trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
29.9.2003
Ngô Văn Tao
Đọc “Thời Lý và Hiện Hữu” của Nguyễn Hữu Liêm
 

Nguyễn Hữu Liêm, một trung niên luật sư Việt kiều ở San-Jose, California, năm 1995 phát hành ra một quyển Triết: Thời Lý và Hiện Hữu, dầy 550 trang, gồm 12 chương, 996 đoản tiết. Trên mặt bìa sau có những lời tự giới thiệu như sau :

“Trong tinh thần và truyền thống triết học hệ thống và suy lý của Plotinus với Enneads, Hegel với Encyclopedia và Whitehead với Process and reality, Nguyễn Hữu Liêm cho ra đời Magnum Opus của ông: THỜI LÝ và HIỆN HỮU. Đây là một đề án siêu hình học nhằm kiến tạo một cấu trúc phạm trù cho triết học về chữ Thời và sự Hữu – mà trong đó những tiên đề về Tự Ngã, Ý Thức, Hư Không, Nhân Quả, Khổ Đau, Lịch Sử, Tự Do được tác giả tái phối trí và lý giải trên nền tảng bản thể luận của chữ Thời.



Như một thử nghiệm triết học bằng Việt Ngữ trong nỗ lực tiếp cận với tinh hoa của thời đại và con ngườI, THỜI LÝ và HIỆN HỮU tiếp nối dòng sinh lực lịch sử triết học nhân loại để đặt lại câu hỏi, đưa lên những phương cách suy tưởng mới, tái giả định một nội dung ý nghĩa hiện đại cho những phạm trù khái niệm vốn làm bận tâm triết học xưa và nay”

Những thức giả đã tự nói: “Với những lời tự giới thiệu rộn ràng và hoành tráng như vậy, Nguyễn Hữu Liêm có thể nói được gì?” Riêng tôi thì tự hỏi, tìm hiểu và có những nhận xét như sau.

Thời Lý?

Con người có trực giác tiền niệm (a-priori), trực giác về vũ trụ hiện tượng, vật chất xung quanh: không gian và thời gian. Vũ trụ mà trong đó con người hiện hữu (hiện hữu như quả núi, như cây thông, như chim hót…). Vũ trụ bốn chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều cao và chiều thời. Dĩ nhiên sau thực nghiệm (nghiệm có nghĩa là suy tư nữa) chúng ta đều biết những chiều đó chỉ là tương đối: nếu ta đi trên chuyến tàu bay từ Sài Gòn đi Paris, ba chiều của không gian là ba chiều của toa tàu bay, còn chiều thời: khi toa tàu vừa hạ cánh ta biết “bây giờ là 12 giờ trưa”, khi chiếc đồng hồ ta chỉ 6 giờ chiều mà ta vội vàng đổi lại, và như thế tương đối trong một sát na ta sống lại sáu giờ của cuộc đời…

Theo Platon, ngoài trực giác về vũ trụ hiện tượng, con người còn có trực giác về thế giới lý niệm nữa, vũ trụ nội tâm của tâm tư và ý thức; theo Platon, thế giới lý niệm mới thật là thế giới của con người (Schopenhauer còn nói đối với chúng ta, vũ trụ hiện tượng vật chất chỉ là phản ảnh của thế giới thật này, le monde comme représentation). Về thế giới lý niệm này, các triết gia như đồng nghĩ rằng con người cũng có trực giác tiền niệm, trực giác về Thời, tức là mang sẵn những phạm trù tiền niệm (phạm trù nếu ta dịch, như các triết gia Trung Hoa, chữ catégorie lôgic tiền niệm trong ngôn ngữ của Kant) về sự hiện tại, sự đổi thay, nguyên nhân và kết cấu…Những phạm trù đó, hay nói một cách khác những cơ bản khái niệm (Begriff trong ngôn ngữ của Hegel), mà nếu không có chúng ta không cách gì suy nghiệm về sự hiện hữu của ngã (chính ta) và những hiện vật đối tượng xung quanh.

Vũ trụ hiện tượng và thế giới lý niệm cùng chung một khái niệm căn bản: Thời (Zeit, trong tiếng Đức, ngôn ngữ của những triết gia lớn cận đại). Trong vũ trụ hiện tượng, không có một vật thể nào bất động (trái đất quay, thì quả núi cũng quay), mà di động tức là mỗi từng vật đều có thời tuyến (time-line theo nghĩa của Einstein), quỹ đạo của nó trong vũ trụ hiện tượng “không gian và thời gian”. Còn nói về thế giới lý niệm, tức là nói về sự “hiện hữu” của Người, thì chúng ta có mệnh đề của Descartes: “cogito ergo sum” (je pense donc je suis), triết học Trung Hoa thường dịch là: “Ngã tư cố ngã tại” ; đó là mệnh đề hình nhi thượng học (métaphysique) đặt ngay hiện hữu của con người trong “phạm trù của sinh vật có tư duy”, của ngã suy tư và tồn tại, tiến triển và đổi thay, của ngã với thời mệnh. Tất cả những triết luận bản thể học, từ xưa tới nay (luận về Người: ngã là gì, chủ thể hay khách thể,…ngã đến từ đâu đi về đâu,…) đều luận trong chủ đề: ngã và thời gian, với quá khứ, hiện tại và tương lai.

Triết luận đồ sộ và nổi danh ở thế kỷ thứ hai mươi là tác phẩm: Sein und Zeit của triết gia người Đức M. Heidegger. Bùi Giáng đã từng dịch nhan đề là: Hiện hữu và Thời gian. Triết gia trung hoa Vương Vi Lý thì dịch nhan đề là: Tồn tại dữ thời gian. Heidegger triết luận trong tác phẩm bản thể học đó về sự hiện hữu lẫn sự tồn tại của con người, của ngã (cái ta) trong dòng thời gian. Tác phẩm của Nguyễn Hữu Liêm với nhan đề Thời Lý và Hiện Hữu, người ta phải tưởng có đây một triết luận bản thể học về người, về ngã trong dòng thời gian. Nhưng sự thật là Nguyễn Hữu Liêm với hai chữ Thời Lý không triết luận về Thời, mà đưa ra một thuyết.



