cuốn tự truyện, ta cũng tìm thấy vẻ đẹp ấy. Vẻ đẹp lãng mạn vút lên từ tâm hồn trong trắng, bay bổng, mẫn cảm, từ những giấc mơ về hạnh phúc, tình yêu. Có lẽ vì vậy mà mặc dù họ dữ dội, mãnh liệt, thậm chí phá phách nhưng ta vẫn có thể gọi họ là những thiên sứ.
Một thiếu nữ chịu nhiều bất hạnh như Chu Địch ngỡ rằng năm tháng vất vưởng nơi hè phố đã tước bỏ mọi mơ mộng. Thế nhưng những suy nghĩ và khao khát thật đẹp vẫn ngày đêm nâng đỡ cô thoát khỏi nỗi buồn về gia đình, thân phận. Cô bái phục những từ “màu đen”, “thiên sứ”, “điên cuồng”, quyết tâm tìm được tình yêu chân chính nếu không sẽ tự tử vào ngày sinh nhật lần thứ ba mươi, rồi đôi khi lại thấy mình giống nữ diễn viên mẫn cảm, lãng mạn trong phim. Có lúc, tôi chợt nghĩ Chu Địch giống một tấm kính trong suốt vậy: khi bị lấp trong bóng đêm, nó xỉn màu và u ám, nhưng khi được đặt cạnh cầu vồng, nó sáng long lanh và lấp lánh những sắc màu hạnh phúc: “…đằm mình trong cảm giác vui tươi, ánh sáng xua tan bóng tối, xua tan thân phận không may, nó sẽ biến thành một thiên sứ tự do trong trời đất, không khó khăn, không ưu tư”. Ai có thể ngờ thiếu nữ e ấp, dịu dàng khi yêu ấy từng là đứa trẻ hè phố quậy phá và bụi bặm: “Nó quay lại nhìn tôi, nở nụ cười dịu dàng, lắc đầu rồi gật đầu. Tôi có phần bối rối, nó nói rất thật, anh ấy giống như mơ”. Đó là tâm trạng của bất cứ người con gái nào lần đầu đến với tình yêu. Và hãy nghe những suy nghĩ trong sáng của cô về tình yêu đích thực: “Hai người nằm trên giường và không làm gì,… nó tin tình yêu chân chính sẽ không nảy sinh sự thèm khát bồng bột, cho dù cơ thể nó lúc bấy giờ có cảm giác lạ. Nó đọc hết bài thơ này đến bài thơ khác – những bài thơ nó tự sáng tác còn anh kia mở những bản nhạc mà anh ta ưa thích”. Mỗi lần đọc tới đây, tôi thường bật cười bởi lẽ cô bé ấy lãng mạn và trong trắng quá, những rung động đầu tiên, sự gần gũi đầu tiên, nụ hôn đầu tiên… tất cả gợi lên vẻ đẹp trinh khiết và thiêng liêng trong tâm hồn thiên sứ nhỏ Chu Địch.
Mỗi nhân vật nữ của cuốn tự truyện là hiện thân sống động cho một gam màu. Chu Địch gợi nhắc nhiều đến màu đen – màu sắc của nỗi đau và bất hạnh. Hân thiên về màu trắng. Vệ Tuệ rực rỡ trong sắc đỏ điên cuồng. Còn Ngải Hạ thực sự là một màu hồng nhiều mơ mộng. Mặc dù ta có thể tìm thấy sự mơ mộng và lãng mạn ấy ngay trong tình yêu của Chu Địch, chuyến du ngoạn của Hân, hay những giây phút ngồi viết trong dạ khúc Mozart của Vệ Tuệ, nhưng có lẽ Ngải Hạ là thiên sứ thể hiện rõ nhất vẻ đẹp này “một thứ lãng mạn tàn dư của bản năng”, lãng mạn không chỉ là một nét tính cách mà trở thành bản chất, thành hơi thở của Ngải Hạ. Khác với các nhân vật còn lại, Ngải Hạ hầu như không nói một lời nào, ít hành động, chủ yếu giành thời gian và không gian cho những cảm nhận, suy nghĩ. Người con gái ấy gợi liên tưởng về một làn hương thơm mỏng manh, nhẹ nhàng, lướt qua những quãng đời, những miền sống, số phận khác nhau: từ ấu thơ tới thiếu nữ, từ phố huyện tới thành thị, từ tình