Jennie Bristow
Thời xửa thời xưa đó là một cửa tiệm băng đĩa, nơi từng tổ chức những buổi phát hành nửa đêm với những hàng dài khách mộ điệu nôn nao đứng chờ món nóng của một khuôn mặt thời danh; đó là một chính khách có cỡ đang bị Jeremy Paxman, tay phỏng vấn gạo cội của đài BBC, quay như nướng chả trên chương trình toàn quốc; đó là những bậc trí thức, những tiểu thuyết gia từng tạo nên những cuộc tranh luận tầm cỡ về giá trị đạo đức, về cấu trúc xã hội hay về những đặc tính căn bản của loài người.
Nhưng điều đó còn diễn ra trước nữa, lâu lắm, lúc chưa ai nghe đến cái tên J. K Rowling và Harry Potter chỉ là một xấp bản thảo nằm trên bàn giấy của một tay môi giới xuất bản vậy thôi. Bây giờ, sáu năm sau ngày Potter ra mắt lần đầu, tối thứ Bảy ngày 21. 6, quá nửa khuya đúng boong một phút, các hiệu sách lại mở cửa để bán cho các bậc phụ huynh, cho các nhà chức nghiệp trẻ tuổi đang lao xao đằng trước những ấn bản đầu tiên của Harry Potter and the Order of the Phonenix. Hôm thứ Năm, một chương trình đặc biệt của Paxman – J K Rowling: The Interview – được phát trên kênh truyền hình BBC2. Thậm chí trước đó, trước khi bất cứ độc giả nào có dịp đọc được cuốn sách mới, giới bình luận đã lục tục lên tiếng về câu chuyện thần thoại sặc mùi đạo đức Harry Potter và lý do tại sao nó lọt hai lỗ nhĩ của chúng ta.
Ðâu là thực chất của cơn cuồng-Potter này? Thì, rõ ràng, cũng phải có cái gì đó nằm bên ngoài chất lượng tác phẩm nữa. Khi Harry và bầu bạn bắt đầu xuất thế như là pho truyện tủ của giới thiếu nhi Anh thì những nhà bình luận đạo mạo đã trịnh trọng phẩm bình đến giá trị văn chương của J. R. R. Tolkien thời hiện đại rồi, còn bây giờ thì đám ký giả hằng ngưỡng mộ Rowling lại thú nhận rằng “văn cách của pho truyện nó nặng nề thế nào còn diễn tiến thì rập theo một công thức toàn tuyệt nào”, và như thế bạn sẽ không phải liều mạng so sánh rằng Rowling giống với Enid Blyton hơn là C. S. Lewis để rồi ăn đạn. Khi các tay điểm sách đọc được cuốn Potter mới rồi thì, chắc chắn, sẽ xuất hiện những lời lẽ quật ngược rằng thật ra cuốn sách chả hay ho như đã bàn vẽ thế đâu, cái kiểu phản ứng mà ai cũng có thể lường trước được. Nhưng có mấy ai bận tâm? Bây giờ họ lại luận bàn những chuyện xa vời hơn thế.
Kể từ lúc khởi sự, cơn cuồng-Potter này đã thể hiện một tính chất trẻ nít về văn hoá vốn chỉ có tăng chứ không hề giảm theo năm tháng. Ðó là những gì mà chúng ta hằng mong đợi ở con cái, ở những cuốn sách, ở những hệ giá trị và cả ở chính mình nữa. Bất kể câu chuyện Harry Potter and the Order of the Phonenix diễn biến như thế nào đi nữa thì mối ám ảnh Harry Potter đối với chúng ta khó mà trở thành một câu chuyện có cái hậu vui vẻ cả làng.
Tưởng tượng những năm tháng cuối của thập niên 90, lúc những ông bố bà mẹ, những ông giáo bà giáo, những nhà bình luận văn hoá phát hiện ra một trào lưu thú vị nào đó. Loạt truyện về một chú bé có phép thần thông tại trường nội trú thế mà, ngạc nhiên thay, lại làm lũ học sinh trên toàn quốc đọc mê đọc mệt.