Hãy đọc sau đây lời lẽ của Nguyễn Hữu Liêm (đoản tiết số 838):

“Nếu chúng ta có (nếu cần phải có để truyền bá triết học Thời Lý- NVT mạn hiểu) một thánh kinh cho triết học thời lý, thì nó sẽ được bắt đầu: Tự khởi thuỷ, không có gì cả, không có Thời Thể, không có không gian, ngay cả Hư Không cũng vắng mặt. Ở đó, tất cả chỉ là một năng động thuần xác suất, bất động, vô tính, vô thể trong tính lý Ngẫu Nhiên. Xác suất này vận hành trong bóng tối bất định, vô hạn – cho đến một sự tình cờ muôn một, sự Hữu khởi sinh. Đây là sự Sáng đầu tiên cho Hiện Hữu để từ đó, Thời thể và không gian bắt đầu. Khi sự Hữu khởi sinh thì Hư Không cũng bắt đầu như một đối tính của sự Hữu -chiếc bóng nội tại cho cái Có. Sự Hữu khởi đi từ Thời Ý khi Thời thể khởi sinh. Hiện thân của sự Hữu trong Thời Ý là Thời tính. Thời tính là Pháp tính của Thời Ý mà động cơ chuyển biến được phân định qua từng đơn vị tự-Ngã, trong đó có con người. Cá nhân không gì hơn mà là một đơn vị sinh động của ý chí. Từ đó Tự Do là khả thể Đồng Thời của năng động tự-Ngã đối với thiết yếu tính khách quan của Thời Ý. Ta có được Tự Do nếu tự-Ngã có thể Sẽ Là theo trình độ khả thể của Thời Ý. Từ đó, Tự Do là tinh hoa trong cứu cánh Trở Nên cho tự-Ngã.”

Những lời lẽ đã là của một “thánh Kinh”, của một thuyết, chúng ta không nên bàn cãi nó có trong suốt hay không, tự nó hàm chứa mâu thuẫn hay không. Chúng ta hãy tìm hiểu Nguyễn Hữu Liêm muốn nói gì với Thời Lý trong cái nghĩa nhân sinh quan, vũ trụ quan để Nguyễn Hữu Liêm đặt lại vấn đề, phê phán mọi triết lý mọi tôn giáo…Chúng ta hãy theo Nguyễn Hữu Liêm coi Thời Lý và Hiện Hữu như một triết luận về “Triết học Thời Lý”, một triết học với một số mệnh đề sau đây:

  1. “Being chỉ là thuộc tính, predicate, của Becoming “(đoản tiết số 800).

    Câu này, Nguyễn hữu Liêm đã giảng rất dài dòng cái nghĩa của nó: Vì chúng ta trở nên , chúng ta mới hiện hữu.
  2. ” Hiện Hữu = Khát sống” (đoản tiết số 52).
  3. Con người – “tự-Ngã” – hiện hữu, tức là có “ý lực Khát Sống”. Tự-Ngã là ý chí khát sống. Khát sống cũng là ý thức bản thể của tự-Ngã, Trở nên; và ý lực Khát Sống là ý lực đưa tự-Ngã vào tương lai. Tương lai thường chỉ là một “bàn cờ xác suất Hữu/Vô” – tương lai là bất định: ta có thể sẽ thất bại, ta có thể sẽ ốm đau…”Chân lý” của tự-Ngã là lòng “Chiến thắng” để kiến tạo cho tương lai “tính trạng Đồng Thời cho tự-Ngã” : tương lai không còn bất định nữa, Sẽ Là tiếp tục cái gì mà tự-Ngã Đang là. Nên chúng ta có phương trình: “Chân Lý = Quyết thắng” (đoản tiết số 63).

Với những mệnh đề trên, “triết học Thời Lý mang cứu cánh nầy: đánh thức nhân loại về với thực tại Đang Là trong bản chất sinh hữu thường nghiệm nhằm nhắc nhở nhân sinh vươn về Thời Tính Sẽ Là bằng cách Chiến Thắng cõi sống đầy khó khăn, bất thường và xác suất bất định. Tất cả những giá trị lâu dài đều chỉ phát xuất từ ý lực Chiến thắng trong sự sống Đang Là thực tại.” (đoản tiết số 33)

Triết học Thời Lý đặt toàn triệt trọng tâm Nhân Sinh Triết Lý vào “năng lực khát sống” và “ý chí Chiến Thắng”. Với năng lực khát sống, ta không được vọng về quá khứ nữa, vì quá khứ chỉ là cõi của tất cả những gì đã đi qua, đã chết. Ta phải tuyệt đối hướng về tương lai (cõi của Trở Nên), nhất là tương lai mà chúng ta chinh phục với ý chí Chiến Thắng, một tương lai không còn đau khổ, không còn phiền não vì với ý chí Chiến Thắng, ta biến nó thành “chiều dài sinh động của cái cõi ta Đang Là”. “Con người không lo sợ hay (có) hy vọng là con người đã biến (bằng ý chí Chiến Thắng) Hiện Tại thành Tương Lai hay là đã biến Tương Lai vào trong sinh động tính của năng lực ý chí Đang Là” (đoản tiết số 463). Con người – tất cả chúng ta – đều phải như chú học trò với (tương lai) “thời tính chưa-hoàn-tất của mình”. “…Chú bé học trò được điểm cao trong mùa thi cuối năm. Chú bé sinh hiện thưởng thức hương vị Hiện Hữu nhờ vào sự thể chưa-hoàn-tất của chương trình mà chú đang theo đuổi. Chú tranh đấu để hoàn tất cái Sẽ Là của học vấn…Hạnh phúc thay cho chú học trò…, với cái chưa-hoàn-tất tự hữu và nội tại trong động cơ chuyển bánh của ý chí Khát Sống mà chú đang có.” (đoản tiết số 820)

