Nguyễn Lương Ba
Nguyễn Hữu Hồng Minh (NHHM), một nhà thơ trẻ (sinh năm 1972) ở Việt Nam đang được bàn đến với một số bài viết của nhiều tác giả, xem ông như một nhà thơ triết lý siêu hình. Khen có, chê có. Và mới đây, cũng trên diễn đàn talawas này, tác giả Phạm Công Huy (PCH) viết bài Từ cây liễu lãng mạn đến cây liễu siêu hình bênh vực NHHM và đả kích ông Nguyễn Đăng Thường (NÐT) cũng trên quan điểm về thơ của tác giả tập thơ Chất Trụ 1. Bài viết này đã mang đến một không khí tranh luận gay gắt tập trung vào cách lý giải thơ của NHHM. Ông PCH còn nêu lên những đề mục để mở rộng cuộc tranh luận với ông NÐT. Tôi nghĩ, trước khi có một cuộc tranh luận như vậy, hãy đọc xem, xác định mức độ đứng đắn, đáng tin cậy của cuộc tranh luận nhằm thảo luận trực tiếp vào đề tài, và tôi muốn phân tích thêm về bài viết Từ cây liễu lãng mạn đến cây liễu siêu hình của ông PCH.
Ông Phạm Công Huy viết “Trong bài ‘Những Từ Lang Thang’ khi trích dẫn câu ‘Thi sĩ với hạt giống thơ / Gặt hái mùa màng nhân loại’, ông Nguyễn Ðăng Thường đã khiêu khích (không rõ với động cơ gì?): ‘Ðã từng là giấc mơ của các nhà thơ cộng sản’. Tại sao cứ phải là nhà thơ Cộng sản? Một người làm nghệ thuật đích thực thì có quyền mơ gặt được những mùa màng mới cho riêng mình, hay theo ông chỉ có nhà văn Cộng sản mới mơ gặt được những mùa màng văn chương còn tất cả các nhà văn, nhà thơ thuộc các trường phái, trào lưu, các hệ tư tưởng khác không có ước mơ và khát khao chính đáng này? Hoặc ngay chính bản thân ông, nhà thơ Nguyễn Ðăng Thường, chẳng một lần mơ điều đó?“
Qua phần trích dẫn trên, một điều thấy rất rõ là ông PCH đã bỏ đi chữ “nhân loại” của bài thơ và thay thế bằng chữ “văn chương”. Mùa màng nhân loại ông đã đổi thành mùa màng văn chương. Chưa nói về ý nghĩa khác nhau của các từ này, đây là một lối lập luận thiếu ngay thẳng để từ đó ông đả kích lập luận của ông NÐT. Ông NÐT đã có lý của ông khi cho rằng “đã từng là giấc mơ của các nhà thơ cộng sản” trong ý của câu thơ Thi sĩ với hạt giống thơ / Gặt hái mùa màng nhân loại. Gieo xuống một hạt giống thơ, rồi đi gặt mùa màng của cả loài người (nhân loại) chứ không phải mùa màng cho riêng mình như ông PCH đã viết.
Câu thơ mang ẩn ngữ làm người ta liên hệ đến khát vọng biến thế giới thành một xã hội đại đồng vô giai cấp.Và hạt giống gieo xuống là hạt giống cộng sản. Mùa màng nhân loại bao gồm nhiều thành quả: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Vì thế không thể nào hiểu mùa màng nhân loại như là mùa màng văn chương. Thật ra khi đọc hai câu thơ này, ta cần phải đọc nguyên cả bài thơ, tôi sẽ phân tích theo nhãn quan tâm linh một số câu trong bài Những từ lang thang của NHHM.
Ta, cái mỏ neo thời gian ném vào lòng biển
Trơ khẳng, trụi trần, vô vị – Ta là Từ
Mang chứa những con sóng loạn
Tìm mãi những bãi bờ cảm giác vô tận vô biên
Ta không làm ra Từ, bởi nó là thứ hạt giống
Thượng đế gieo trên cánh đồng thân thể
Một đặc ân nào đó, ta lấy ra –
Cây nói bừng nở
Thi sĩ với hạt giống thơ –
Gặt hái mùa màng nhân loại
Ta chết trong ánh sáng khó hiểu
của một từ. Như những mẫu tự
bị tháo rời (M, I)
mất dần nghĩa (N, H)
Khi mất những con dấu (/ . ? ~)
thậm chí với tên của ta,
ta cũng chẳng biết giấu mình vào đâu?