yêu đầu đời tới những mối quan hệ đủ màu sắc… để cuối cùng tan biến không vương lại một dư ảnh nào. Nàng đến rồi đi, đột ngột xuất hiện, đột ngột biến mất, không thể nắm bắt hay níu giữ. Dũng, Đinh Bằng, chàng da đen hay những người đàn ông khác, cả phố huyện và đô thành… đều nhanh chóng trở thành người cũ, chốn cũ của người con gái như sương khói. Chính sự mỏng manh vô thường ấy làm nên vẻ lãng mạn bản năng trong con người Ngải Hạ. Và những dòng hay nhất viết về cô cũng là những dòng diễn tả cảm giác của bản thân Ngải Hạ hay cảm giác bay bổng mà cô gợi cho người khác “cơ thể toả mùi thơm buồn và mạnh mẽ, mùi thơm màu trắng”. Bút pháp tương giao giữa hương thơm, màu sắc, xúc cảm đã đánh thức một vùng áp thấp say đắm trong lòng người đọc, say đắm trước một vẻ đẹp trinh khiết, mãnh liệt và u buồn. Riêng với Đinh Bằng, bạn trai của Ngải Hạ, miền áp thấp ấy đã chuyển mình thành một cơn bão nhiệt đới: “Đinh Bằng xúc động đến điên lên, như ngợi ca mùa xuân, như ánh nến nhảy múa trong bóng tối, nhàu nát như dưới vó ngựa, gào rú như đạn réo”. Đó không còn là một sự say đắm đơn thuần nữa, tình yêu ấy là sự hoá thân của sự sống được tái sinh từ cái chết, của ánh sáng phá tan bóng tối, của âm thanh huỷ diệt vọng về từ chiến địa ngàn đời. Một tình yêu khiến người ta có thể băng qua mọi giới hạn, mọi gian khó để cuối cùng được thả mình trong hương thơm màu trắng ấy. Còn đây là cảm giác về bản thân: “Mỗi buổi sáng, Ngải Hạ mở mắt nhìn thấy nắng vàng lọt qua khe rèm cửa vào nhà, trải lên mặt bàn, lên nền nhà, đều có cảm giác mình được mọc thêm đôi cánh bay lượn với nỗi tuyệt vọng trong phút hy vọng cuối cùng, đúng là hy vọng. Ngày nào Ngải Hạ cũng cáo biệt, cáo biệt những giấc mơ, đón tiếp một giấc mơ khác… Vào những lúc bay lên bằng đôi cánh mới, Ngải Hạ mới đủ dũng khí chống lại quá khứ, nhìn vào tương lai…”. Mơ ước và cảm giác bay bổng, đó không chỉ là bản tính, là vẻ đẹp tâm hồn, mà còn là sức mạnh để Ngải Hạ bay qua nỗi đau thân phận, bóng tối gia đình, sự ràng buộc của định kiến để dám sống và dám mơ mộng. Điều đó lý giải tại sao trong cuốn tự truyện, hình ảnh đôi cánh và cảm giác lâng lâng tập trung hơn cả trong “Ngải Hạ”.
Tôi dừng lại bài viết của mình trong một ngày hè nóng đến ngột thở. Đột ngột cảm thấy tiếc vì phải xa thế giới với những nhân vật mà mình yêu thích, gắn bó, có lúc khao khát được sống như họ, cảm thấy chấp chới khi không còn cánh trắng và khói sương… Thầm thì tự an ủi vì mình đã tự giải thoát khỏi những ám ảnh về Vệ Tuệ, bởi có người từng doạ dẫm tôi rằng nếu chỉ dừng lại ở những ám ảnh, em sẽ là một kẻ điên; nếu có thể biến ám ảnh thành một hiện thực đầy màu sắc và xúc cảm, em sẽ hoá thành một thiên sứ. Tôi tắt máy, ôm giấc mơ thiên sứ ngủ ngoan như một ngôi sao đỏ thắm, bé bỏng và an lành giữa trưa hè rực lửa.
© 2006 talawas
[1]Vệ Tuệ,
Điên cuồng như Vệ Tuệ, bản dịch Sơn Lê, Vương Trí Nhàn giới thiệu, NXB Hội Nhà văn & Công ty văn hoá Phương Nam phối hợp thực hiện, 2003.