Cần nhớ rằng thời ấy bọn trẻ thường bị gán là “Thế hệ PlayStation”, bị xem như là những kẻ mù chữ bất đắc dĩ đã mê say hàng giờ bên những keyboard, những mouse hay remote control của một đầu máy truyền hình nhưng không bao giờ chúi mũi vào một cuốn sách; bọn chúng mà chúi mũi đọc Harry thì, hoạ là, phép màu đã hiện ra. Khi câu chuyện phiên lưu của Potter – cái câu chuyện có phong cách nam nữ đề huề, có nam giữ vai chính, có những con vật lực lưỡng và dễ cáu giận bao giờ cũng thua, cũng bị loại khỏi vòng chiến – lôi cuốn được bọn nhỏ thì sự thể, kể ra, cũng hay hơn đó chứ.
Lúc những ông bố bà mẹ và những ông giáo bà giáo bắt đầu tích góp những tài liệu liên quan đến Potter thì cũng là lúc các nhà bình luận thao thao bất tuyệt về thành công của nữ tác giả, bởi, ngay từ tác phẩm đầu tay, bà ta đã đơn độc làm được cái điều mà chính phủ đã thất bại với biết bao nhiêu là chiến lược chỉ với mục tiêu hoàn thiện khả năng đọc-viết cho học sinh toàn quốc.
Thì cũng được thôi. Cứ cho là đọc sách thì tốt và, như thế, có thể giả định tiếp là bọn nhỏ đọc nhiều chừng nào thì sẽ tốt chừng đó. Tuy nhiên chính cái nhiệt tình hăm hở đối với Potter này lại cho thấy rằng những kỳ vọng của chúng ta đã bị tụt hạng như thế nào rồi. Không lâu lắm đâu, chúng ta đâu hề đơn giản nghĩ rằng đọc sách là một điều tốt cho trẻ em mà vấn đề phải là đọc những cuốn sách tốt. Chẳng hạn việc các em thích đọc Famous Five đã khiến người ta nghi ngờ rằng đầu óc của Blyton có cái gì đó hư nát, và do đó phải đưa Narnia vào chương trình giáo dục để bắt buộc các em đọc.
Cái tưởng là phẩm chất văn học của Potter, vốn thể hiện rất rõ trong tác phẩm, trước hết, thuộc về tính chất dễ đọc, và chính tính chất dễ đọc này đã lôi cuốn các độc giả nhỏ tuổi chứ không phải là những giá trị văn học của nó. Dẫu vậy, nếu trước đây thư viện của các trường học từng chủ động từ khước những tác phẩm của Enid Blyton vì ngại rằng chúng sẽ làm lũ trẻ lơ là những cuốn sách đáng đọc, bây giờ tác phẩm của Rowling cũng thể hiện những đặc điểm y chang trong khi thiếu hẳn cái phần căn bản cho những kỳ thi Anh ngữ.
Dường như, trong những năm gần đây, những gì mà chúng ta mong đợi ở trẻ em và những cuốn sách chúng nên đọc đã bị tụt hạng thê thảm, thê thảm đến mức có người than phiền là sao mà bắt lũ trẻ chờ lâu, phải chờ những ba năm mới có Potter tập mới để đọc.
Mà không chỉ là trẻ em. Một diễn tiến chưa định nét của cơn cuồng-Potter này là sự say mê của lớp người lớn tuổi, không chỉ là những độc giả cha-mẹ vốn đọc để chia sẻ cùng con cái mà là những nhà chức nghiệp trẻ tuổi; và chính điều này đã khiến Bloomsbury, nhà xuất bản của Rowling, tung ra ấn bản đặc biệt với bìa sách dành riêng cho người lớn.
Thế nhưng, cho dù tỷ lệ những độc giả trưởng thành hoan hỉ thú nhận rằng mình đọc sách của trẻ nít khiến chúng ta giật mình, kiểu ấn bản người lớn đó bán không chạy như khoản dành cho trẻ em. Ðành tạm giải thích là, nếu đã không biết ngượng khi say mê đọc một cuốn sách của trẻ nít tại nơi nhĩ mục quan chiêm thì người ta sẽ không bao giờ cảm thấy bị hạ nhục với cái bìa sách vẽ riêng cho bọn nhỏ. Sự thực là, bản chất của thời đại chúng ta ngụ ý rằng những khát vọng hướng đến thuở ấu thời là cái gì đó, một cách tích cực, tỏ ra bình lặng.