Ta nhặt những từ lang thang trong vô biên,
ánh sáng của nó, tất nhiên,
sẽ dựng nên bài thơ mù lòa
Ngày tháng mài vẹt ta như một Từ bị mài mòn
vì sử dụng quá nhiều,
cuối cùng chính nó bị đẩy ra xa, xa mãi,
đến lúc vuột mất chỗ đứng
trong cộng đồng Ngôn ngữ
Em tìm thấy ta theo một nghĩa đã chết – Một từ loại
Bài thơ có thể bị ảnh hưởng bởi các pháp môn Thiền Ðịnh. Ta là Từ / mang chứa những cơn sóng loạn. Từ gì? Từ ở đây là Tham, Sân, Si, lục căn, lục trần, luôn luôn làm cho con người vọng động, khổ đau, loạn tâm. Ta không làm ra Từ / bởi nó là thứ hạt giống Thượng Ðế gieo trên cánh đồng thân thể. Từ của Thượng Ðế là những câu Trì Chú hay Lục Tự Di Ðà (Nam Mô A Di Ðà Phật) tùy theo pháp môn tu tập. Nguyễn Hữu Hồng Minh không phải là Từ này vì ông đang tu tập. Ta thấy rõ khi ông nói câu tiếp theo Một đặc ân nào đó / ta lấy ra – Cây nói bừng nở. Khi nói đến thế giới tâm linh là đi vào một thế giới huyền bí, linh thiêng mang tính mặc khải. Bước vào thế giới siêu hình không là sự thắc mắc về vũ trụ mà là thắc mắc về con người. Vũ trụ của thế giới tâm linh không là ngôi sao, mặt trăng, mặt trời mà là Niết Bàn, Thiên Ðàng, Ðịa Ngục. Có hay không? Con người khi chết rồi phần hồn đi đâu? Có hay không? Trong các pháp môn Thiền, có pháp môn tu tập để xuất hồn. Họ tin rằng nếu tu tập đúng phương pháp, phần hồn có thể thoát ra được cái thân xác giả tạm này để vào cõi Trên tu tập không còn phải chịu kiếp luân hồi. Khi nói đến siêu hình, chúng ta phải mở cho được các khái niệm và một trong những cách để tiếp cận là phương pháp Hành Thiền.
Và để tìm hiểu thêm cũng cần đi sâu vào một phương pháp thực hành Thiền. Ðây là pháp Thiền Vô Vi rất được nhiều người theo học tại Việt Nam trước 75 (một pháp môn tu hành nhưng đã bị cấm, nay đang có khuynh hướng tu tập trở lại).
Hành giả thức dậy nửa đêm giờ Tý (giờ âm dương hợp nhất), xây mặt về hướng Nam (hướng Hoả), ngồi thẳng lưng, xếp bằng (không kiết già), hai tay buông thỏng đặt hai bên đùi (không bắt ấn). Ngậm miệng, răng kề răng, lưỡi co lên răng hàm trên. Nhắm mắt nhìn thẳng vào trước trán giữa hai chân mày. Niệm trong trí tập trung trên đỉnh đầu: Nam-Mô-A-Di-Ðà-Phật (gọi là Lục Tự Di Ðà). Niệm liên tục, đều, chậm rãi. Khi định vị xong hành giả làm ba động tác tuần tự:
-
Soi Hồn: hai ngón cái của hai tay bịt kín hai lỗ tai, hai ngón trỏ chân hai cái gân ở hai bên màng tang và hai ngón giữa chận hai bên mí mắt kéo ra. Niệm Lục Tự Di Ðà ở trên đỉnh đầu và tập trung nhìn thẳng vào trước trán.Trong 5 hoặc 10 phút (hoặc càng lâu càng tốt), hành giả bị mỏi tay thì chuyển qua động tác thứ hai:
- Pháp Luân Thường Chuyển: Bỏ tay xuống đặt hai bên đùi. Vẫn nhắm mắt, niệm Lục Tự trên đỉnh đầu và nhìn thẳng trước trán. Hít vào thật sâu, bụng nở ra thật lớn (không phải ngực) rồi thở ra thật dài, bụng hóp vào đẩy trược khí từ trong ra ngoài (gọi là khử trược lưu thanh). Làm như thế khoảng 20 lần (càng nhiều càng tốt). Chỉ riêng pháp này rất được nhiều người áp dụng giúp thanh lọc bản thể, tăng cường sức khỏe. Xong đến bước thứ ba:
- Thiền Ðịnh: Hành giả ngồi yên vị, thở bình thường, thẳng lưng, hai tay thỏng xuống đặt hai bên đùi, luôn luôn nhắm mắt, ngậm miệng răng kề răng, lưỡi co với răng hàm trên giúp thần khí không bị phân tán. Niệm Lục Tự Di Ðà trên đỉnh đầu. Mắt nhìn trước trán (giữa hai chân mày). Niệm liên tục, đều, chậm. Ðến khi mỏi quá, bị tê chân (mới đầu trung bình khoảng nửa tiếng) thì thôi, chuyển qua bước thứ tư:
- Xã Thiền: Hai tay xoa vào nhau cho thật nóng rồi vuốt mặt, xoa hai lỗ tai, kéo dài hai dái tai rồi lại xoa tay, làm như thế ba lần. Xong rồi nằm xuống ngủ tiếp. Hành Thiền mỗi đêm, giữ tâm thanh tịnh, tinh tấn tu hành (nhiều tháng nhiều năm), tùy theo căn cơ của mỗi người, đến một lúc hành giả khi niệm Lục Tự Di Ðà ở trên đỉnh đầu sẽ thấy trên đỉnh đầu co rút như có một luồng khí điển rút lên rút xuống (gọi là Thanh Khí Ðiển) và trước trán xuất lộ ánh sáng. Càng tinh tấn ngồi Thiền, Thanh Khí Ðiển càng tích tụ, rút mạnh từ trên xuống và ánh sáng ở trước trán càng ngày càng sáng hơn mới đầu lờ mờ lãng vãng sau sẽ tụ như một viên ngọc tròn sáng rực gọi là Ngọc Xá Lợi Phật. Viên ngọc đủ công năng tu tập sẽ xuất ra. Ðó là phần Hồn sẽ nối kết với phần Xác qua luồng Thanh Khí Ðiển ở trên đỉnh đầu. Người tu tinh tấn, phần Hồn sẽ được dạy Ðạo thêm ở Cõi Trên không còn phải đầu thai chịu kiếp luân hồi cho đến khi từ bỏ cái xác này.
Ðây là phần nghiên cứu qua lý thuyết. Tu cả đời người và tùy theo căn cơ của mỗi người để có kết quả khác nhau, mau chậm, cao thấp. Và phải có Minh Sư (người đã ngộ pháp truyền Ðạo) hướng dẫn tu tập để hành.
Tôi vừa trình bày một phương pháp Thiền đi sâu vào chi tiết như là một cách tiếp cận gần nhất với thế giới siêu hình. Tuyệt đối không phải là cách để chỉ bày cho độc giả bắt chước, thực hành.
Theo trên, ta có thể hiểu được hai câu thơ kế tiếp của NHHM: Ta nhặt những Từ lang thang trong vô biên / Ánh sáng của nó / tất nhiên, sẽ dựng nên bài thơ mù lòa. Những Từ vô biên là Lục Tự Di Ðà hay một Mật Chú nào đó tùy theo pháp môn tu tập, nhưng vì NHHM nhặt lang thang không đúng pháp (hay là tu tập chưa đúng mức), thấy được ánh sáng nhưng vẫn bị mù lòa (vô minh) là chuyện tự nhiên trên con đường tu tập mà thôi (phải hiểu bài thơ chính là tác giả).
Thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh chỉ có một số câu trong tập Chất Trụ là có tính siêu hình. Ngoài ra thơ của ông bị rớt lại, lọt ra ngoài bức tường siêu hình. Một bài thơ của ông là sự pha trộn của nhiều thể loại: siêu hình, lãng mạn, hiện thực, ấn tượng… và những triết lý lẻ tẻ. Trong một bài phỏng vấn được đăng trên diễn đàn talawas, NHHM cho rằng ông dùng ngôn ngữ như là một đối tượng để sáng tạo thay vì là một phương cách để diễn đạt. Nếu hiểu một cách bình thường, ngôn ngữ là đối tượng sáng tạo thì chỉ là cách nói ngụy trang của phép tu từ. Ví dụ lấy chữ Hải Cảng làm đối tượng sáng tạo. Tôi viết: tôi đi chơi hải cảng, tôi nhìn hải cảng, tôi ăn hải cảng, tôi ngồi hải cảng… Cuối cùng, tôi chọn chữ “tôi ăn hải cảng”, nghe lạ tai và cứ thế bài thơ được làm ra.Ý và chữ xoắn với nhau. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa siêu hình thì ngôn ngữ là đối tượng của sáng tạo chính là những mật ngôn, mật chú, Lục Tự Di Ðà (ngôn ngữ của Thượng Ðế). Và những ngôn ngữ này mang tính vi diệu, linh thiêng, không phải là ngôn ngữ bình thường được nói năng, viết lách hằng ngày. Bởi vì các Từ này là đối tượng để tu tập, khai mở trí tuệ chuyển đến cho mọi người sự an lành và tốt đẹp cùng làm tan biến mọi điều ma chướng.
Trong bài Từ cây liễu lãng mạn đến cây liễu siêu hình, ông Phạm Công Huy viết: “Tôi rất muốn Nguyễn Hữu Hồng Minh và tất cả những nhà thơ trẻ bàn thêm về vấn đề này bởi theo tôi nghĩ đặt lại vai trò mới của ngôn ngữ và xác định, mở rộng thêm những địa hạt mới của thơ (siêu hình chẳng hạn) là hai bước sẽ mang lại một tinh thần mới cho thơ trẻ Việt Nam.” Ðây là một nhận định hoàn toàn sai lầm. Bởi vì thơ siêu hình không phải là một địa hạt của thơ. Muốn vào được thế giới siêu hình phải có một khả năng đặt biệt để tiếp xúc với thế giới tâm linh. Một thế giới tâm linh đầy huyền bí và linh thiêng. Ông PCH đọc bài thơ có những chữ như: bầu trời, ánh sáng, từ, vô tận vô biên, Thượng Ðế, chết, lòng đất, dự cảm… (có trong thơ của NHHM) thì cho đó là những bài thơ siêu hình, không có thêm một chữ để cắt nghĩa. Ðó là lối quyết đoán vô minh (nói theo Ðạo). Còn nếu đó là những bài thơ triết lý về siêu hình thì ông NHHM muốn triết lý gì? Những câu thơ này chăng: Có liên hệ bí mật nào giữa ngôi sao và bầu trời (Gương mặt ẩn chìm). Tôi vắng mặt ở hiện tại / Tôi được tìm thấy ở tương lai / Tôi không bao giờ nói sáng / Tôi luôn nhìn thấu rõ hơn / Có nghĩa cái tôi luôn có (Tôi sẽ được tìm thấy). Tôi không bao giờ biết rõ cái tôi xác quyết bởi chính điều này tôi đã xác quyết… Cố tình nói rõ cái tôi chưa rõ mặt tôi càng không rõ mặt điều tôi rốt cuộc muốn nói… (Tôi viết dòng cuối cùng trên những trang vô cùng). Có thể tìm gặp nhiều câu thơ theo một dạng như vậy trong tập Chất Trụ của ông. Những câu thơ chả có ý nghĩa gì đáng phải bàn. Ở trên, tôi đã phân tích một số câu của NHHM theo nhãn quan tâm linh, đó là cách nhìn thấy của tôi, không hẳn là ý của ông NHHM và nếu là vậy thì những câu thơ đó không có ý nghĩa gì cả, chỉ là những câu thơ vặn vẹo gây khó hiểu mà thôi. Còn nếu đúng thì ông NHHM sẽ trở thành một nhà Tiên Tri, một vị Thiền Sư theo chiều hướng nghiên cứu tâm linh của ông, không còn là một nhà thơ nữa (một người mang một quan niệm thẩm mỹ).