Giá Trị của Triết Học Thời Lý

Trước khi đánh giá triết học Thời Lý của Nguyễn Hữu Liêm, tôi cảm thấy phải minh giải, theo chính tôi được hiểu, một ý nghĩ căn bản của Thời Lý: “..biến Tương Lai vào trong sinh động tính của năng lực ý chí Đang Là”. Với câu văn vẻ đượm Triết, Nguyễn Hữu Liêm đụng tới vấn đề “tương đối của thời gian”. Đối với chú bé học trò, mà Nguyễn Hữu Liêm nói tới trên, một năm học qua thật như không qua vì tất cả tâm trí của chú là lo học thuộc bài, nhớ kỹ những đồ án để giải đáp những bài thi cuối năm…; suốt trong năm, chú không lo chơi, không biết bố mẹ mình tuần này buồn hay vui: một năm qua, ngày hôm nay rồi tới ngày hôm sau, tất cả đều ngừng lại, toàn vẹn trong một sự Đang Là, thuộc kỹ những bài học, nhớ kỹ những đồ án. Tuy nhiên đặt một vấn đề sâu xa như vậy, nói tới năng lực Khát Sống và ý chí Chiến Thắng, đem ra điển hình ở một chú bé học trò chăm chỉ học hành, có lẽ còn đang bị thầy giáo nhồi sọ và lo học như con vẹt nữa, thật có một điều gì bất ổn. Riêng tôi, tôi tự nghĩ nếu muốn điển hình cho năng lực Khát Sống và ý chí Chiến Thắng của triết học Thời Lý, Nguyễn Hữu Liêm đáng lẽ phải nghĩ tới một ví dụ khác thích đáng hơn, chẳng hạn như chuyện thật của một ông già ăn mày ở New York. Có một ông già ăn mày ở New York, ông sinh thời có ý chí Chiến Thắng nhất định trở nên giàu có – có nhiều tiền theo tư duy thông thường của những người thật là Mỹ. Mỗi ngày ông xin bố thí được một xu nào, ông đều bỏ rọ; cần ăn cần mặc, ông biết tìm ra ở chỗ người ta bỏ thừa, hay ở những hội từ thiện. Ông không biết đau, không biết khổ, không biết cô đơn. Ông là hiện sinh của Thời Ý (time-will, từ của NHL), thời gian của ông chỉ có một Thời Tính( time-content), tương lai không bất định, quá khứ cũng không còn, tất cả Thời Thể (time-form) chỉ hiển hiện trong một Thời Quán (a moment): sự trở nên Đang Là, đống tiền của ông mỗi ngày một lớn dần. Rồi một ngày nào cũng phải tới, người ta thấy ông bình thản chết, để xác dưới một gậm cầu, nằm trên một đống giẻ rách mà trong đó ông đã dấu kỹ hàng trăm ngàn dollars Mỹ! Theo triết học Thời Lý, ông ăn mày New York đã sống trọn vẹn đời ông, với một ý chí Chiến thắng, toại nguyện ôm một đống tiền.

Triết học Thời Lý đưa lên như thế một nhân sinh triết lý, một lý thuyết bình phàm bách tính. Nguyễn Hữu Liêm không đặt vấn đề xã hội nhân sinh đạo lý (éthique), và cũng không đặt những câu hỏi hình nhi thượng học (métaphysique), mà các triết gia thường động tới: thế nào mới thật là sống (hiện hữu)?…trở nên cái gì và để làm gì…Một điều chúng ta nên trách nhất có lẽ là điều, dù theo thư mục của Thời Lý và Hiện Hữu, một thư mục gồm hơn 200 tài liệu Tôn Giáo, Triết Lý, Khoa Học, Văn Học kim cổ đông tây, Nguyễn Hữu Liêm không nghĩ viết ra một đề án, một triết luận nghiêm túc của kiến thức và học vấn. Sức mạnh động cơ của Khát Sống và Ý chí Chiến Thắng, từ xưa vẫn là vấn đề ám ảnh những kẻ bình phàm, nhưng cũng là luận đề bận tâm của những triết gia xưa và nay. Đó chính là chủ đề của hai triết gia lớn: Nietzsche (1844-1900) và Sartre (1905-1980) có ảnh hưởng sâu rộng trong văn hoá nhân loại đến tận ngày hôm nay. Nếu nghiêm túc, Nguyễn Hữu Liêm ít nhất phải tìm hiểu và đối chiếu lý thuyết của mình với tư tưởng của hai triết gia này.



Nietzsche không nói tới Ý chí Chiến Thắng mà nêu ra ý niệm: Quyền Lực Ý Chí (the will to power). Nhưng đây là ý chí đi tìm quyền lực để tự giải thoát cho chính mình, đi đến Thượng Nhân (Übermensch). Khi nhân loại đang tự đại chúng hóa (ai cũng bình thường như ai), vô hồn chìm đắm trong máy móc khoa học và kỹ thuật, Thượng Nhân tự cá biệt và thức tỉnh trong cô đơn, tự hỏi những câu hỏi thăng hoa sinh phận làm người. Khi nhân loại càng ngày càng làm chủ thiên nhiên – trên vị hành tinh này, chúa tể của rừng núi, của những con sông, của tất cả những sinh vật xung quanh, chúng ta “đã giết thượng đế rồi”, chúng ta có bao giờ tự hỏi chúng ta có xứng đáng với trách nhiệm đó hay không, hay chỉ là chúng ta đã mất ý thức về cái huyền diệu linh thiêng của sự sống; Thượng nhân biết từ cao nói chúng ta phải nên luôn luôn chờ đón sự Trở Về (the eternal recurrence), để mỗi người chúng ta đặt lại những vấn đề, đi lại cuộc hành trình, hồn nhiên chập chững ra đi, sống những rung cảm mới như những buổi ban đầu, thức tỉnh cao xa hơn nữa, để tất cả là một vòng tròn nhưng mỗi lần một lớn rộng ra với những ước vọng và những hoài bão của một kẻ đã từng trải và đã sống rồi…(Nguyễn Hữu Liêm cũng có nói thời thể, the time-form, của tự-Ngã phải là một vòng tròn vô thuỷ vô chung, nhưng tôi đã không tìm hiểu nổi ý triết học của Nguyễn Hữu Liêm ở trong hình ảnh này.)