Joel Rickett, chủ biên ban tin tức của trang nhện Bookseller, lập luận rằng xu hướng đọc Harry Potter của thế hệ người lớn chỉ là một bước mở rộng trong tiến trình trẻ nít hoá về mặt văn hoá. Ông tuyên bố trên đài BBC: “Toàn bộ sự quay lùi ấy đã trở thành phong trào ‘hip’ hồi cuối thập niên 90 và đã được chấp nhận như là sự quay trở về với thời thơ bé.”
Bây giờ thì thế hệ trưởng thành không muốn rời nhà cha mẹ nữa và, sau chừng một thập niên, họ lại xem những chương trình bốc mùi hoài niệm kiểu “Tôi yêu thập niên 90”; họ sử dụng những website kiểu “Bạn bè hội ngộ” để liên lạc với bạn học cũ; rồi họ sa đà với những đêm vui kiểu “School Disco” tại các hộp đêm ở London trong những bộ đồng phục nào đó, nhảy nhót theo những nhạc khúc của thời trai tre,û cái thời đã trở thành quá khứ.
Còn gì tự nhiên hơn khi một thế hệ không muốn trưởng thành nữa mà chỉ tự giam mình trong vỏ kén của những cuốn sách dành cho trẻ nít? Những cuốn sách mà, nói theo Joel Ricket, là dễ đọc, thoải mái, có thể ru người đọc trở về với thời trai trẻ mới vừa đi qua.
Sự lôi cuốn tréo ngoe với những độc giả trưởng thành đó lại làm tăng thêm cái huyễn tượng về điều gì đó đặc biệt, đầy thách thức trong Harry Potter so với những tác phẩm thiếu nhi khác; cái huyễn tượng dường như chỉ đến với những người đọc chẳng được bao nhiêu. Có tiểu thuyết nào ăn tiền với thế giới người lớn hơn là những câu chuyện sắp đặt tài tình trong những công thức dễ dãi của Chick Kit, John Grisham, James Patterson hay những tác giả best-seller khác?
Một câu chuyện thiếu nhi hay – hay theo từng diễn biến chứ không phải hay theo ý nghĩa văn chương – sẽ tạo nên sự hấp dẫn tương tự (Tôi đố độc giả nào từng thú nhận là đã đọc Potter cưỡng lại được sức cám dỗ của Malory Towers và Famous Five của Enid Blyton, cho dù họ phải đọc một cách lén lút). Khi nó trở thành một thứ kẹo bọc đường, dễ nuốt và chẳng hề làm khó trí não thì điểm khác biệt chính yếu của chú bé thần thông ở đây là bạn có thể đọc một cách công khai và bằng lòng rằng mình thuộc về một trào lưu văn hoá đã được thừa nhận. Kể ra, trong nền văn hoá trẻ nít hôm nay thì khát vọng làm người nhỏ tuổi cũng ổn thoả thôi.
Dù sao thì những diễn biến mới nhất của cơn cuồng-Potter này đã đẩy tính chất trẻ nít văn hoá của chúng ta xuống thấp hơn một bậc. Chấp nhận với phần tiếc rẻ rằng sức thu hút của tác phẩm có thể nằm ngoài giá trị văn học, người ta lại trịnh trọng tìm kiếm những giá trị hay những thất bại của tác phẩm trong việc đề cao những giá trị đạo đức, xã hội. Ðiều này, dù tỏ ra gần gũi với điểm mấu chốt của vấn đề đấy, nhưng hoàn toàn nằm ngoài lý lẽ của mấy nhà bình luận.
Richard Adams viết trên tờ Guardian rằng bên trong sự ăn khách của Potter là một “ưu thế chính trị đang được đốc thúc”. Ông viết: “Bất kể những phong cách hướng đến tính chất đa văn hoá hay bình đẳng giới tính ở những tác phẩm khác, Harry Potter lại thể hiện tinh thần bảo thủ”. Ông chỉ ra rằng “giáo trình của Trường pháp thuật Hogwart không có môn ngoại ngữ hay địa lý, không hề nhắc đến những chuyến du hành ngoại quốc, cho dù tác phẩm thì đầy những chuyến phiên lưu huyền nhiệm. Hẳn nhiên, chẳng có một thứ pháp thuật nào toàn trí cả.”
