Chúng ta vừa sang năm mới dương lịch vài ngày. Còn mới quá, liệu có gì để mà nói? Ấy vậy mà lòng người xa quê thì lúc nào chẳng đăng đăng đê đê đủ mọi điều.
Chỉ nội cái gọi là năm mới thôi âu cũng đã là gượng ép. Mới me gì khi theo lịch của người ta. Thế nhưng sống ở nước người, hưởng từ món ăn nước uống, hít từ chút không khí trở đi, lâu rồi cũng chẳng mảy may còn nhớ nhung gì đến năm tây hay năm ta nữa.
Tết bây giờ mà vẫn nhớ những ngày xưa. Dù cái xưa ấy chưa quá 10 năm xa cách. Dạo ấy, lâu lâu chợt nhận được cái giấy báo nhận quà, lòng đã khấp khởi vui. Vui mà vẫn thấy hồi hộp. Hồi hộp vì phải cố vận dụng sự hiểu biết của mình để đoán xem ai gửi cho đây. Chưa ở đâu phải khổ như thế.
Cầm quyển sổ nhận hàng nước ngoài, là bắt đầu lo vay mượn chút tiền vào mãi tận Sài Gòn để lĩnh. Ngồi trên xe mà bụng đánh lô tô. Chỉ sợ đáp không trúng người gửi là coi như hàng không được lĩnh, còn nợ thì không biết lấy đâu mà trả người cho vay.
Lúc ấy tôi đã nghĩ chắc chỉ có ở Việt Nam người ta mới thích hành hạ nhau như vậy. Ai đời, bạn bè, thân thuộc một lần nào bỗng thấy thương người còn kẹt bên nhà, gửi cho chút quà, có hiểu đâu nỗi khổ tâm của người lĩnh. Người cho chẳng cần biết cái khó khăn của người lĩnh bên nhà, vả khi làm việc từ tâm còn ai muốn nói ra chi cho bớt ý nghĩa.
Vào nhận quà, hồi hồi hộp hộp chờ trông. Cứ thấy các ông bà hải quan từ từ, đủng đỉnh mà sốt cả ruột. Tới phiên, gói quà được đưa ra, cứ như anh thí sinh chờ câu vấn đáp của “thầy”. Thầy ung dung hỏi: Ai gửi, thân thuộc thế nào, bụng đánh lô tô. Xin cho con đáp trúng người gửi để nhận hàng trót lọt, kẻo “thầy” giở quẻ cất gói quà đi.
Qua cầu vấn đáp xong, lại chờ “thầy” giở quà ra kiểm. Thầy giở từng món bày ra bàn, rồi săm soi đưa từng món lên, chiếu tướng thẳng vào cặp mắt mình như thám tử nhìn người đang bị điều tra. Thầy cầm hộp kem, lọ thuốc, lắc lia lắc lịa, ý chừng xem người gửi có giấu nhét gì vào. Trong đầu lan man câu dặn: thầy mà khám có tờ xanh giấu bên trong là tiền vừa bị thu mà cả gói hàng cũng bị bỏ sang bên. Coi như kỳ nhận hàng đó trớt qướt hết.
May mà thầy chẳng thấy gì, nhưng gói quà vẫn cứ dùng dằng chờ đợi. Chẳng ai nhắc, người nhận quà cũng ngầm hiểu bổn phận mình. Không cần chờ ai ướm ý, nạn nhân đi nhận quà vẫn cứ phải cười thật tươi đề nghị anh/chị xem thích thứ gì xin biếu anh/chị ngay.
Luật lệ rõ ràng, không ai được mè nheo, khó dễ; người nhận hàng được khuyến cáo không được lo lót cho ai, song luật cứ là luật mà lệ thì dù bất thành văn vẫn có tác dụng như thường. Trăm người như một, ai nhận hàng cũng đều tự nguyện tặng lại người kiểm một món gì đó cho vui.
Thầy đi rồi, người nhận lo thu dọn các món vào thùng, vội vội vàng vàng tuồn mọi thứ vào cho nhanh mà rút. Còn đang lùng bùng chưa dọn dẹp xong đã thấy anh/chị cò săm soi đến hỏi mua món này, món nọ. Lạ là chốn cách ly hạn chế, người đi nhận hàng vào rất khó khăn mà các anh/chị cò thì nhởn nhơ tới lui như ở chính nhà mình.
