Tôi vừa mới đọc bài viết Hai quyển từ điển rất có hại cho Tiếng Việt của ông Lê Mạnh Chiến. Xin cảm ơn vì trách nhiệm và sự nhiệt tình đối với chữ nghĩa của ông. Nhân đây tôi xin có đôi lời góp ý sau:
1. Về từ “bộ đội”
Hẳn chúng ta đều biết, giai đoạn đầu thời chống Pháp, quân đội ta chỉ có binh chủng bộ binh. Từ “bộ đội” đã ra đời vào thời điểm đó. Sau này khi quân đội phát triển, người ta vẫn sử dụng từ “bộ đội” cho các quân chủng, binh chủng khác: Bộ đội lục quân, bộ đội không quân, bộ đội hải quân, bộ đội pháo binh, bộ đội tăng thiết giáp v.v. Nghĩa của „bộ đội“ lúc này không chỉ còn là lính bộ binh như ban đầu nữa.
Như vậy, từ “bộ đội” đã được dùng với hai nghĩa mới:
- tương đương với những từ „quân“, „binh“, „lính“ trong kho tàng thuật ngữ quân sự với nghĩa „người trong quân đội“ [1] . Anh bộ đội = người lính.
- từ gọi chung bộ phận, thành phần của quân đội. [2]
Còn nghĩa “quân đội” chỉ được dùng trong 1 số ngôn cảnh như: Nhân dân như nước, bộ đội như cá (Trường Chinh) [3] . Bộ đội cụ Hồ. Đi bộ đội = đi lính = nhập ngũ = vào quân đội.
Còn một cách dùng nữa mà tôi thấy hơi khó định nghĩa chính xác. Nó như có ý diễn đạt lực lượng quân đội của một quốc gia một cách chung chung nhưng không hẳn là chỉ “quân đội” theo cái nghĩa “quân đội” trong quân đội nhân dân Việt Nam.
Ví dụ 1: Từ ngày đầu chiến tranh, trường học lớn, trường học đích thực của bộ đội ta, là chiến trường (Võ Nguyên Giáp, tr. 103, Đường tới Điện Biên Phủ, NXB QĐND, 1999)
Ví dụ 2: Lính Mỹ nhát hơn lính ngụy. Lính Mỹ là loại lính công tử, lính con nhà giàu. (Ở đây không thể dùng là “quân đội Mỹ nhát hơn quân đội ngụy” được.)
Ta thấy các cách dùng:
| Bộ đội |
Lính |
| bộ đội Việt Nam |
lính ngụy |
| bộ đội Trung Quốc |
lính Pháp |
| bộ đội Liên Xô |
lính Mỹ |
Chú ý là chúng ta không bao giờ nói “bộ đội ngụy”, “bộ đội Mỹ”. Có vẻ như từ “bộ đội” chỉ được dùng để chỉ phe ta, phe cộng sản. Từ “lính” mang sắc thái trung tính hơn. Chúng ta có thể nói “bộ đội ta” hoặc nói “lính ta”.
Ở đây, có lẽ tôi phải nói thêm về từ “quân đội”. “Quân đội” thường được hiểu như sau:
- Quân đội của một nước thường gồm ba quân chủng: lục quân, không quân, hải quân. Các quân chủng trên lại có các binh chủng trực thuộc, như quân chủng lục quân có binh chủng pháo binh, binh chủng bộ binh, binh chủng tăng thiết giáp v.v. Đây là nghĩa chính, nghĩa về mặt tổ chức.
- Nghĩa thứ hai mới là nghĩa như “bộ đội” trong ví dụ sau: „Bộ đội Việt Nam thực sự là một bộ đội cách mạng.“ = „Quân đội Việt Nam thực sự là một quân đội cách mạng.“
Nhưng nếu câu được viết dài hơn: “Bộ đội Việt Nam thực sự là một bộ đội cách mạng. Không đầy một năm mà bộ đội Việt Nam hành quân trên ngàn dặm, liên tiếp đương đầu với bom đạn của đế quốc Pháp, dù sắt đá cũng phải mòn.”, thì trong câu này chúng ta không thể thay “quân đội” cho “bộ đội” được. Đây chính là “cách dùng hơi khó định nghĩa chính xác” mà tôi đã nói ở trên.
Tôi không biết hiện người Trung Quốc dùng từ „bộ đội“ với nghĩa như thế nào. Tôi cũng khâm phục sự cẩn trọng của ông Lê Mạnh Chiến khi ông đã “căn cứ vào gần một chục quyển từ điển của Trung Quốc mới dám viết những dòng này”. Đó là tác phong vô cùng cần thiết của một nhà khoa học chân chính. Nhưng theo tôi chúng ta không nên vận dụng quá nhiều từ điển chữ Hán để tìm nghĩa cho một từ Việt đang được dùng và biến đổi liên tục trong mấy chục năm qua.