Adams chỉ trích Rowling đã “tính toán căn cơ trong việc dung hàm chủng tộc” khi không chịu ghi nhận những lễ lạt khác như lễ Ðầu năm của người Do Thái, lễ Diwali của tín đồ Hindu hay lễ Giáng Sinh. Ông phản đối những lời “phẩm bình chủng tộc” của tác giả qua việc diễn tả tình trạng nô lệ dưới hình thức ngay-trong-nhà-mình, ông công kích việc diễn tả Dursley như là “hình mẫu của giai cấp trung lưu: ngu muội, bần tiện và tham lam, sống trong như căn nhà biệt lập trong vùng Little Wingging”.
Dường như Adams cho rằng sự ăn khách của Potter thuộc về khả năng rao bán những thành kiến tiểu-Anh của Rowling (có nhiều người đồng ý với ông ta về điểm này). Ðã quan trọng hoá quá mức vấn đề đến độ không thấy được đặc điểm trọng yếu của một tác phẩm dành cho thiếu nhi, những nhà phê bình này cũng không hiểu tại sao Rowling thành công.
Vấn đề không phải ở chỗ Harry Potter là một hình thức phẩm bình xã hội thiếu thích hợp, mà nó chẳng hề được viết để phẩm bình xã hội. Nó chỉ đưa độc giả đến một thế giới an toàn về mặt đạo đức, ở đó chỉ có Thiện đối với Ác, ở đó người đọc sẽ không bị rắc rối với những chuyện nan giải về đạo đức như ở thế giới thực này. Và chính điều đó đã tầm thường hoá tác phẩm.
Trong những điểm yếu hơn, lời phê bình nặng mùi chính trị phải đạo của Adams chỉ có thể thua kém mấy lời ton hót giả dối về cống hiến của Potter trên khía cạnh đạo đức. Trong một thế giới mà một Chú Bé Thần Thông Tốt cùng bạn bè chống lại nhà Phù Thủy Xấu cùng bè lũ, Potter đã gìn giữ những giá trị mà xã hội hôm nay vẫn tiếp tục quý trọng. Lòng quả cảm, tình bạn, tình yêu, rồi sự thành thật và lòng hướng thiện, tất cả điều này đã sáng lên với nhân vật Harry, với bạn bè cậu và với bất cứ nhân vật lớn tuổi và cao nhã khác; rồi tất cả đã chan chát đối lại với tính ích kỷ, với lòng tham, với sự tàn bạo và hèn yếu của những đối thủ trong phe Ðen Tối. Và tác phẩm lại có rất ít những khoảng tranh tối tranh sáng, và như thế,trong cái nhìn của thế hệ hôm nay, có rất ít cơ hội cứu chuộc.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi những đứa trẻ coi trọng những đức tính nói trên lại được những kẻ từng chật vật đề cao phẩm hạnh trong một thế giới rối bời về đạo đức chào đón với một thái độ đầy biết ơn.
Nhưng chúng ta đang sống giữa một thế giới xáo trộn về đạo đức và chính niềm đam mê Potter, như một hình thức tìm quên tập thể, càng làm đậm nét cái thực tế xáo trộn này. Ðể đề cao những giá trị phẩm hạnh, Rowling phải lồng câu chuyện của mình vào một xã hội mà chuyện đạo đức phải rạch ròi đen trắng, nơi người ta chỉ việc chọn lựa giữa đúng và sai chứ hiếm khi phải băn khoăn trước những chọn lựa nan giải. Ðọc những câu chuyện kiểu này độc giả sẽ thoải mái hơn, sẽ cảm thấy khuây khoả nhưng việc diễn dịch chúng như thế nào trong thế giới Muggle mà độc giả của Potter đang sống lại là suy đoán của từng người một.
Sau cùng, vấn đề cũng không phải là những giá trị truyền thống trong Harry Potter đi song song với sự phục hưng của giáo hội, của đảng Bảo Thủ, hay của các tổ chức nam nữ Hướng Ðạo. Những ý thức hệ cũng như những định chế hình thành trong tinh thần đế chế và trong những lời rao giảng rạch ròi về phẩm hạnh, về phong cách quý tộc hay những giá trị đạo đức thời ấy đã trở nên lỗi thời hơn giữa một xã hội tương đối, buông thả và bén nhạy về cảm tính. Ðiều này đã khiến bất kỳ ai từng hâm mộ Potter đều cảm thấy thiếu thoải mái với những câu chuyện ngụ ngôn của Enid Blyton về đời sống trong trường nội trú những năm 40: những giá trị thì y chang, tuy nhiên, trong khi Blyton bốc mùi đế chế thì, một các huyền nhiệm, Potter đã cởi bỏ được những dấu ấn của cả một giai đoạn lịch sử trắc trở lẫn một thực tế đời sống đầy bất trắc.