Triết học Thuyết Hiện Sinh (existentialisme) của Sartre, nếu không nói tới năng lực Khát Sống và ý chí Chiến thắng thì cũng nói tới tự do tuyết đối của con người sống đời mình: “nên đời mình là trách nhiệm của riêng ta và ta sẽ chinh phục mọi đối tượng để thực hiện đời mình”. Thuyết Hiện Sinh dĩ nhiên có chiều sâu, mà triết học Thời Lý không có; thuyết Hiện Sinh không giản dị đứng lại ở mệnh đề, mà suy luận những hệ quả của nó. Như ta có tự do chọn đời ta, ta cũng có tự do nhìn dưới một khía cạnh xoi mói độc đáo nào đó tất cả những hiện tượng của sự sống xung quanh, và như thế ta có tự do nên ta có trách nhiệm…Thật sự, tự do tuyệt đối là một gánh nặng bắt ta không ngừng suy tư, mà suy tư thì từ cái hạn hẹp, cái thiếu thốn của chính bản thân, ta chỉ càng thấy Đời là bất thường, vô định, giả dối và phi lý. Chính vì vậy, mà nhân vật Roquentin, trong Nausée (Buồn nôn), tiểu thuyết triết lý đầu tay của Sartre, sống những trạng huống hoang mang buồn nôn. Hay một mặt khác, vì ta muốn sống (không đơn thuần như ông ăn mày ở New York), ta nhất định lại muốn là một cái gì: một nhân sĩ trong xã hội, một triết gia, một nhà thơ…, dưới cái nhìn của chính ta và dưới cái nhìn của kẻ khác, nghĩa là ta phải tự chinh phục ta và chinh phục kẻ khác. Tự chinh phục và chinh phục kẻ khác thường mang đến “mauvaise foi” – sự bất chân thành với chính mình và tà ý trong đối xử. Ở khía cạnh này, Sartre còn đi sâu hơn nữa để nhận định rằng khi ta muốn chinh phục kẻ khác, họ như vậy cũng muốn chinh phục lại ta, nhìn ta như kẻ thù, như đối tượng phải hạ xuống và phỉ báng; đây chính là địa ngục ( “L’enfer, c’est les autres” – “Địa ngục là kẻ khác”, đề tài của Huis Clos – Phòng Kín, một vở kịch nổi danh của Sartre).

Tư duy và ngôn ngữ trong “Thời Lý và Hiện Hữu”

Nhắc tới Nietzsche và Sartre như vậy, tôi thật không dám nghĩ chúng ta phải chờ đợi Thời Lý và Hiện Hữu có một chiều sâu nào để chúng ta tất cả phải suy tư; nhưng đã bàn đến Hiện Hữu của bản ngã (tự-Ngã, trong ngôn ngữ của Nguyễn Hữu Liêm), triết học Thời Lý ít nhất phải có một hai câu hỏi thế nào là sống, là hiện hữu trong “phạm trù của nhân sinh“. Ý Chí Chiến Thắng không phải là chỉ đưa chúng ta đi vào tương lai, trở nên cái gì mà chúng ta muốn chúng ta sẽ là. Sẽ là một con người phàm phu trong một thế giới nhỏ bé như cậu học trò cuối năm thi đỗ, hay ông ăn mày giờ đây cũng như trong tương lai nằm trên đống giẻ giấu kỹ một số tiền mỗi ngày một lớn?

Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Liêm cũng có nói tới sự thành tựu của Ý Chí Chiến Thắng trong khoa học. Phải! “Tất cả những giá trị… đều chỉ phát xuất từ ý lực Chiến thắng…” (đoản tiết số 33). Nhân loại có khoa học như ngày nay, là vì chúng ta có ý chí tìm hiểu, ý chí chinh phục thiên nhiên, ý chí chiến thắng những bệnh tật. Vì chúng ta muốn chiến thắng cả cái Chết, nên chúng ta có khoa học để rối đây kéo dài “trăm năm một đời người” ra thành “hai trăm năm một đời người“.

Triết học Thời Lý đặt trọng tâm vào Ý Chí Chiến Thắng, nên có những luận đề căn cơ rất khoa học! Theo Nguyễn Hữu Liêm, người ta phải hiểu thuyết “Big Bang”của tinh-cầu-vũ-trụ-khoa-học gia Hawking, (Astrophysique théoricien Hawking) thì mới thật hiểu “lời thánh kinh của triết học Thời Lý” (xem ở trên); người ta phải biết “xác suất toán pháp” (probability calculus), người ta mới thật hiểu những lời lẽ sau đây: “Hiện Hữu là một mức độ rung cảm của Thời Ý mà hiện thân của nó là trường năng lượng trong cơ thời tạo thành trên bàn cờ xác suất Hữu/Vô” (đoản tiết số 459). Những lời đó làm tôi nhớ những trường hợp khác sau đây. Có một người nói trước mặt tôi rằng, đối với anh tất cả nghệ thuật, văn thơ là tương đối, mà những ai muốn hiểu anh nói gì, phải biết thế nào là thuyết tương đối (relativity theory) của Einstein. Rồi cũng có những triết gia Việt Nam của xã hội chủ nghĩa đã từng nói rằng: “Muốn biết cái vĩ đại của vĩ nhân dân tộc mà chúng ta có, thì phải biết triết lý xã hội chủ nghĩa Marx-Lenin”.

