Bài “Vấn đề đoạn tuyệt với quá khứ để lên đường” của bà Thụy Khuê gây nhiều tranh cãi. Trong phần dưới đây, tôi chỉ phân tích các nhận định của bà Thụy Khuê về Nguyễn Mộng Giác, nhà văn được nhiều người Sài Gòn cảm phục.
Khi bàn về sự khác nhau trong quan điểm “thế nào là một tiểu thuyết lịch sử” của Nam Dao và Nguyễn Mộng Giác, bà Thuỵ Khuê đưa ra ý kiến thông qua nhận định của Sartre: “không có gì mới, không có gì cũ cả, chỉ có viết hay hay không mà thôi”.
Vậy mà sau đó mấy dòng, để chứng minh Mùa biển động thành công hơn Sông Côn mùa lũ (hai tác phẩm đều của Nguyễn Mộng Giác), bà Thụy Khuê lại phát biểu: “Trong Sông Côn mùa lũ … những nhân vật nói với nhau bằng ngôn ngữ Việt Nam của thế kỉ XX, cho nên không tạo được cái không khí của thế kỉ XVIII. Tác giả cũng lại ít nhắc đến y phục, kiến trúc, sinh hoạt ngoại cảnh nên tác phẩm không xác định được môi trường của thế kỉ XVIII…”
Tiếp theo, bà Thuỵ Khuê lý luận về nguyên nhân dẫn đến thành công của Mùa biển động: “Nguyễn Mộng Giác đã dựa trên sự thực ngoài đời… trong khi Sông Côn mùa lũ không dựa trên một thực tại nào”.
Tất cả thành công của Mùa biển động chỉ nằm ở chỗ tác giả đã sống ở miền Nam những năm 60? Bao nhiêu nhà văn khác cũng sống ở miền Nam thời đó có ai viết được Sông Côn mùa lũ? Bà Thuỵ Khuê muốn dạy bảo Nguyễn Mộng Giác: phải viết những gì mình đã từng trải qua trong cuộc sống, chớ mất công sử dụng trí tưởng tượng, chớ nên sáng tạo?
Bà Thuỵ Khuê chắc chưa đọc Shakespeare? Nếu tác giả này chỉ có mỗi tham vọng “vẽ lại được” quá khứ, thì văn học thế giới mất đi một đại văn hào. Điều làm nên sự vĩ đại của Shakespeare chính là ở những tư tưởng mà ông đưa vào các tác phẩm của ông, chớ không phải ở những câu chuỵên về vua Lear, Othello, Hamlet… Chính lẽ đó, chúng ta và những người đọc ông sau này khi nhớ đến Hamlet là nhớ câu hỏi đến bây giờ vẫn nhức nhối “Tồn tại hay không tồn tại?” mà Shakespeare đặt ra ngay từ thời đó, chớ không phải “không khí” hay “trang phục” hay “ngôn ngữ” của thời đại Hamlet. Truyện tranh thiếu nhi “Thánh Gióng” của nhà xuất bản Kim Đồng “vẽ lại cái không khí” của nước ta thời các vua Hùng một cách xuất sắc, nhưng ai coi đó là văn học nghệ thuật?
Theo tôi, một trong những sáng tạo của Sông Côn mùa lũ lại là điều bà Thụy Khuê phê phán: Nguyễn Mộng Giác đưa ra một cái nhìn khác về Nguyễn Huệ. Nếu trước đây, người đọc chỉ được biết một Nguyễn Huệ “anh hùng” đầy “clichés” thì trong tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác, vị anh hùng ấy hiện ra với những e dè, ngại ngùng, đau khổ hết sức người. Chính Nguyễn Hưng Quốc trong “Phê bình phê bình”, đã nhận định một cách sâu sắc: “Đậm nét nhất trong nhân vật Quang Trung của Nguyễn Mộng Giác không phải là một võ tướng xông pha giữa trận địa hoặc một vị vua đầy quyền lực mà chỉ là một kẻ hay thao thức trong đêm khuya, hay băn khoăn trong lòng, hay ngập ngừng trong giọng nói, hay thoáng vẻ bối rối trên khuôn mặt, và hay tần ngần trong mỗi bước đi. Có cảm tưởng Quang Trung cũng chỉ là một nạn nhân của lịch sử: lịch sử xô ông tới, đẩy ông lên những đỉnh cao, và cuối cùng, thật bất ngờ, làm cho ông biến mất…”(xin coi Văn hoá văn chương Việt nam, Văn Mới, 2002)
Bản thân Nguyễn Mộng Giác khi trả lời phỏng vấn của Trần Doãn Nho (Hợp Lưu 45), đã phát biểu: “Thú thực ban đầu tôi cũng có e ngại, băn khoăn không biết phải viết thế nào: “phục cổ” “nệ cổ” hay là cứ viết thoải mái theo lối bây giờ. Mà viết cho có vẻ xưa là viết làm sao, thế nào là xưa? Cuối cùng tôi tìm ra một chỗ dựa để viết Sông Côn mùa lũ theo cách tôi chọn: Nguyễn Du viết Truyện Kiều cách đây cũng gần hai trăm năm, mà sao đọc Truyện Kiều không thấy xưa như đọc văn Phạm Quỳnh?”.
