Thái Kim Lan
1.
Về giả thuyết thái độ của Kant và phát ngôn của Phạm Minh Ngọc (PMN) nhân danh nhà triết học: Qua các tác phẩm triết học của ông cho thấy Kant là một triết gia tầm cỡ, không bao giờ nông cạn khi phát biểu về một vấn đề, nhất là khi không đồng ý với người đối thoại, ông lại còn cân nhắc hơn nữa. Ông nổi tiếng (xin xem tiểu sử chi tiết của Kant) là người luôn luôn tìm hiểu thêm và tìm hiểu rộng. Ông đã từng dạy môn địa lý thế giới và đã viết về Việt nam mà ông gọi là Tonkin một cách sơ lược nhưng khiêm tốn và thành thật. Về các tín ngưỡng trên thế giới, ông chỉ biết đạo Phật qua các bài tường thuật của những người đi du lịch, như chính nhà nghiên cứu Phật học người Ðức Kurt Schmidt đã tường thuật trong bài Những nét Phật giáo trong tư tưởng của Kant (đã dẫn trong bài Góp ý với Ðỗ Xuân Phương). Tôi nghĩ nếu PMN muốn phát ngôn cho Kant một cách trung thực thì trước hết nên biết Kant là ai để đừng tự mình hồ đồ, vội vã gán ép cho Kant những ý nghĩ của chính mình.
2.
Về từ ngữ Khai sáng: lý do một số người dịch từ tiếng Anh “Enlightenment” nên dùng chữ “Giác ngộ”. Giác ngộ đơn giản có nghĩa là “biết thấy”, dù có dùng ngoài đời hay trong ngôn ngữ Phật giáo thì cũng vẫn chỉ là sự “biết và thấy chân lý”. Tuy nhiên tiếng Ðức tinh tế và phong phú hơn, phân biệt “Aufklärung” có nghĩa là “khai sáng” và “Erleuchtung” có nghĩa giác ngộ. Và chính thời đại khai sáng đã có kỳ vọng như thế: thấy biết sự thật hay nhận thức đúng đắn trong tự do và độc lập. Thời khai sáng của thế kỷ 18 có thành công hay không là một chuyện khác. Theo nghĩa chữ tiếng Ðức, một trạng thái tâm thức được khai sáng (aufgeklärt) cũng có nghĩa là giác ngộ (erleuchtet).Tuy nhiên khai sáng nên được hiểu là một tiến trình (con đường) “sử dụng trí tuệ” để được giác ngộ (mục đích). Con đường khai sáng và mục đích khai sáng tuy hai mà một, vì tựu chung cái TÂM CON NGƯỜI CHỈ LÀ MỘT và ÁNH SÁNG (tiếng Pháp gọi khai sáng là LUMIÈRE S= ánh sáng) trên thế gian này cũng chỉ là một. Nếu PMN không phân biệt màu da hay chủng tộc, ngoại đạo hay tà đạo, thì có lẽ – tôi nói có lẽ thôi vì không dám đoan chắc – PMN sẽ đồng ý KHAI SÁNG và GIÁC NGỘ dành cho “CON NGƯỜI biết sử dụng trí tuệ”như Ðỗ Xuân Phương (ĐXP) đã hiểu hay như Khổng tử đã nói làm “sáng cái đức sáng” (MINH MINH ÐỨC) trong tâm. Hơn nữa trong phần bổ túc chú thích đã nói rõ vấn đề khai sáng mà Kant đặt ra thuộc lãnh vực đạo đức hành động và những hệ luận của nó trên lãnh vực triết học nhà nước (Staatsphilosophie).
Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh khái niệm “giác ngộ” trong đạo Phật có một ý nghĩa rộng hơn khái niệm “khai sáng” trong bài KS của Kant, điều đó không có nghĩa là ÐXP không có quyền liên tưởng khi sử dụng phương pháp loại suy từ kinh nghiệm “giác ngộ” trong đạo Phật để hiểu “khai sáng” của Kant.
3.
Câu thứ ba của PMN làm tôi hơi thất vọng: ông viết “để hiểu đúng tinh thần của Kant tôi đã phải đi tìm Foucault và nhờ ông giảng cho nghe khái niệm khai sáng” làm tôi nhớ ví dụ đầu tiên trong bài KS của Kant: “tôi có một quyển sách, quyển sách ấy có trí tuệ thay tôi.”. Foucault không thể thay PMN để hiểu Kant như PMN được! Dĩ nhiên bài viết của Foucault có thể dùng để tham khảo, nhưng tài liệu này là tài liệu gián tiếp. Trong khoảng một thời gian ngắn bất ngờ chúng ta có 8 bản dịch Việt về bài Khai Sáng là tài liệu quý báu trực tiếp chuyển tải tư tưởng của Kant, trong đó có bản dịch của PMN. Ðây là một đóng góp phong phú, hiếm có và quý giá cho việc khảo sát tư tưởng Khai sáng của Kant từ bản gốc, thiết nghĩ chúng ta có thể lý giải quan niệm của Kant ngay chính từ đây, theo suy luận của chúng ta, để tìm một kết luận cho mình trước tiên, sau đó chúng ta có thể tham khảo Foucault để tăng thêm tính thuyết phục, chứ không nên dùng phương pháp ngược lại lấy Foucault giải về Kant để hiểu Kant. Tôi sợ e ta chỉ hiểu Foucault hay không hiểu Foucault mà rốt cùng cũng chẳng hiểu Kant gì cả.