Nếu ta hỏikỹ, thì hoá ra nhà tương-đối-lý-thuyết gia của chúng ta không có một chút kiến thức toán học nào để mà biết một cách sơ bộ thôi thuyết tương đối của Einstein! Nhưng nếu ta hỏi lại những triết gia xã hội chủ nghĩa trên, thì họ sẵn sàng đưa ra hàng trăm văn bản của họ ca ngợi từng cử chỉ, từng câu tuyên ngôn, từng ý thơ…của bậc vĩ nhân, sáo luận trong một tư duy “xã hội chủ nghĩa ý thức hệ”. Nguyễn Hữu Liêm viết Thời Lý và Hiện Hữu trên 500 trang sách, một phần để dài dòng tô điểm cho thuyết Thời Lý, một phần để nhận định về các tôn giáo, triết học, học thuyết cổ kim đông tây. Tất cả trong cái nhìn khoa học, lý luận của triết học Thời Lý! Ở Nguyễn Hữu Liêm cũng có một tư duy đơn phuơng, tư duy của nền văn hoá “ý chí thành công, nhất định phải làm một cái gì” ở Mỹ Châu Hiệp Chủng Quốc; toàn bộ Thời Lý và Hiện Hữu là những đoạn văn bay bổng như thao thao bất tuyệt, về những đề tài có thể nhắc đi và nhắc lại, nhưng đoạn sau không làm sáng tỏ hay mang gì mới cho đoạn trước, một triết luận không có hệ thống, um tùm như để tỏ cho chính mình và cho người khác cái khả năng lý thuyết và cái học thức rộng lớn của ta, triết gia có tầm cỡ.

Có một tư duy như vậy, kèm theo cái nhìn một chiều của triết học Thời Lý, Nguyễn Hữu Liêm phê phán tất cả những tôn giáo và những lý thuyết khác(vì không khoa học thực tiễn, vì không có có triết học Thời Lý: Khát Sống và Chiến Thắng), cùng với những kết luận hạn hẹp, có khi sai lệch nữa, mà chúng ta không thể chấp nhận được. Tôi trong bài bình luận này không có cách gì – và dù có làm nữa, cũng chỉ là một nỗ lực không ích lợi gì cho ai – đem ra từng nhận định một của Nguyễn Hữu Liêm về Cơ Đốc Giáo, về Ấn Độ giáo, về Hegel, về Schelling…, để phân tích và phê phán. Tôi chỉ đưa ra hai tỉ dụ mà người Việt Nam chúng ta, chắc ai cũng cảm nhận được vấn đề.

1. Phật giáo

Đối với Phật giáo, tôn giáo của người Á Đông mà văn minh và văn hóa chưa bao giờ đặt trọng yếu trên nền tảng khoa học Ý Chí Chiến Thắng, Nguyễn Hữu Liêm có những nhận định sau đây (đoản tiết số 759-60-61-62) mà tôi chỉ có thể trích trong khuôn khổ của bài bình luận này, nhưng tôi dám tin rằng dù như thế tôi đã không xuyên tạc tác giả và trái lại giúp cho chính tôi và những độc giả nhận rõ Nguyễn Hữu Liêm muốn nói gì:



“Năng động tự ngã (ý chí chiến thắng) của nhân loại, nhất là của con người Á Đông, bị đày đoạ bởi gánh nặng của lịch sử Đã Là…Sinh nghiệm và lo sợ từ Quá Khứ Đã Là là nguồn gốc của tác hành…



Triết học Phật Giáo (tôn giáo của người Á Đông) khởi đi từ sự phủ nhận năng động và thực tính tự-Ngã…Đây là vùng lâỳ của truyền thống triết học Ấn Độ mà Phật Giáo là hậu thân, hay là cao điểm của lịch sử phủ định luận…Sinh hiện, từ đó, là một mối đe doạ hãi hùng vì khả thể cấu tạo nghiệp căn quá cao (Sống là tạo nghiệp quả, theo Phật Giáo). Chỉ một thời khắc vọng tâm (quên mình để chìm đắm trong cuộc sống) mà cá nhân phải trải qua bao ngàn kiếp luân hồi nhằm trả nợ vọng động đó…



Phật Giáo khởi đi bằng bước chân lộn ngược trên căn bản Thời Tính: khả thể giải thoát được quyết định bằng năng ý phủ nhận Quá Khứ Đã Là…



(Theo triết học Phật Giáo) Ta chỉ có thể là Ta nếu ta bây giờ và trong quá khứ được giải hoá nhằm tìm về cái không thể nghĩ bàn – cái Không-Ta. Cái không còn ta nay trở nên chủ đích cho sinh hiện. Năng thức Khát Sống và Chiến Thắng chỉ là gốc rễ tiêu cực cho căn nghiệp (theo triết học Phật Giáo)…

Phật giáo, chung lại, là một truyền thống triết học vĩ đại như/vì là một sai lầm vĩ đại. Ôi, Phật Giáo là một sai lầm huy hoàng”.

Nguyễn Hữu Liêm thật ra còn dài dòng gấp mười mấy lần nữa để phân tích chỉ trích Phật giáo và đi đến kết luận bằng những triết ngôn trên. Gần như toàn bộ viết ra dựa trên những lời bình luận của những triết gia Âu Mỹ, những lời bình luận của những đầu óc trí thức, nhưng cũng là của những người có thể chưa bao giờ tham quan một cảnh chùa, đọc một lời kinh hay suy tư một công án của Thiền, và chỉ đứng vòng ngoài, không thật tìm hiểu tâm linh Á Đông với bản thể học, nhân sinh nghiệp…trong Đạo lý Phật giáo.

2. Nguyễn Du và lịch sử Việt Nam

Ở đây nữa, tôi không có cách gì nhắc lại từng chi tiết những nhận định của Nguyễn Hữu Liêm về Nguyễn Du và lịch sử văn hoá Việt Nam (quan niệm tự do, năng lực Khát Sống, chữ thời và chữ mệnh trong truyện Kiều vv..) Nhưng dù sao chỉ trích lại những lời lẽ văn vẻ bay bổng, tổng kết sau đây, theo tôi nghĩ chúng ta đã có thể dựa trên đó nghiêm khắc nghĩ gì về những suy luận đó.