Theo chúng tôi, bà Thụy Khuê đã bị mờ mắt bởi hào quang của “thần tượng” Nguyễn Huy Thiệp, nên không thấy rằng chính Nguyễn Mộng Giác mới là người tiên phong trong việc tạo nên hình ảnh Quang Trung của đời thường. Xin nhắc bà là Sông Côn mùa lũ được khởi viết từ năm 1977 khi tác giả còn đang sống ở Sài Gòn, hàng ngày đạp xe xuống Chợ Lớn làm mì sợi cho tổ hợp Dân Sinh. Không lẽ bà Thụy Khuê viết về Nguyễn Mộng Giác, lại không đọc bài trả lời phỏng vấn quan trọng như vậy của chính ông (trong Hợp Lưu)?
Cuối cùng, tôi cũng muốn nhắc bà Thụy Khuê chút xíu về vấn đề dịch thuật:
– “Les Trois Mousquetaires” của Dumas thì trẻ em Việt cũng biết là “Ba chàng ngự lâm pháo thủ”, sao bà lại dịch là “Ba người ngự lâm pháo thủ”? “Người ngự lâm pháo thủ” nghĩa chi trong tiếng Việt? Vậy có thể nói “người công tước”, “người hoàng tử”, “người công chúa” được sao? Tiếng Việt của bà Thuỵ Khuê dở quá!
– Bà Thụy Khuê biện luận việc mình dịch “écriture neutre” là “văn phong lạnh lùng” vì trong “tiếng Việt, khi một người không để lộ tình cảm ra ngoài ta gọi người đó là lạnh lùng”. Người rành tiếng Việt phải biết: khi một người không để lộ tình cảm ra ngoài, ta gọi người đó là kín đáo. Người kín đáo đâu có phải là người lạnh lùng! Vì lẽ đó, tôi đồng ý với hai tác giả Đỗ Nguyên và Đoàn Cầm Thi về việc phải dịch “écriture neutre” là “văn chương trung tính” hoặc nếu không, bắt buộc phải giải thích thêm “là văn phong trong đó tác giả không biểu lộ cảm tính”. Nếu nói “lạnh lùng” như bà Thụy Khuê thì rành rành là có cảm tính trong đó rồi, đâu còn “neutre” nữa.
Bà Thụy Khuê không nên dùng Cao Xuân Hạo cho nặng kí. Cao Xuân Hạo là Cao Xuân Hạo, Thuỵ Khuê là Thuỵ Khuê! Chính cách dịch của bà mới bị Cao Xuân Hạo phê phán đó: “cách dịch ít tốn thời gian và công sức nhất“, vì bà không cần đọc “từng chữ” của L’Etranger, thấy Camus là liền phê “lạnh lùng”.
Nếu bà Thụy Khuê muốn nhận định điều chi, nên đàng hoàng nhận định, đâu cần kể Sartre, Nabokov, Thạch Lam, Tolstoi… Đã vậy, Bà Thụy Khuê lại còn giễu các nhà văn Việt hay bắt chước, bắt chước kém và phê bình “ẩu” phong cách sáng tác rất riêng của Nguyễn Mộng Giác.
Sài Gòn ngày 7 tháng 3 năm 2003
© 2003 talawas