Từ chối cách gì, các anh/chị cò cũng chưa tha cho. Lệt xệt kéo gói quà ra, mệt thở không xong. Lại khổ vì dăm anh xe ôm tới mời chào xin chở. Phải đánh vật một hồi để các anh giãn ra lấy lối kéo gói quà. Làm mà vẫn sợ vì loáng thoáng nghe dặn dò: coi chừng các anh giận mà làm cho hàng thất lạc, cũng có khi gặp kẻ gian chặn cướp dọc đường.
Thế đã hết đâu. Vừa về tới nhà, chưa kịp gọi người quen ra phụ đã thấy nhao nhao vài anh/chị ghé giúp tay chuyển giùm. Rồi qua khỏi cửa là đã nheo nhéo xin mua món này, món khác. Mệt ơi là mệt. Sáng vội ra đi cho kịp hẹn đúng giờ. Sợ trễ, mọi người được đưa vào khu cách ly xong là mình phải chờ phiên kế, hoặc qua ngày khác. Nên nào đã có chút gì vào bụng đâu. Bây giờ xong việc rồi, mới thấy bụng đói, miệng khát và chân tay mỏi nhừ, uể oải. Bụng thì réo la mà miệng chẳng muốn ăn. Còn nỗi lo chặng đường về tăm tắp. Mua được cái vé xe đò hay vé tầu cũng trần thây, chẳng ưu tiên, chẳng công vụ lệnh thì cứ lận đà, lận đận. Lên xe rồi mà bụng vẫn thấp thỏm lo, chỉ sợ tay lơ xe mò khoắng lấy gì trong đó. Ngồi tàu cũng vậy, chỉ nhỡ ngủ quên, kẻ gian khuân mất gói quà. Cứ ôm khư khư, chập chà chập chờn theo con tàu lắc lư, xình xịch.
Ôi, thân phận trăm ngàn lao đao, lận đận. Tàu Thống Nhất, tàu nhanh chỉ bán vé cho khách ưu tiên. Nhân dân trơn chỉ được mua vé tàu chợ hay tàu địa phương từng chặng. Mua cái vé tàu chợ tuy cà rịch cà tang còn thẳng đường đi tới dù là dài đến 12 đến 14 tiếng từ Sài Gòn đến Nha Trang. Nhỡ mua phải vé tàu địa phương, phải đổi sang tàu từng chặng ngắn, chỉ còn có nước vừa ì ạch sang xe, vừa ôm hàng mà khóc.
Chỉ đến khi về đến ga nhà, dẫu 3, 4 giờ sáng, thấy vợ con ra chờ phụ giúp mới thở hắt ra coi như nhiệm vụ hoàn thành. Ðưa nhau về vừa buồn buồn, vừa cũng thấy có ngấn lệ vui vui. Dù khuya khoắt, cả nhà cũng xúm nhau giở hàng ra ngắm. Dăm khúc vải các loại, vài lô xà phòng, bút bi, mấy chục lưỡi dao cạo râu, một hai chai Tylenol, ấy vậy mà coi như cả gia tài sống động. Nó sẽ cưu mang con người một thời gian ngắn hả hê.
Cảm động thương cho thân nhân hoặc bè bạn còn mến/nhớ đến mình. Nhưng tui tủi sao bị hành quá cỡ. Âu cũng còn an ủi phần nào vì lâu lâu còn được nhận quà cứu đói.
Dường như ở bên nhà, cứ chỗ nào có liên hệ đến người dân là y như người làm việc ở đó coi như mình là người gia ơn cho kẻ khác. Thế nên anh/chị nào cũng thấy mình quan trọng vô cùng. Dân là chủ, nhưng luôn bị hành toé khói. Ai nhẫn nhục ép mình thì khả dĩ còn qua, ai dở luật là có ngay lệ đè cho bẹp dí.
Cái tinh thần khệnh khạng này dường như đã trở thành cốt tính của dân mình. Dù sang đến đây, cái bệnh kinh niên ấy vẫn không chừa/bỏ được. Có đến vài cơ quan xã hội lo việc cho dân mình mới thấy các anh/cô cứ như đem của chính mình ra giúp thiên hạ. Có khi còn làm khó nhau hơn người ngoài.
«Thấy xuân này lại nhớ xuân xưa.» Mười năm qua, tôi không còn dịp được trải qua những giờ bị hành như ngày trước. Tuy vậy mỗi năm thấy quyển lịch mới treo tường là lại giật mình. Mười năm trời, nằm mơ vẫn còn sợ, tỉnh dậy rồi còn giật mình không rõ đang sống ở đâu?
Cho nên vẫn thấy nhớ dai, nhớ dài, nhớ mãi… Nhớ để mà thương. Biết bao giờ dân mới đỡ bị hành hạ cho đây?
© 2005 talawas