Bởi vì sự nghiên cứu về thế giới siêu hình đích thực phải được nhìn trên nhãn quan tâm linh thuộc về một phạm trù khác không còn là thế giới của các nhà thơ đang hiện hữu giữa cuộc đời này. Thơ Tâm linh là những bài Kệ, bài Kinh, những bài truyền Ðạo được rao giảng nhằm nói về, khai mở những điều thuộc về một thế giới gọi là siêu hình. Ðâu phải là chuyện của các nhà thơ, nói chi đến chuyện nghiên cứu siêu hình để mở một địa hạt mới của thơ như ông PCH kêu gọi. Là một lời kêu gọi nói lên sự hiểu biết rất hạn chế của tác giả. Tôi xin phân tích bài Dự cảm cây liễu
Trong bãi táp tháng Mười
tôi lắng nghe dự cảm của cây liễu
Bầu trời là vòm cung, thân cây là mũi cung
Sự hoang bạo của gió làm những mũi tên run lên
Như chuẩn bị bắn vào nỗi khát vọng chưa rõ mặt
Qua bình yên nắng tháng Hai
tôi không còn nghe chúng nói
Nhưng dưới thảm lá đã để lộ một cuộc sống
thật khó nhọc và bền bỉ
Tiếng rễ quẫy mạnh da thịt đất đai
Rách toạc mãnh liệt bí huyền
Khởi nguồn dự cảm trong xanh
Qua bài thơ này, ông Nguyễn Đăng Thường cho rằng đây là cây liễu của thơ cổ điển, ông Phạm Công Huy cho rằng đây là cây liễu siêu hình. Cây liễu như một hình ảnh lãng mạn được nói đến nhiều trong thi ca có thể rất nhiều người biết, nhưng cây liễu siêu hình thì ít ai biết. Ông PCH viết: “Với tôi, cây liễu của nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh là cây liễu siêu hình.’Je pense done je suis. Tôi tư duy là tôi tồn tại’. Ðây là một bài thơ tinh tế, nhà thơ giao mở giữa thiên nhiên.’Trong bão táp của tháng Mười, tôi lắng nghe dự cảm của cây liễu / Bầu trời là vòm cung, thân cây là mũi cung / Sự hoang bạo của gió làm những mũi tên run lên / Như chuẩn bị bắn vào nỗi khát vọng chưa rõ mặt’. Bài thơ này tiêu biểu nhất cho quan niệm bước đầu thơ Siêu hình của Nguyễn Hữu Hồng Minh. Chặng đường tiếp theo là những bí ẩn của tương lai đang chờ các nhà thơ giải mã.“
Trước hết xin sửa lại cho đúng: “Je pense donc je suis” , không phải là “Je pense done je suis” như ông PCH đã viết. Ðể cắt nghĩa cây liễu siêu hình, ông PCH đưa ra hai ý: Tôi tư duy là tôi tồn tại và nhà thơ giao mở giữa thiên nhiên. Ðọc một bài thơ như thế có cái gì để liên hệ đến tôi tư duy là tôi tồn tại? Và cho dù tôi tư duy là tôi tồn tại cũng không liên hệ gì đến siêu hình cả. Nếu như nói theo Albert Camus: “Je ne puis douter de mon cri et il me révolte donc nous sommes (L’homme révolté). [Tôi không thể nghi ngờ tiếng kêu của tôi và tôi phản kháng nghĩa là chúng ta cùng sống]. Trước sự phi lý của cái chết đưa đến tinh thần phản kháng là luận điểm căn bản nhất trong triết thuyết của Camus. Ông đứng trên ba quan điểm siêu hình, chính trị và văn hóa nhìn lại lịch sử của nhân loại để viết lịch sử của phản kháng 2. Nếu bài thơ này được ông PCH cắt nghĩa như là một phản kháng của ông NHHM trước số phận thì quá cũ có gì đâu mà ông PCH phải kêu gọi. Quí vị đang đi thụt lùi gần cả thế kỷ. Học lại những tư tưởng của tiền nhân nhưng cũng không biết học. Còn nói bài thơ giao mở giữa thiên nhiên, bấy nhiêu chữ để gọi là bài thơ siêu hình. Nếu ông đọc chữ bầu trời là vòm cung có vẻ siêu hình thì có lẽ chỉ có ông là