“Với cấu trúc ngôn ngữ, vần điệu và nội dung ý nghĩa của truyện Kiều, Nguyễn Du xô ý chí Khát Sống của dân tộc Việt té nhào vào thể vần “bằng” liệt sức của thể thơ lục bát….Ngôn ngữ là nguyên nhân kiến tạo nên văn hoá, văn minh, và lịch sử bằng chức năng kiến tạo ý chí tự-Ngã cho cá nhân…(Và nội dung của Truyện Kiều là) Kiều không có ý lực kiến tạo Thời tính Sẽ Là vào Tương Lai vì Tương Lai của Kiều là Quá Khứ Nghiệp Căn – cái đã là đầy bóng tối; (Kiều) không hề chủ ý,”will”, sáng tạo Sinh Mệnh trong khả thể tự do cho chính mình...Từ nội dung câu chuyện như thế, ngôn ngữ thi ca Truyện Kiều, nhất là với vần lục bát, Nguyễn Du đã bịt mắt ý chí dân Việt như là một cách thế đi đến với khách quan và Tương Lai bằng cách tự xé nát trái tim mình để khóc trong tiếng ca đầu hàng bi ai, tủi thân, tội nghiệp.

Lịch sử Việt Nam từ Nguyễn Du, từ đó, bắt đầu bằng tiếng khóc.



Từ Truyện Kiều, Việt Nam bị lún sâu vào vũng lầy tiêu cực, tự phủ định cùng với Phật Giáo – để rồi hệ quả là những phương diện tích cực trong tinh hoa triết học Phật Giáo, dù hiếm hoi, cũng bị bỏ rơi. Tất cả rồi cũng bị phủ định, kể cả Phật Giáo, Khổng Giáo, văn hoá bình dân của nông thôn Việt Nam, khi năng lực sinh tồn của dân tộc được khởi đi từ ý chí bi ai.



Từ khoảng trống đầy Hư Không đó…, hậu quả…là bệnh lý Tây Phuơng bước vào, Thiên chúa Giáo La Mã, một năng lực tiêu cực, nô lệ tính…và thực dân bạo lực Pháp, một bệnh lý khác…Với bản chất bi thảm của Kiều đã trở nên nền tảng cho năng lực ý chí của dân tộc thì bệnh lý thực dân bạo lực và Thiên Chúa Giáo La mã đã trở thành một hệ quả đầy thiết yếu tính – những đòn roi đánh thức những con người mang nặng ảnh hưởng triết học “Vô Ngã”, “Vô Vi”, Tánh Không”, “Nghiệp Căn”, “Định Mệnh”. Thà là chuyển giao năng lực tự-Ngã cho một đối thể ngoại thân, nhưng vững chắc, như là khái niệm “Đức Chúa Trời”, còn hơn là phủ định chính mình để tìm ra cõi Không nội tại hư ảo!…”

(trích từ đoản tiết số 914-923)

Như tôi đã nghĩ, tôi để độc giả tự suy xét phê phán tư tuởng và hình thức của những lời lẽ trên. Thêm ra, tôi có một cảm nghĩ, rằng Nguyễn Hữu Liêm như không có khái niệm gì về nghệ thuật, đặc biệt về “khả tính” tích cực thăng hoa của những tác phẩm chân chính nghệ thuật nói chung hay văn nghệ nói riêng, thăng hoa và giải thoát con người dù tác phẩm có mang hình thức cổ điển (như thể lục bát của Truyện Kiều hay màu sắc đơn thuần nghèo nàn của những bức sơn dầu Bùi Xuân Phái ), với những đề tài dù bi thảm tối đen. Đặc biệt nữa, Nguyễn Hữu Liêm nhấn mạnh về ngôn ngữ của Truyện Kiều, nhưng tôi tự hỏi Nguyễn Hữu Liêm bây giờ, tám năm sau khi phát hành Thời Lý và Hiện Hữu, có can đảm không suy nghiệm lại ngôn ngữ của mình trong tất cả những lời văn mà tôi đã trích, hay nói rộng ra, toàn diện ngôn ngữ trong Magnum opus: Thời Lý và Hiện Hữu này. Đó chính là vấn đề để tôi đưa ra vài nhận xét dưới đây.

Chính Nguyễn Hữu Liêm nhận định: “Nói theo tinh thần triết học ngôn ngữ của Merleau-Ponty thì ngôn ngữ là một cách thế tách rời một nội dung ý nghĩa đặc thù ra khỏi một tổng thể bất phân định” (đoản tiết số 916). Một lời chính xác nhưng không nói gì hơn là ngôn ngữ là phương tiện để trình bày tư tuởng. Mà tư tưởng là phản ảnh toàn diện tác giả, tư duy, kiến thức và học vấn. Ngôn ngữ cũng sẽ phản ảnh như vậy và có lẽ còn hơn nữa trong cái tính cách bề ngoài vô tư của nó.

Nhưng ở trong ngôn ngữ lại có vấn đề tài nghệ nữa. Những triết gia lớn như Nietzsche, Heidegger đều là những văn sĩ đại tài. Tài nghệ trong ngôn ngữ của Truyện Kiều thể hiện ngay ở trong những câu thơ lục bát bình thường, phảng phất bình dân ca dao; không khác gì những nét vẽ của những hoạ sĩ bậc thầy như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng mang nặng một sức mạnh ẩn kín, nhưng những nét vẽ đấy cũng có thể có trên bức hoạ của một hoạ sĩ non nớt, dù chìm đắm trong màu sắc hay đề tài giật gân, thời thượng cũng chỉ phản ảnh cái chưa đạt của hoạ sĩ này.

Tài nghệ, nội dung tư tưởng là thành quả của một sự hun đúc lâu dài. Một sự tận tụy suy tư, một quá trình học hỏi, tìm hiểu, nghi vấn…Cho đến nỗi một câu, một chữ viết ra, là viết ra từ sự thấu triệt của tư duy, từ đáy lòng, từ tiềm thức; nếu như vậy độc giả sẽ biết, mà nếu không như vậy độc giả rồi cũng sẽ biết. Kant, triết gia người Đức( 1724-1804), sau mấy chục năm suy tư, giảng dậy triết học, năm 57 tuổi mới ra magnum opus của ông “Kritik der reinen Vernunft “, một triết luận về lý thức của con người, mở cửa cả một chân trời mới cho triết học.