4.
Khi nói về sự tương đồng, tôi chỉ mới nêu ra một điểm tổng quát: con người trong chức năng sử dụng trí tuệ của con người như là điều kiện thực hiện khai sáng có nghĩa là thoát li khỏi tình trạng vị thành niên do lỗi con người gây ra. Ðó là điều kiện tiên quyết để con người trưởng thành, trưởng thành cho mình và cho xã hội. Ðiều kiện kế tiếp hay mặt sau của điều kiện trên là sự độc lập khỏi tất cả những lệ thuộc tự nhiên và tinh thần trong đó có lệ thuộc tôn giáo, trong đó có cả lệ thuộc ý niệm thượng đế. Ðối với Ðức Phật điều kiện để hiểu tứ diệu đế và thực hành tứ diệu đế là “ngọn đuốc trí tuệ” và sự suy luận độc lập “không cần một người đạo sư”, không nên nghe lời đồn, không nên nghe người ta viết lại, không nên dựa vào suy luận của người khác, v.v. (đã dẫn trong bai góp ý với ÐXP), ngay cả không cần sự có mặt của Phật (đã dẫn). Giác ngộ tứ diệu đế là nhận chân và chính mình thử nghiệm được chân lý nằm trong đó. Giác ngộ chân lý này không có chi khác hơn là thấy “sự vật đúng đắn như nó là” (Kinh vô ngã tướng) trong bản chất vô thường của nó (khổ đế). Có ba loại khổ đế: khổ vật chất, khổ tinh thần (trong đó có tình trạng vị thành niên, lệ thuộc sự lãnh đạo của người khác) và khổ trên bình diện thể tính (ontologie) = bản chất sự vật là vô thường. Bao lâu con người không tự mình khám phá hay chưa hiểu được bản tính sự vật và của chính con người, vô minh vẫn còn tiếp diễn và chính con người gây nghiệp vô minh ấy có trách nhiệm với chính nghiệp của mình. Tứ diệu đế của Phật cũng như ngón tay chỉ đường, – cũng như tác phẩm triết học của Kant,- là một giáo án (chứ không phải là giáo điều được điều khiển bằng một quyền uy tối thượng) cho khoa học tâm linh: tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng hiện hữu tiêu cực của con người đòi hỏi những phân tích khoa học nằm trong định luật nhân quả hay trong phân tâm học. Từ đó khai sáng là sự tĩnh thức của trí tuệ hay nói như Kant là sự “vùng thoát” (danh từ của PMN trong bài dịch Khai Sáng của PMN) khỏi tình trạng tiêu cực trong xã hội đang diễn ra mà đó là nguyên nhân của khổ đau.
5.
Tôi chưa biết đoạn Phật cho kẻ khác là “ngoại đạo” và khai trừ người ấy, cho người ấy là “tà” như một số tôn giáo khác thường quan niệm như thế. Rất mong được PMN chỉ cho chỗ ấy để luận giải thêm.
6.
Về mục đích khác nhau giữa Khai sáng và Giác ngộ: PMN cho rằng khai sáng để con người mạnh mẽ đi vào xã hội, nhưng nếu ông hỏi tiếp: đi vào xã hội để làm gì? Ðể tranh giành quyền lực, để chém giết nhau vì danh lợi, để ân oán triền miên, để hận thù truyền kiếp? Hay khai sáng là để đưa nhân loại tiến đến hạnh phúc đại đồng và hoà bình vĩnh cữu, như chính chủ trương của thời khai sáng đã đặt ra? Ðạo Phật đi một con đường khác khi lý giải về nguyên nhân của chữ khổ nằm trong sự vô minh của con người lấy dục vọng làm hạnh phúc, lấy thù oán làm mục đích, lấy ảo tưởng, mù quáng làm sự thật. Giải phóng những tình trạng ấy bằng sức mạnh và sự can đảm của trí tuệ mình là mục đích tự lợi nhưng cũng là lợi tha. Hình ảnh của Bồ tát thõng tay vào chợ là một hình ảnh dấn thân cho hoà bình và sự thoát khổ hay nói một cách thực tiễn thoát khổ để được hoà bình nội tâm lại là một điều kiện cho sự an vui của nhân loại.
7.
Ðiều hiển nhiên là tư tưởng của Kant và của Ðạo Phật có những dị biệt nhất định, mà Trần Lai Khê đã đặt vấn đề (xin xem “Góp ý với Trần Lai Khê”). Không ai ngây thơ cho rằng tư tưởng Tây phương giống hệt tư tưởng Ðông phương, cũng như không ai “vô duyên” lẩn thẩn so sánh Foucault với PMN. Nhưng những yếu tố tương đồng hiếm hoi là một niềm vui cho ta thấy được viễn tượng con người dù cho Đông Tây xa nhau mấy đi nữa, điểm tương phùng nhỏ nhoi vẫn là một chút ánh sáng hi vọng để con người gần lại với nhau.
03.03.04
© 2004 talawas