trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
14.3.2003
Tằng Phát
Hai món võ của nhà phê bình phim Đức Kôn
 

Có một số nhà phê bình nghệ thuật của chúng ta trước tiên sở trường về phương pháp đấm ngực kêu trời. Ðọc đâu cũng thấy những dấu chấm than bất tận, những “hỡi ôi”, “đáng buồn lắm thay”, “đau khổ quá lắm…” của các bậc thức giả, trí giả. Chủ yếu họ than thở rằng thì là mà văn hoá ngày càng suy đồi, thanh niên ngày càng hỗn láo, trong khi phát biểu về nghệ thuật là độc quyền của họ, của người trong nghề, thì lũ khán giả trẻ tuổi đáng thương chúng ta không chịu tận hưởng độc quyền ngồi ngáp mà lại hay thắc mắc, so sánh.

Nguỵ biện chiết giải (the fallacy of division) và nguỵ biện lập lờ (the fallacy of equivocation)



Sau cú bái tổ khiêm tốn “đôi điều về chuyển thể từ văn lên phim”, bằng lời lẽ thật đanh thép, ý tứ thật hùng hồn, ông Ðức Kôn viết ” Xưa nay, từ Ðông sang Tây, việc chuyển từ một tác phẩm văn học lên phim đã trở thành hết sức quen thuộc. Có thể nói, đa phần những bộ phim xuất sắc nhất, Tây cũng như Ta là chuyển từ văn học. Và qua thực tiễn sáng tạo, người ta đã đúc kết được, đã thừa nhận với nhau khá nhiều kinh nghiệm và bài học vừa có tính chất giáo khoa vừa khá cởi mở trong việc chuyển thể – điều mà, thiết tưởng những người làm nghề có học không mấy ai xa lạ.”

Ái chà, khôn khéo chưa! Bằng lối ngụy biện chiết giải (fallacy of division), ông cố tình mập mờ đánh lẫn hai khái niệm. Trong khi các bài viết của tác giả Phạm Xuân Nguyên và Tằng Phát nói cụ thể về việc chuyển thể tác phẩm Chùa Ðàn của Nguyễn Tuân lên phim, thì ông lại tìm cách chứng minh họ sai lầm bằng cách đưa ra luận điểm về việc chuyển thể tác phẩm văn học nói chung lên phim. Ðây là cách lý luận mập mờ kiểu “những bộ phim xuất sắc nhất, Tây cũng như Ta, là chuyển thể từ văn học”, “Mê Thảo được chuyển thể từ văn học, do đó nó xuất sắc” (sic).

Mà ngay cả luận cứ “những bộ phim xuất sắc nhất, Tây cũng như Ta, là chuyển thể từ văn học” của ông cũng hết sức khả nghi. Nếu chúng ta chịu khó tra cứu danh sách bầu chọn một trăm bộ phim hay nhất của mọi thời đại do AFI (American Film Institute) chọn lọc, tuy chỉ giới hạn trong các phim của Mỹ, thì số lượng phim dựng theo tác phẩm văn học hoàn toàn không nhiều, và trong số hai mươi bộ phim hay nhất, chỉ có bốn dựng theo tác phẩm văn học [1]. Phát biểu một cách hàm hồ như vậy, hoặc vì kiến thức của người trong nghề về cái nghề của mình không đầy đủ, hoặc cố tình dùng uy tín kiến thức của mình ra để lừa gạt độc giả, đều không phải là lối tranh luận đàng hoàng.

Nguỵ biện “biện danh luận” (Argumentum ad verecundiam) và nguỵ biện thẩm quyền bất xứng

Sau khi đã cẩn thận kẻ cả về “những người làm nghề có học” (hàm ý những người tranh luận với ông không có nghề và ít học), lẽ ra phải chứng minh ý kiến của mình bằng lập luận, thì ông lại viện dẫn “từ những đạo diễn lão làng và những người “khó tính” nhất của ngành điện ảnh đến những tên tuổi trong giới văn học”… như Nguyễn Duy, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Xuân Ðào, Hoàng Như Mai để làm căn cứ cho lập luận của mình. Lập luận viện dẫn đến sự tôn kính hay tiếng tăm là lối nguỵ biện biện danh luận. Ðành rằng đó là nguồn thông tin đáng được tính tới, nhưng sự đồng tình của họ về một ý tưởng nào đó không thể được sử dụng như một chứng cớ thích đáng. Hơn nữa, giáo sư Hoàng Như Mai, nhà phê bình văn học Lê Ngọc Trà, nhà thơ Nguyễn Duy hay giáo sư Nguyễn Xuân Ðào đều là những chuyên gia trong những lĩnh vực khác với điện ảnh. Do vậy, viện dẫn ý kiến của các chuyên gia về những vấn đề nằm ngoài phạm vi và năng lực chuyên môn của họ là lối nguỵ biện thẩm quyền bất xứng. Ðánh giá của những người nói trên, do đó, về phim Mê Thảo chỉ có thể được ghi nhận với mức độ tin cậy như một nguồn thông tin bình thường