Chuyện “thần đồng của thi ca”, chuyện “nhà thơ trẻ lớn” thường là những chuyện phù phiếm; còn nói gì nữa về chuyện “thần đồng của triết học” bỗng đưa ra một lý thuyết định làm chấn động nhân loại…Ở đây, tôi chỉ đặt vấn đề Nguyễn Hữu Liêm có đủ từ ngữ Việt Nam hay không để đưa ra những vấn đề cao siêu như “Thời Ý” ( tiềm lực của Hiện Hữu và tự-Ngã), “Hiện Hữu và Bản Thể của tự-Ngã”…, nhất là khi trên 200 tài liệu trong thư mục của Thời Lý và Hiện Hữu gần như toàn là bằng tiếng Anh, ngay cả Kim Vân Kiều cũng là bản dịch ra Anh ngữ, chỉ vỏn vẹn có bốn hay năm tài liệu bằng Việt ngữ, với duy nhất một tư liệu: Chữ Thời của Kim Định, “phác hoạ sơ lược những vấn đề triết học liên quan đến Thời tính” (Lời nói đầu của Thời Lý và Hiện Hữu).



Tôi phải công nhận Nguyễn Hữu Liêm là “người đọc sách”, có một gánh học vấn trí thức, có khả năng lý luận. Nhưng với bối cảnh văn học Việt Nam, rất sơ bộ – trong cái nghĩa suy tưởng và ngôn ngữ – về những vấn đề triết học ở ngoài vòng Tam Giáo Khổng-Lão-Phật, Nguyễn Hữu Liêm đã phải tự tạo cho mình trong tiếng Việt một ngôn ngữ triết học. Với một hành trang Hán Việt thiếu sót, Nguyễn Hữu Liêm làm sao thành công được! Thời Lý và Hiện Hữu chỉ là cảnh múa kiếm chém nước. Tôi tiếc rằng giá Nguyễn Hữu Liêm biết tự dừng lại ở một hai điểm như “quan điểm Siêu nhân của Phật Giáo” hay “Ý thức Tự Do trong Schelling” (những vấn đề đặt ra trong Thời Lý và Hiện Hữu) suy tư sâu xa hơn nữa, dựa trên những bàn luận của người và đi tận cùng lý thức của mình, để viết những tản văn (essay) lý luận thận trọng nghiêm túc, thì Nguyễn Hữu Liêm sẽ đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng một lâu đài ngôn ngữ Việt Nam trong triết học, cũng như để sửa soạn cho chính mình viết rồi đây một công trình lý thuyết Thời Lý và Hiện Hữu thật có ý nghĩa.

Để cụ thể hoá những nhận định của tôi, những nhận định có tính cách phê phán về sự thiếu sót và cầu kỳ lệch lạc trong ngôn ngữ của Nguyễn Hữu Liêm, tôi chỉ đưa ra đây hai tỉ dụ tương đối chủ chốt.

1) từ: Phạm Trù

Phạm trù là chữ, đầu tiên ở Trung Văn, sau rồi cũng nằm trong Hán Việt, để dịch chữ Catégorie của Pháp ngữ, nhưng thật của chung tất cả các tiếng Âu Mỹ, vì nó chỉ là chữ phiên âm từ một từ Hy Lạp (của Aristote?) với cái nghĩa rõ ràng là: căn bản khái niệm. Kant dùng chữ catégorie khi nói đến mười hai căn bản khái niệm lôgic trong lý thuyết của mình, như nguyên nhân-kết cấu, đa dạng, phủ định…Tuy nhiên các triết gia gần đây, ngay cả Hegel, mà trọng tâm triết lý là vấn đề “khái niệm” trong lý thức của con người, tránh dùng đến chữ catégorie với nghĩa trên (căn bản khái niệm).

Nhưng trong ngôn ngữ thông thuờng, trong triết học và đặc biệt trong toán học, chữ catégorie (phạm trù) vẫn luôn luôn dùng (trong cái nghĩa hàng loại). Ví dụ một câu này rất triết: “bàn tới Người là suy luận tới phạm trù của những sinh vật biết suy tư” . Triết gia đã nghĩ rằng nói “tập hợp của tất cả những sinh vật biết suy tư” có một cái gì bất ổn. Toán học lại còn rõ ràng nữa, toán học chứng minh rằng câu này “Tập hợp của tất cả những đầu óc (bộ máy) biết phân biệt phải và trái”, thật cũng không khác gì nói “tập hợp của tất cả những tập hợp có hai phần tử trắng và đen”, tức là dùng đến câu “tập hợp của tất cả những tập hợp” sẽ đưa đến mâu thuẫn trong lôgic thông thường, nên người ta chỉ có quyền nói “Phạm trù của tất cả những đầu óc biết phân biệt phải và trái”.

Nguyễn Hữu Liêm trái lại luôn luôn dùng chữ phạm trù trong rất nhiều trường hợp, có thể nói một cách lạm phát nữa, trong những từ ngữ như: cõi phạm trù, cấu trúc phạm trù, phạm trù khái niệm, căn bản phạm trù của khái niệm, tỉ như trong đoản tiết số 466: “Hạnh phúc là một phạm trù khái niệm về một bản chất rung cảm nội tại…” !!! (một phạm trù khái niệm = một căn bản khái niệm khái niệm?). Tôi bắt buộc phải tự hỏi Nguyễn Hữu Liêm muốn nói gì với chữ phạm trù, ở ngoài hai ý nghĩa đã cố định trên, hay chỉ là dùng nó một cách trái nghĩa và không suy tư.

