Ðọc bài “Phê bình mỹ thuật Việt Nam”, tôi cảm thấy rất thương Nguyên Hưng. Bài viết của anh rồi cũng sẽ như “tiếng kêu trong sa mạc”. Sẽ không bao giờ có hồi âm.
Có điều gì bất thường ở đây?
Tìm hiểu mỹ thuật Việt nam hơn 10 năm qua, giữa rất nhiều người viết, tôi chọn đọc Nguyên Hưng. Anh viết nhiều, viết đều, có tầm nhìn rộng, cách nhìn mới. Thái độ của anh chân thành, thẳng thắn. Văn phong phê bình của anh đẹp ở sự chặt chẽ, sắc sảo, trực diện với vấn đề, chữ nghĩa có độ vang nhưng không màu mè, làm dáng trí thức v.v… Có lẽ, nhiều họa sĩ Việt Nam cũng đồng tình với nhận xét của tôi. Tôi biết nhiều họa sĩ tìm mua tờ Sài Gòn giải phóng thứ bảy, ra hàng tuần, chỉ để đọc bài viết về mỹ thuật của anh. Và họ bàn tán về các bài viết này mỗi khi ngồi với nhau ở các quán café. Viết như Nguyên Hưng là cần thiết. Nền mỹ thuật Việt Nam để giành được vị trí đáng lý ra đã có trong tâm trí mỗi con người Việt Nam và trên bản đồ mỹ thuật thế giới cần phải có thêm thật nhiều Nguyên Hưng. Nhưng. (Tôi phải bắt chước lối chấm câu nhấn mạnh này của Nguyên Hưng, vì sau chữ nhưng kia là một thực tế oái oăm). Không phải ai cũng muốn những ý tưởng của Nguyên Hưng phát huy ảnh hưởng. Không ít thế lực tìm cách ngăn cản. Không phải là vấn đề politics. Người ta chỉ có thể “politics hóa” vấn đề để vô hiệu hóa những ảnh hưởng có thể có từ Nguyên Hưng. Sau những nỗ lực “hư vô hóa” không đem lại kết quả. Không thể im lặng trước những điều mình biết và tin, nên cho dù chỉ là người đứng từ phía bên ngoài, tôi cũng cảm thấy cần phải viết bài này. Tôi tin khi nói ra điều này, tôi cũng chia sẻ được với Nguyên Hưng trong việc tìm ra những chướng ngại cản trở sự phát triển bình thường của nền mỹ thuật Việt Nam.
Những người đầu tiên không ưa thích các bài viết của Nguyên Hưng là những người trong giới buôn tranh, những kẻ đầu cơ trong lãnh vực kinh doanh mỹ thuật. Những người này ở Việt Nam hay ở nước ngoài, cả thảy, đều muốn đồng hóa “cái thương mại” với “cái nghệ thuật”, “cái thời thượng” với “cái tiền phong”, cái họ đang có với “cái tiêu biểu” v.v… Với họ, mọi phân tích khách quan, mọi phê bình thẳng thắn đều ngầm ý thách thức, đe dọa. Ở Việt Nam, những người này là một thế lực. Họ có thể rất mạnh khi thao túng được báo chí. Và, với lực lượng này, họ có thể thả một màn sương mù lên cả nền mỹ thuật. Tôi muốn lưu ý, họ thao túng được báo chí, không hẳn nhờ vào tiền bạc. Mà chủ yếu, chỉ vì sự nhẹ dạ và ít hiểu biết của những người viết báo. Tôi biết nhiều người viết báo cũng làm công việc sưu tập, muốn mua tranh giá rẻ và bán giá cao. Họ cũng có tâm lý như những người buôn tranh, những kẻ đầu cơ.