Phần lớn, những lời tiếng rôm rả chung quanh Harry Potter and the Order of the Phonenix đều nhắm đến số phận của nhân vật chính, đến cung cách mà cậu ta sẽ bị khai tử (có tin cho biết những công ty đánh cá đã khai thác đề tài này), đến sự chuẩn bị của Rowling khi đương đầu với Ðiều Khó (tối nay Rowling sẽ cho Paxman biết mình đã khóc như thế nào sau khi kết thúc đúng một chương).
Cho dù điều gì diễn ra với Harry – như là cậu bé mồ côi giàu tình cảm nhất thế giới -đi nữa, khó mà nói rằng đó là thảm hoạ đầu tiên và, trên thực tế, một bạn học của cậu đã bị khai tử ngay trong tập bốn. Và, theo cách hiểu của tôi, cái chết mới thực sự là Ðiều Khó duy nhất mà bộ truyện Potter phải đương đầu. Sự sống và cái chết thích hợp với thế giới rạch ròi đen trắng của họ; đừng bận tâm gì đến những chuyện tế nhị khác của đời sống cũng như mối quan hệ giữa người và người.
“Thì đã sao?”, một cách hợp lẽ, bạn có thể vặc lại như thế. “Bà ta viết một câu chuyện cho thiếu nhi”. Quan điểm của tôi chính xác lắm: Rowling có thể tiếp tục với những câu chuyện hấp dẫn để mang niềm vui đến với bọn nhỏ chứ không phải mang lại những lợi ích văn chương hay đạo đức. Nhưng cũng đừng nên vờ vịt rằng việc đương đầu với cái chết sẽ khiến Harry tốt hơn cho bạn, rằng hệ giá trị của Rowling sẽ thích ứng cái thế giới nằm bên ngoài Trường pháp thuật Hogwart.
Tài liệu tham khảo:
- The arts colume: will the spell be broken? Daily Telegraph, 11 June 2003
- Why grown-ups go ptty over Harry, BBC News, 17 June 2003
- Quidditch quaintness, Guardian, 18 June 2003
- Rowling’s tears at Potter book death, BBC News, 18 June, 2003
Về những tác giả và tác phẩm được Jennie Bristow nhắc đến trong bài:
J.R.R. Tolkien (John Ronald Reuel Tolkien – 1892-1973). Giáo sư văn chương tại Oxford, tác giả của nhiều tác phẩm thiếu nhi như The Hobbit, The Fellowship of the Ring, The Two Towers, The Return of the King. Ba năm trước, The Fellowship of the Ring được dựng thành phim The Lord of the Ring, khá thành công về thương mại.
Enid Blyton (Enid Mary Blyton – 1897-1968). Nhà văn thiếu nhi thành công nhất và gây nhiều tranh cãi nhất của nước Anh trong thế kỷ 20. Trong 40 năm bà đã xuất bản hơn 600 đầu sách cho thiếu nhi và những tác phẩm này đã được dịch ra gần 70 thứ tiếng, trong đó nổi tiếng nhất là Famous Five (1945-1950), Secret Seven (1953-1962), and Adventure (1946-1952. Tính đến thập niên 80, sách của Blyton đã bán được gần 60 triệu cuốn. Bị chỉ trích bởi tiếng Anh “kém” cùng những thành kiến chủng tộc và giới tính, sách của Blyton bị các trường học tại Anh cấm, không cho phép đưa vào thư viện.
C.S Lewis (Clive Staples Lewis – 1898-1963). Sinh tại Ireland, dạy văn chương Anh tại Cambridge, viết tiểu thuyết và phê bình. Tác phẩm: Allegory of Love: A Study in Medieval Tradition (1936) (phê bình), Out of the Silent Planet (1938) (tiểu thuyết) v.v… Từ năm 1950, Lewis bắt đầu viết loạt truyện thiếu nhi Chronicles of Narnia.
© 2003 talawas