Tôi khẳng định với ông rằng hầu hết những người sử dụng, sáng tạo từ “bộ đội” hiện nay không hề biết một chữ Hán nào. Vậy thì tại sao chúng ta lại phải tra cứu Tân hiện đại Hán ngữ từ điển để tìm nghĩa một từ Việt hiện đại? Chúng ta chỉ nên tra cứu các từ điển tiếng Hán để tìm ra các nghĩa gốc, nghĩa nguyên thủy của từ.
Theo tôi, một quyển từ điển hoàn chỉnh phải làm được hai việc:
- giải thích đúng nghĩa nguyên thủy của từ. Việc tìm ra nghĩa gốc của từ và đưa chúng vào các quyển từ điển là việc làm vô cùng cần thiết khi mà hầu hết người Việt hiện nay không biết tiếng Hán.
- giải thích đúng các nghĩa mà người Việt dùng hiện thời. Đôi khi người Việt thắc mắc về một từ đang được xã hội sử dụng hiện tại. Họ cần có một quyển từ điển để tra cứu các nghĩa của từ đó. Từ điển có chức năng gom nhặt những nghĩa (của từ đó) đang được dùng rải rác trong dân gian và cung cấp nó cho người đọc.
Mong là ông Lê Mạnh Chiến cũng như những nhà làm từ điển lưu tâm nhiều hơn đến việc đó, nhưng đừng bao giờ làm ẩu và thiếu thận trọng như GS Nguyễn Lân.
2. Bàn về quan niệm làm từ điển
Trong mục từ “cấm cung”, ông Lê Mạnh Chiến viết: “Nghĩa của từ cấm cung như soạn giả đã nêu chỉ tồn tại trong khẩu ngữ dân gian. Người soạn từ điển không được phép coi đó là nghĩa đúng và nghĩa chính, mà chỉ có thể nêu thêm có kèm theo ghi chú”.
Thú thực là tôi không hiểu điều này lắm. Thế nào là khẩu ngữ dân gian? Phải chăng “khốn nạn” trong “đồ khốn nạn”, “lịch sự” trong “cư xử lịch sự”, “nói năng lịch sự”, “ăn mặc lịch sự” cũng là khẩu ngữ dân gian, do người dân dùng sai nên chúng ta “chỉ có thể nêu thêm có kèm theo ghi chú”? Phải chăng các nghĩa đó không bao giờ được coi là nghĩa chính? Như từ “lịch sự”, chúng ta không hề dùng nghĩa đúng của nó là “từng trải sự việc” (ít nhất là trong vài chục năm qua). Vậy thì nghĩa nào sẽ là nghĩa chính của từ? Một nghĩa không hề được người dân dùng (nghĩa đúng) hay là một nghĩa mà toàn thể nhân dân Việt Nam đã quen dùng nó trong nhiều năm qua?
Theo tôi, việc dùng nghĩa sai hay nghĩa không đúng với nghĩa chính ban đầu cũng phải được nhìn nhận rõ ràng hơn. Đúng là chúng ta không thể chấp nhận những từ kiểu như “yếu điểm” = “điểm yếu”, nhưng không phải tất cả đều như thế.
Về từ “cấm cung”: “cấm cung” hay “cung cấm” đều có nghĩa là cung điện của vua. Điều này hoàn toàn đúng. Nhưng cung điện của vua là nơi như thế nào? Đó là nơi mà không mấy người có thể vào được. Đối với người dân thường, nó là một nơi rất huyền bí. Cũng nên biết là có nhiều ông vua cả đời hầu như không bao giờ ra khỏi cung điện của mình (đó chủ yếu là các ông vua chỉ biết ăn chơi, ham mê sắc dục, không ngó ngàng gì đến việc nước). Còn những cung tần, mỹ nữ của vua thì rất nhiều người cả đời chỉ quanh quẩn trong cung cấm.
Chính vì thế mà dân gian đã sử dụng từ “cấm cung” như GS Nguyễn Lân đã nêu. Theo tôi đó là một cách phát triển từ hợp lý. Tôi xin đưa thêm một ví dụ. Một người than thở với bạn mình: “Dạo này tao bị bố mẹ cấm cung ở nhà không cho đi đâu, chán quá!”
Còn hơn cả “cấm cung”, „bộ đội“ là một từ được sử dụng và phát triển hoàn hảo. Nếu quan niệm như ông Lê Mạnh Chiến thì có lẽ chúng ta chỉ được phép chấp nhận hai nghĩa (theo từ điển tiếng Hán) mà ông đã nêu trong bài của mình. Còn những cách dùng như “bộ đội chủ lực”, “bộ đội không quân” v.v. chỉ là khẩu ngữ dân gian, chỉ có thể nêu thêm có kèm theo ghi chú.
© 2005 talawas