2) từ: Thể

Theo Hán Việt từ điển, thể là cái gì có hình thức, có khối lượng… như vật thể, cái cây hay hòn đá, như thân thể của súc vật. Nguyễn Hữu Liêm luôn luôn dùng nó đặc biệt ở trong hai cụm từ này: Thời thể và Khả thể tự do. Ghép với chữ thời, trong triết học Thời Lý, Nguyễn Hữu Liêm còn có những từ đôi: Thời Ý, Thời Tính, Thời Quán, nhưng tuyệt đối không có từ “Thời gian”, có lẽ để độc đáo triết học của mình; nên đến khi phải nói tới chuyện thông thường về thời gian, như trong câu “thời gian của đời người là trăm năm”, Nguyễn Hữu Liêm sẽ nói chiều dài thời thể. Tôi không có khả năng thật hiểu Nguyễn Hữu Liêm muốn nói gì với thời thể, tôi chỉ có thể ước đoán Nguyễn Hữu Liêm định nhấn mạnh bằng chữ đó tới “ý thức tương đối của Thời” (tỉ dụ trong câu: “chúng ta mỗi người cũng chỉ có một Thời”). Nhưng dù sao trong tất cả những từ đôi của Nguyễn Hữu Liêm ghép với chữ Thời, từ Thời thể là tuyệt đối nghịch lý, vì gợi cho chúng ta nghĩ Thời là một vật thể, với ý chí Chiến Thắng ta có thể mang theo hay bỏ lại, nắn bóp nó thành dài thành ngắn, biến nó thành một cây gậy hay một vòng tròn…Về Tự Do, Nguyễn Hữu Liêm có rất nhiều quan điểm nhiều khi mâu thuẫn với nhau nữa, mà chúng ta không bàn ở đây, tuy nhiên có một quan điểm mà tôi tìm ra được trong rừng chữ, một quan điểm theo ý tôi cắt nghĩa được tại sao có cụm từ một “Khả thể Tự Do” (nôm na từng chữ: một tự do-vật-có thể có): Tự Do là “the becoming of possibilities”(sự trở nên của những gì có thể có) để khai sáng Thời tính (time-content) Sẽ Là cho cảm nhận tự-Ngã (đoản tiết số 801-802). Trong sự chuyển động của Thời tính, mỗi Thời quán (a moment) sinh hữu là một khả thể Tự Do khi cánh cửa Cơ Thời từ bàn cờ Hữu/Vô đón nhận hay khép chặt nội dung Thời tính cho tự-Ngã.



Tôi để bạn đọc dựa theo những lời lẽ trên đây nhận xét chữ Khả thể Tự Do có một ý nghĩa gì thích đáng hay không. Riêng tôi, tôi tự nghĩ nếu tôi nói với con thú bị bắt bỏ chuồng: “Ta thả mày ra, cho mày tự do sống trong đồng nội”, Nguyễn Hữu Liêm trong trường hợp đó có lẽ sẽ nói: “Ta thả mày ra, cho mày một khả thể Tự Do, giây phút sau mày sẽ có thể hay không có thể sống trong đồng nội”.

“Đường Rừng” của Heidegger

Nguyễn Hữu Liêm chắc đã viết một mạch Thời Lý và Hiện Hữu. Một khả năng đáng chú ý. Một ý chí Chiến Thắng cũng lạ. Bút mực cứ trào tuôn ra trên giấy trắng để nói nhiều, nói hết, nói như “Sông cồn mùa lũ”, như “Biển động”, như “Vỡ bờ” …Nhưng phải chăng đây là một hiện tượng của thời đại, hay của riêng xã hội Việt Nam bây giờ mà tôi gần gũi, mà tôi biết? Những văn nghệ sĩ, những văn học gia nhiều khi không phải vì vấn đề sinh sống mà vẫn vội vã tranh đấu viết ra một tập thơ, một bút ký, một quyển truyện lịch sử triết lý nửa mùa…, viết để có mặt trong chợ đời, để chứng minh rằng “tôi cũng sáng tác, tôi cũng suy tư”. Chúng ta hầu như không còn biết thế nào là từ tốn thận trọng, lặng lẽ trầm tư suy nghĩ, chúng ta quay cuồng trong cuộc sống văn minh vật chất hiện tại, cuộc sống không chủ định, chỉ cốt là thành công (nghề nghiệp hay tiền tài), có một chút danh hão với đời.

Tuy nhiên con người nghệ sĩ, con người triết gia, mà chúng ta ai cũng cưu mang trong thâm tâm, là con người đi lang thang trên “con đường rừng”, der Waldweg của Heidegger, con đường mà người nghệ sĩ hay triết gia phải mở, hay theo những vết mòn đã có trong khu rừng của cuộc đời. Họ có thể sáng tác, để lại một cái gì nhưng họ biết đó chỉ là dấu chân, vết mòn mà rừng đời chắc rồi đây sẽ phủ kín, dấu vết của những bước chân lại ra đi. Người nghệ sĩ hay triết gia biết rằng thi ca, sự thật là một cái gì lấp lánh ở chân trời kia, ở tận cuối khu rừng…

Có thể nào chăng chúng ta đang sống trong một xã hội của toàn những người già. Tôi không muốn nói chúng ta già vì chúng ta quá tụổi (tuổi tác chỉ là một chuyện tương đối!); chúng ta già vì chúng ta giết con người nghệ sĩ, triết gia mà chúng ta có trong chúng ta, vì chúng ta vội có một thành kiến, thành kiến của sự hiểu biết hời hợt hay của cái biết một chiều chuyên nghiệp, và có lẽ nhất vì chúng ta vội đeo mặt nạ (mauvaise foi cuả Sartre) của nhân sĩ, tư tưởng gia, nhà thơ…Chúng ta khoá mình trong một căn phòng, một thế giới nhỏ hẹp, trang trí với những chùm hoa bằng nhựa, với những tấm tranh sao chép. Chúng ta tự lẩm bẩm để phá vỡ sự lặng lẽ, không cần biết có ai nghe, và chính chúng ta cũng không tự nghe nữa, vì đã tự nghe thì cuộc độc thoại của chúng ta đã là một cuộc đàm thoại, mà đàm thoại tức là ta tự đặt những nghi vấn. Đó là điều chúng ta không muốn; chúng ta ngay cả không muốn mở cửa sổ của phòng kín, vì chúng ta sợ lạnh, sợ gió lùa. Chúng ta không còn sức sống để hồn nhiên nghe tiếng gọi của thiên nhiên. Chúng ta không còn có thể đi lang thang nữa trong đồng nội để chợt nghe chim hót, để chợt rung cảm khi thấy ráng chiều vàng đỏ mặt nước chảy của dòng sông…

tháng 7/ 2003

© 2003 talawas

 
© talawas 2026