Lí Minh Giang
Mặc dù căng thẳng trong khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã dịu xuống trong vài năm qua, những tranh chấp ngoại giao về chủ quyền và tài nguyên chưa bao giờ vắng hẳn. Bằng chứng là trận chiến ngôn từ gần đây giữa Hà Nội và Bắc Kinh khi Trung Quốc tiến hành thao diễn quân sự gần quần đảo Hoàng Sa bị tranh chấp và quyết định thành lập huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản lý việc thực thi pháp luật trên vùng biển Đông.
Dù vậy, không khí chung vẫn là, sáu nước tuyên bố chủ quyền – Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei, đều coi trọng hợp tác hơn đối đầu. Điều đó có được nhờ phần lớn vào thiện chí của các bên, tạm gác tranh chấp về một số khu vực nào đó để theo đuổi sự phát triển kinh tế chung và lợi ích chiến lược toàn khu vực. Nhiều biện pháp xây dựng lòng tin – đặc biệt là “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông”, đã đóng góp vào tình trạng tương đối yên bình trên vùng biển này.
Một đề nghị mới do Trung Quốc đưa ra có thể khích lệ hơn nữa các bên khác nhau tiến xa hơn hiện trạng. Đề nghị này kêu gọi một khung pháp lý về hợp tác kinh tế khu vực, gọi là kế hoạch hợp tác kinh tế khu vực toàn Vịnh Bắc bộ (Pan-Tonkin Gulf Regional Economic Cooperation); đang được chính quyền địa phương khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc thúc đẩy mạnh mẽ.
Nếu được Trung Quốc và các nước ASEAN chấp nhận, kế hoạch này có khả năng thúc đẩy xa hơn việc chấm dứt tình trạng chia phần (de-securitise) trên Biển Đông và có thể dẫn tới những đột phá về hợp tác đa phương trong các lĩnh vực vận tải biển, bảo vệ môi trường và phối hợp khai thác tài nguyên.
Nguồn gốc của đề nghị này là Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc, theo đó tỉnh Quảng Tây, cùng với Việt Nam, đề nghị thành lập vùng hợp tác kinh tế khu vực Vịnh Bắc bộ. Ngoài Việt Nam, kế hoạch này sẽ bao gồm các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Hải Nam. Từ đầu năm 2006, Quảng Tây đã bắt đầu thúc đẩy một kế hoạch hợp tác kinh tế rộng lớn hơn để bao gồm một số khu vực đông nam và tây nam Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines và Brunei.
Sự mở rộng khu vực kinh tế tiểu vùng ra khỏi quy mô ban đầu là một nỗ lực của tỉnh Quảng Tây nhằm xây dựng vùng duyên hải của mình thành một trung tâm tăng trưởng kinh tế mới của Trung Quốc. Đó cũng một phần là nỗ lực cạnh tranh với tỉnh Vân Nam trong việc củng cố sự hợp tác kinh tế với khu vực Đông Nam châu Á.
Quảng Tây đề nghị kế hoạch Vịnh Bắc bộ sẽ là một phần của cái gọi là cấu trúc hình chữ M trong sự hợp tác Trung Quốc – ASEAN: Tiểu vùng sông Mê-kông (GMS), Hành lang đường bộ từ Nam Ninh đến Singapore (hợp tác kinh tế lục địa) và khu vực Vịnh Bắc bộ (hợp tác kinh tế duyên hải). Tỉnh Quảng Tây không có lợi thế trong GMS, nhưng khu vực Vịnh Bắc bộ và chiến lược hình chữ M sẽ cho phép tỉnh này giữ vai trò dẫn đầu trong hợp tác kinh tế Trung Quốc – ASEAN.
Nguyên bí thư tỉnh ủy Quảng Tây Lưu Kỳ Bảo đề nghị rằng, kế hoạch hợp tác toàn Vịnh Bắc bộ nên được chính thức tích hợp vào Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc. Kế hoạch đã được các lãnh đạo chóp bu của Trung Quốc ủng hộ. Trong một chuyến thanh sát tỉnh Quảng Tây vào tháng Tám năm ngoái, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào khuyến khích Quảng Tây mở rộng hơn nữa và tận dụng tối đa vị trí duyên hải để thúc đẩy hợp tác kinh tế đa phương ra ngoài khu vực Vịnh Bắc bộ.
Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng khuyến khích đề nghị này cả tại Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc -ASEAN tháng 11 năm 2006 lẫn tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc lần thứ 10 hồi tháng Giêng năm ngoái. Gần đây chính quyền địa phương tỉnh Quảng Tây đã trình lên chính phủ trung ương ở Bắc Kinh đề nghị chính sách chính thức. Nhiều bộ ngành đang xem xét và chỉnh lý kế hoạch này. Khi giới lãnh đạo cấp cao thích thú với sáng kiến được đề nghị, kế hoạch hợp tác toàn Vịnh Bắc bộ có khả năng được Trung Quốc khởi động và thúc đẩy trong khuôn khổ song phương Trung Quốc -ASEAN.
Có vài lý do giải thích tại sao giới lãnh đạo ở Bắc Kinh ưa thích sáng kiến này. Kế hoạch này được cho là hữu ích để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của Quảng Tây, vẫn đang là một tỉnh tương đối nghèo, và phát triển kinh tế ở những vùng đất phía tây rộng lớn nhưng kém phát triển của Trung Quốc. Ngoài ra, người ta còn tin rằng nó sẽ đóng góp tích cực vào Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc – ASEAN bởi vì các nước Đông Nam Á tham gia hợp tác này đều đã tương đối phát triển.
Đề nghị của Trung Quốc đã nhận được sự đồng ý về nguyên tắc của các nước khác trong khu vực, bao gồm Singapore, Malaysia và Philippines, không kể Việt Nam. Tỉnh Quảng Tây đã bắt đầu thành lập một nhóm chuyên viên để cùng với Ban Thư ký ASEAN và Ngân hàng Phát triển châu Á thúc đẩy kế hoạch.
Kế hoạch hợp tác toàn Vịnh Bắc bộ, nếu được thực thi đầy đủ, sẽ có ý nghĩa lớn đối với an ninh trên vùng Biển Đông. Sở dĩ như vậy vì sự hợp tác này được hình dung sẽ biến vùng Biển Đông thành một kiểu “ao nhà” của vùng kinh tế khu vực.
Đến lượt nó, một cấp độ cao về an ninh trên vùng Biển Đông là điều kiện cần thiết để kế hoạch hợp tác khu vực vận hành suôn sẻ. Quan trọng hơn nữa, trong kế hoạch đề nghị có một số lĩnh vực liên quan trực tiếp với Biển Đông, chẳng hạn đã có khuyến nghị về một mạng lưới hải cảng quanh khu vực Biển Đông. Cũng đã có đề nghị hợp tác về đánh cá, năng lượng hàng hải, môi trường biển và du lịch biển.
Sự hợp tác chặt chẽ trong những lĩnh vực thiết thực này là bước đột phá trong cuộc tranh chấp Biển Đông. Các phân tích gia và lãnh đạo hàng đầu của Trung Quốc bình luận rằng, sự nổi lên của khu vực toàn Vịnh Bắc bộ sẽ giúp khởi động cuộc đối thoại Trung Quốc – ASEAN và hợp tác trong những hoạt động hàng hải. Đây cũng là nền tảng về truyền thông và phối hợp giữa các bên khác nhau trong khu vực Biển Đông.
Hợp tác khu vực toàn Vịnh Bắc bộ, nay đang được Trung Quốc đẩy mạnh, có khả năng tạo thêm động lực cho Trung Quốc thu hút các quốc gia tuyên bố chủ quyền khác vào cuộc tranh chấp Biển Đông. Nếu như cuối cùng các quốc gia ASEAN liên quan đồng ý hợp lực với nhau trong một kế hoạch hợp tác tiểu vùng mới, chẳng bao lâu nữa sẽ đến lúc tất cả các bên trong cuộc tranh chấp Biển Đông giải quyết vấn đề này một cách nghiêm chỉnh. Họ sẽ thấy rằng xem xét lại nhiều kiến nghị về chính sách được đề xuất trong các hội thảo do Indonesia đề xướng vào đầu những năm 1990, và nhiều kế hoạch liên kết phát triển, hoặc kế hoạch chia sẻ tài nguyên đã từng được cộng đồng các nhà khoa học đề nghị là việc làm hữu ích.
Cuối cùng, dự án hội nhập kinh tế mới này, nếu được thực hiện sẽ mang đến cho khu vực một lý do nào đó để lạc quan về sự ổn định của khu vực Biển Đông trong tương lai không xa.
Lí Minh Giang (Li Mingjiang) là trợ lý giáo sư (assistant professor) tại trung tâm nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nam Dương (Nanyang), Singapore.
Bản tiếng Việt © 2008 talawas