Tiếp theo, là những người đang ở trong bộ máy quản lý, điều hành Hội Mỹ thuật các cấp. Khi bất cứ ai đặt vấn đề về các cơ sở văn hóa-xã hội cho sự tồn tại của mỹ thuật Việt Nam, thực hành phê bình lý thuyết, phê bình học thuật…, những người này sẽ cảm thấy mình bị phê phán, bị đặt trước nguy cơ bị chất vấn bởi các cấp lãnh đạo cao hơn và bởi dư luận. Những người này rất dễ là những người sẽ “politics hóa” vấn đề. Không phải vì lý tưởng, vì ý thức “chuyên chính” mà vì thế đứng cá nhân. Họ cũng là những người không muốn có phê bình nói chung. Thậm chí không muốn có dân chủ. Tôi biết nhiều người trong số họ thầm đồng ý với Nguyên Hưng nhưng vẫn xếp Nguyên Hưng vào loại “cầm đèn chạy trước ô-tô”.
Sau hết, là những họa sĩ, những nhà phê bình đến với nghệ thuật vì danh, lợi tưởng đã có thể an tâm về vị trí của mình trong nền mỹ thuật quốc gia. Họ ít nhiều là sản phẩm trực tiếp của lịch sử và văn hóa Việt Nam. Do đó, khá đông đảo và thường khá bảo thủ. Họ là một lực lượng mạnh vì có thế đứng trước công luận gắn liền với một hệ thẩm mỹ đã trở thành phổ cập, dễ được chấp nhận. Họ là một bộ phận làm nên cái được gọi là truyền thống mỹ thuật Việt Nam, thậm chí là chính thống, mặc dầu nếu mở rộng tầm nhìn và khách quan, sẽ thấy phần lớn chỉ là giả tạo. Với những người này, bất cứ sự xét lại nào cũng dễ bị đồng hóa thành “âm mưu kẻ địch”, một hành động phá bĩnh. Họ sợ cách nhìn mới sẽ xóa nhòa tên tuổi của họ. Một số người trong đó tìm cách cản trở hay phớt lờ cái mới.
Ba thế lực này, thực tế ở đâu cũng có, và tất cả hợp thành “bộ mặt đương thời” của một nền mỹ thuật. Chỉ khác nhau là, nếu ở đâu các vấn đề nghệ thuật được tiếp cận một cách chuyên nghiệp hơn, và tôn trọng các nguyên tắc dân chủ, thì ở đó cái mới có cơ may nảy mầm, phát triển; những người tiên phong có một không gian tồn tại khả dĩ, một ngưỡng an toàn để hoạt động.
Nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại đang bị phân mảnh bởi những thế lực khác nhau đó. Và hầu như không một thế lực nào quan tâm đến nghệ thuật thực sự. Ở đây, “chuyên nghiệp hóa” là chuyện xa vời, còn “cái mới” không chốn nương thân. Thiếu tính chuyên nghiệp các nguyên tắc dân chủ đã không thường xuyên được thực hiện. Người ta có nhiều cách để xuyên tạc, “chụp mũ” nhau.
Tôi học tiếng Việt, đến Việt Nam, tìm hiểu mỹ thuật Việt Nam với mục đích hoàn toàn thực dụng. Ðể khai thác thị trường lâu dài, tôi phải minh bạch về sản phẩm. Cũng như những người buôn bán hàng nông sản Việt Nam, phải góp phần giúp những người nông dân Việt Nam “canh tân đất”, “cải tạo giống”, và “cập nhật hóa các phương pháp kiểm nghiệm sản phẩm”, tôi cũng phải góp phần, ít nhất, là làm cho các thông tin về mỹ thuật Việt Nam trở nên rõ ràng, khả tín. Lợi ích phần nhiều sẽ thuộc về các họa sĩ Việt Nam. Ðiều lạ, qua bao nhiêu năm, tôi thấy nhiều họa sĩ Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở suy nghĩ của “những người bán lẻ”. Trước tương lai của cả nền mỹ thuật, cũng là tương lai của chính họ, họ lại có vẻ như là người ngoài cuộc.
Tôi không tin cuộc thảo luận này thành công. Cũng như không còn niềm tin rằng mỹ thuật Việt Nam sẽ mau khởi sắc.
© Talawas