siêu hình thôi. Nếu các chữ này có vẻ thiên nhiên làm ông siêu hình: bão táp, bầu trời, gió, cơn bão… thì có nhà thơ nào lại không nói đến ít nhất là một lần trong thơ của mình. Có ai tự nhận mình là nhà thơ siêu hình đâu. Có thể đọc một đoạn trong thơ của Thận Nhiên: “Chiều đó địa cầu có thêm một đại dương mới / Anh lặn xuống đáy nước xanh / Anh rủ em bơi ra xa ngắm nhìn / Những tia mặt trời còn đọng lóng lánh trên vãy lưng các loài cá lạ / Ở chỗ bập bềnh sóng, em hôn anh / Nụ hôn đỏ / Môi san hô / Tay em thắp lửa cho một cầu vồng phía cuối chân trời.” Bài thơ cũng giao mở giữa thiên nhiên, lại rất trữ tình, không phải là sự gán ghép mơ hồ như ông PCH nói về bài thơ Dự cảm cây liễu. Tại sao ông NHHM chọn cây liễu mà không là cây ổi, cây xoài, cây mít? Ðiều này ông NHHM hiểu rõ, chỉ vì cây liễu thân mềm, yếu đuối, hình ảnh lãng mạn tượng trưng cho phái yếu như ông NÐT đã nhận định. Dưới ẩn ngữ, cây liễu còn tượng trưng cho một dân tộc nhược tiểu. Và như thế ông NÐT có quyền của ông để phê phán bài thơ theo nhãn quan của ông. Ông PCH còn viết: “Bài thơ này tiêu biểu nhất cho quan niệm bước đầu thơ Siêu hình của Nguyễn Hữu Hồng Minh. Chặng đường tiếp theo là những bí ẩn của tương lai đang chờ các nhà thơ giải mã. Bài thơ này không phải là bài thơ siêu hình, chữ khát vọng trong câu thơ đã kéo bài thơ về hiện thực, bị lôi cuốn vào ý định của tác giả. Một ý định mập mờ (không rõ mặt). Nếu là cây liễu siêu hình thì cây liễu này phải tỏa ra, hướng đến hay nói khác là tác giả dự cảm cây liễu như một đối tượng tâm linh không phải dùng để bắn vào nỗi khát vọng. Ðối tượng tâm linh có thể hiểu là sự thanh tịnh, êm ả, lắng đọng trước những bão táp, dục vọng của đời sống và con người và từ cây liễu mở ra một hướng về siêu hình. Còn chặng đường tiếp theo mà ông PCH đề nghị là chặng đường của ông thầy bói xin miễn bàn.
Tóm lại, trong bài viết Từ cây liễu lãng mạn tới cây liễu siêu hình, ông Phạm Công Huy đã không dẫn giải được tính siêu hình ở trong thơ của Nguyễn Hữu Hồng Minh hoặc nêu bật triết thuyết (nếu có) về siêu hình của tác giả này. Ông chỉ cảm thấy thôi. Chỉ cảm thấy mà không phân tích không phải là cách để viết tham luận nói chi chuyện ông đòi tranh luận văn chương với ông Nguyễn Đăng Thường. Và ông NÐT sẽ rất mạnh mẽ phân tích bài thơ theo lập luận của ông, một lập luận có thể chứng minh được.
Cuối cùng, tôi muốn gửi một vài câu hỏi đến nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh:
- Tôi đã phân tích bài Những từ lang thang theo nhãn quan tâm linh như đã viết trong bài này. Nếu không đúng, xin NHHM cho biết ý kiến.
- Tôi cho rằng ngôn ngữ là đối tượng sáng tạo chỉ là cách nói ngụy trang của phép tu từ và cũng đã phân tích trong bài này. Nếu không đúng, xin NHHM cho biết ý kiến.
- Tôi cũng cho rằng bài Dự cảm cây liễu không phải là bài thơ siêu hình. Nếu không đúng, xin NHHM cho biết ý kiến.
Chú thích:
[1]
Chất Trụ, thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh – Nhà xuất bản Thuận Hóa – Huế (2002)
[2] Ðọc GS Bùi Xuân Bào:
Albert Camus: Từ Tri Thức Phi Lý đến Tình Liên Ðới Nhân Loại. Dòng Việt số 5 (1998).
© 2003 talawas