Nguỵ biện vô can luận (the fallacy of irrelevance): chứng minh hay phản chứng sai lệch trọng tâm vấn đề



Với tiêu đề của bài viết là “đôi điều về việc chuyển thể từ văn lên phim”, cũng như khẳng định mục đích chính của bài viết của mình là “nhắc lại với nhau đôi điều về chuyện chuyển thể” lẽ ra phải xây dựng lập luận của mình về vấn đề “chuyển thể từ văn lên phim”, ông lại tập trung vào việc công kích hai bài báo của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và tác giả Tằng Phát, ở đây, ông đã sử dụng dạng thức khác của lối nguỵ biện vô can luận: cho rằng ông đã chứng minh được quan điểm riêng của mình bằng cách chứng minh quan điểm của đối phương là sai lầm.

Nguỵ biện Xúc xiểm luận (Argumentum ad hominem) và Khích động luận (Argumentum ad populum)



Lập luận quen thuộc của ông Ðức Kôn trong bài viết của mình là chuyển mục tiêu lập luận từ trọng tâm vấn đề đang được bàn thảo sang tính cách riêng của đối phương. Ông không tiết kiệm những ngôn từ có tính thoá mạ khi nói về nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và tác giả Tằng Phát như “những kẻ khiếm thị; não bộ đã u mê, cảm xúc tê liệt hoặc tâm địa ngoắt ngoéo“, hay “một dúm chữ nghĩa khô héo, còi cọc, năng lực cảm thụ méo mó, ví von xẹo xọ, võ đoán, thổi phồng một cách thô lậu, lỗ mỗ và bất nhất; khoái cái chữ bẩn thỉu v.v.” hoặc kết tội “xách mé hỗn hào, ngạo mạn hàm hồ“. Dạng biện luận này, thay vì nhắm vào nội dung lập luận của đối phương, lại nhắm vào tiếng tăm và nhân cách của người ấy. Nó ám chỉ đến hoạt động trí tuệ, địa vị xã hội, nền tảng học vấn thấp kém hay bất ký khiếm khuyết nào về mặt thể chất hay tinh thần của đối phương, cũng như dựa trên cơ sở kích động cảm giác hơn là lý giải hay truyền tải thông tin.

Nguỵ biện Áp chế luận (Argumentum ad Baculum)



Trong quá trình lập luận của mình, ông Ðức Kôn không ngớt ám chỉ mình là người trong nghề, là người có học và ngầm ý đe doạ người đối thoại về sở học của mình. Nói về một nhận xét của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, ông đe “xúc phạm đấy” v.v. Ðó là lối nguỵ biện áp chế luận, thường rất được các nhà phê bình như ông Ðức Kôn ưa dùng.

Có thể kể thêm ra các lối nguỵ biện đối chiếu bất đồng (Tu quoque) hay nguỵ biện trích lược (the fallacy of vicious abstraction) trong bài viết của Ðức Kôn tiên sinh, nhưng tưởng thế cũng đủ để độc giả hình dung về một bài viết, thoạt đầu tưởng như được viết ra với một mục đích đẹp đẽ là góp “đôi điều về cái chung” của phim ảnh nước nhà. Vừa ra những cú đấm dưới thắt lưng ngoạn mục như vậy, vừa cao giọng than thở “Hỡi ôi! Khó quá và cũng đáng nản quá cả về nghề phê bình và văn hoá phê bình”, “nhà phê bình” Ðức Kôn quả là bậc quân tử giầu bản lĩnh!

© 2003 talawas


[1]Danh sách này có thể được tra cứu ở trang Web của AFI www.afi.com; ngoài ra có thể tham chiếu các danh sách khác của National Film Review

 
© talawas 2026